“Những đêm đông”-Tuỳ bút đầu tay 1944 của nhà văn quá cố xứ nẫu-Võ Phiến(Đắc Lang)

Võ Phiến

Võ Phiến(Đắc Lang) 1944

NHỮNG ĐÊM ĐÔNG

Ở Bình-định, ở cái nơi vừa là quê hương thân yêu của tôi, vừa là cố-quốc của người Chàm, nếu tôi đã được hưởng những giờ thú vị thì phải là những đêm đông.

Không phải tôi muốn nói ở đây những kỷ niệm của thời đã trưởng thành, thường hay rắc rối, hay những “cảnh gia đình đầm ấm”. Bắt đầu từ thời kỳ thanh niên của tôi, tôi không biết một ngày đông nào ở quê hương (có lẽ đấy cũng là một cái thiệt cho nơi chôn nhau cắt rốn: thiếu kỷ niệm một đứa con mà lòng tình cảm đang vào độ phong phú), và cảnh đầm ấm của gia đình tôi không phải tôi chỉ nhận thấy vào những đêm đông.

Ở đây chỉ có một ít cảm giác của một đứa bé vào những đêm mưa gió.

Đất quê hương của tôi rất hiền. Mùa đông không đến khó chịu lắm, mưa vừa phải mà lạnh chỉ hiu hiu, người xứ sở chưa từng biết nạn chết lụt và tiếng cò chỉ làm lo lắng được những người già cả.

Vào độ bé, tôi chỉ biết mùa đông cho tôi rất nhiều cá sa, và đang học ở huyện, chủ nhật, thứ năm nào tôi cũng về nhà. Suốt ngày hôm ấy là những trò chơi liên miên với nước ngoài đồng. Tối, tôi nghĩ đến buổi học hôm sau và không dám ngủ sớm, sợ đêm chóng qua. Tôi ráng sức xem thợ gặt đập lúa.

Tôi cũng không hiểu làm sao thợ gặt làng tôi lại để cái công việc dai dẳng ấy về đêm. Vào những buổi tối trời mưa lất phất, se se rét, bên cái cảnh mệt mề của một ngôi nhà mọi người đều ngủ, đứng đập đều đều từng bó lúa để chỉ nghe có tiếng ấy giữa đêm khuya, những người ấy thật đã phải khốn khổ, kiên nhẫn lắm mới làm được.

Để có chút ánh sáng cho thợ làm, và nhất là để thợ bớt buồn, bà tôi thắp một cái tọa-đăng dầu hỏa ở cái phản để gần chái. Tôi đã ngồi và nằm, thức và ngủ bên ngọn đèn ấy suốt đêm.

Trời lạnh, ngồi bên ngọn đèn mới ấm áp làm sao! Sao người ta lại bảo có những kẻ ăn mày già lẩn thẩn đến nỗi chết lạnh ở vệ đường? Khôn lên mà thắp một ngọn đèn để ngồi chơi đốt từng cái que như tôi thế này này thì có trời cũng không chết nữa là!

Chỉ tổ dại để rước lấy vạ vào thân.

Nhưng phù-du ở đâu bay đến nhiều thế này? Chúng tranh ngọn đèn, bay xán cả vào mặt tôi, rơi cả vào cổ áo tôi. Khó chịu lắm đấy nhé! Tôi xách từng cái đuôi, đưa con vật lên ngọn đèn để nghe đánh xèo một tiếng. Nhưng chúng nhiều quá, đốt không hết. Chúng bò lết bết trên chiếu, khó nhọc kéo cái đuôi dài. Chúng bay đến mỗi lúc mỗi nhiều, rơi lả tả, đè lên nhau, kín cả chiếu.- “

Một chốc nữa là chúng bay chết đến số triệu, ông lùa từng đống xác cao xuống đất xem có hoảng không? Cái giống gì mà lỡ sa xuống là bệt ngay ra đây không nhấc cánh lên nổi, yếu lạ thế? Nhưng… ơ này! Thế những con rơi trên đầu tôi cả trong cổ áo tôi cũng nằm cả đấy ư? hả trời! Thảo nào cổ nhột lạ.”

Tôi đưa tay ra sau gáy vét một nắm ươn ướt.

Thôi! thế này thì bất lợi! Tôi phải vào lấy một cái mền phủ cả đầu cổ mới mong yên thân.

Bà tôi, lù xù với bốn năm cái áo lót và vuông khăn quấn mang tai, rút cái tay thu trong mấy lần áo ra, phát yêu vào lưng tôi, nói: “Ngủ đi con ạ, mai còn phải dậy sớm. Trường người ta không bắt đầu học vào nửa buổi trưa đâu nhé !”

Tôi nằn nì, nũng nịu: “Con chơi tí nữa thôi ạ.”– Tí nữa mãi!

Không biết ngồi thế nó sướng nỗi gì mà thích lạ thế. Vào mà nằm ngủ có phải khỏe hơn không?

Vâng, nằm ngủ nó có khỏe hơn thật nhưng bà ạ, con còn thèm cái đêm ở nhà này quá, con không nỡ ngủ đâu. Chỉ một đêm nay nữa rồi mai con đã… cất bước ra đi! Sớm mai đây con sẽ phải đọc và phải nghe một bài sử-ký. Bà không biết chứ cái giống sử-ký nó buồn hơn nhai cốm dai đấy bà ạ.

Chơi với phù-du đã chán rồi, tôi nằm nghe hai người đập lúa kể cho nhau nghe những chuyện làm ăn.

Nghe buồn buồn, tôi muốn ngủ. Trong lúc thiu thiu, nhớ đến vợ chồng người chủ đậu ở huyện lỵ: thật là một cặp người đặc biệt.

Người vợ vốn là chỗ cố giao của bà tôi thành ra khi định tìm cho tôi cái chỗ nương thân ở quê người, bà tôi chẳng ngần ngại gì mà là không đem gởi ngay thằng cháu cho người đàn bà ấy.

Ngay cái khi bước chân khỏi ngưỡng cửa để vào trong nhà ấy tôi đã thấy một cái buồn trễ nải, lôi thôi, ê ẩm cả người. Đấy là một cái “nhà tranh vách đất”, lẹp tẹp, vừa là một ngôi hàng vừa không thể gọi là một ngôi hàng. Giữa con đường chính của phố, trông những thứ mẫu nhà ấy nó khó chịu như thấy một con ruồi đậu trong đĩa đồ ăn ngon.

Nhà thấp, ở trước một cái cửa sổ có cái nhà tiêu điều, trên đó bày ít thứ hàng vặt vãnh năm bảy ngày mới có người mua vài xu. Từ trên mái treo thả xuống một chùm bồ kết, một ngọn giấy quyến v.v… Những thứ ấy dàn mà không thiết bán, lâu ngày chỉ có cái địa-vị là làm cho ngôi nhà thêm buồn, có vẻ lười lười, háy-hất thế nào!

Lập ra ngồi hàng và giữ mãi ngôi hàng ấy là sáng kiến của người vợ. Những kẻ có giao du với bà ta đều nhận rằng cái ý ấy cũng nói ít nhiều về tính tình của người nghĩ ra. Về phần người chồng thì quả đáng là chủ nhân ngôi nhà ấy. Cái tội gây ra cái không-khí khó chịu này ở trong nhà, tôi nhất định qui cả vào ông ta.

Tôi đố ông cãi được! Cái con người gì chưa có lấy một sợi râu nơi cằm mà đã muốn kết cấu đời mình bằng một cuộc sống giật lùi lại thế? Nghe ông ta nói chuyện, ta cứ nghĩ ngợi không biết ông ta đã rơi từ một giòng quí-tộc nào xuống địa vị ngày nay và sau này rồi con người khốn nạn ấy còn trụt xuống bao nhiêu nữa! Từ cái lời nói cho đến những tác phẩm của ông ta ở trong nhà đồng nhau tiếc nhớ một cái dĩ-vãng không biết rực rỡ đến ngần nào.

Tôi đã từng ngắm nghía ngôi bàn thờ của ông ta để mà kinh hoảng mãi cái tài ông ta. Từ trước đến nay ông vẫn là người sùng bái nhưng sao lại chỉ xưa kia ông mới trang hoàng được ngôi bàn thờ này? Điều ấy đáng để cho mọi người suy nghī.

Chỉ trên chiếc bàn ấy của cái nhà lẹp tẹp cũng có đến bạc trăm. Một trăm thứ tượng, ôi thôi! vô số tượng và đều là những hạng nhất, đắt tiền cả đấy. Còn cái nhà thờ bằng giấy bìa này nữa – bao nhiêu công phu, bao nhiêu thì giờ. Chỉ chịu khó ngồi mà ngắm những cái bóng đèn “bin” gắn mỹ thuật đến bậc nào ở các gác, ta cũng đã phục chết được rồi.

Ấy thế mà ngày nay ông ta đã bỏ tất cả cho bụi phủ và đã rủ xuống một bức sáo để che cả lại, kẻ vô ra nhà ông ta không ai thấy nữa. Ý chừng muốn bảo đây là một màn đā hạ.

Ừ, thì là một màn đã hạ, ta cũng cam tâm chịu thiệt không biết gì về chuyện trước nữa. Nhưng sao ông la lại thích gợi nó lại lắm thế, gợi từng hồi ngắn, từng cảnh ngắn. Ta nghe thấy hay mà tiếc ngẩn tiếc ngơ! Vào giữa bữa cơm – chỉ vào giữa các bữa cơm mới lắm chuyện – ông ta gắp một lá sà-lát trộn giấm lên mà bảo: “Trông thấy cái lá ‘sà-lát’ năm nay mà phát chán, cái hồi ta mới khai khoảnh đất sau nhà này lần đầu, sà-lát mỗi lá to đồng bàn tay xòe.”

Người vợ, cả ngày ăn từng cơi trầu đầy để trông ngôi hàng vắng, buồn miệng họa theo năm ba câu. Rồi từ chuyện mùa rau đến chuyện mùa nắng, mùa mưa. Người chồng chìa cái vạt áo bành-tô ra bảo: “Cái áo này mỏng quá, năm nay rồi e đi câu ếch đêm không chịu nổi lạnh. Uổng quá, cái lão tây đồn ấy cho mình những năm cái áo xẹt, chẳng biết dần dà rồi nó đi ngả nào mất cả. Ấy, hồi có thì nó thế.”

Ấy là một điều lạ. Những năm cái áo xẹt mà dần dà nó cũng đi đâu mất cả. Thời ấy, nhà ông chủ đậu tôi hẳn không lẹp tẹp thế này!

Cái quá khứ cứ ngày càng nhắc đến càng thấy lui đi rất xa. Nhưng nó cũng giúp cho tôi một mớ chuyện rất hay. Lại được cái ông chủ đậu ấy nói hay dẫn chứng. Có lần ông ấy cho xem một cái quà của ông chủ sở bưu-điện cho, cố nhiên vẫn năm xưa, một con bướm giấy mà hễ gác được cái đầu lên vật gì là toàn thân có thể nổi trong không, chẳng rớt. Ông ta cất đi, tôi ốm tương tư con bướm ấy mấy ngày.

Nhưng có điều này rất quái, là con người thế mà lại hoạt động. Trái với đấng phu-nhân thích nhàn, treo mình trên võng suốt ngày cho cái thân liễu của thủa bé cứ hóa lần ra cái thân… bồ, chủ-nhân ông, người bé nhỏ mãn kiếp, trừ những phút mơ màng về quá khứ, còn thì làm việc không ngừng tay, làm hết những đại sự đến những sự tủn mủn như quét bàn, lau ghế…

Thật là những người đặc biệt…

Tôi biết câu kết hơi vội vàng gấp rút, nhung mi mắt đã nặng quá đi rồi.

Tôi thiếp đi một lúc.

Giấc ngủ có lẽ không nặng nề lắm vì một luồng gió thổi hơi lạnh, mép chiếu đập khe-khẽ xuống phản đôi cái đã đánh thức tôi dậy.

Đêm như khá khuya. “Ta đã đi tận vào lòng cái đêm này đấy nhé! Thôi không vào nhà nữa, nằm đây mà xem có những gì.”

Kể thì lòng cái đêm này cũng không có gì lạ. Mưa vẫn rơi đều-đều trên các đống lúa bó ở sân. Cái thứ mưa lún-phún như mưa xuân này thật là thứ mưa dài hạn. Nước cứ rơi liên-miên rơi không ngừng – và cái tiếng rào-rào nho nhỏ nghe mãi buồn lạ thường!

Lối mưa bất phân thời khắc ấy không những chỉ giầy vò lòng người bằng thời-gian mà bằng cả không-gian nữa. Lòng cứ dài dằng-dặc mơ đến từng cảnh dặm trường. Lại cái lối “tương-tư hướng lạc phương mờ” nó khiến người vơ-vẩn, khó chịu quá.

Trong cái chậu rửa chén ban chiều còn để ở góc sân, cứ mỗi lúc người đập lúa ngừng tay, lại nghe bỏ thõng xuống một giọt nước. Cái giọt lậu canh tàn này mới lạ. Tôi có phải là một bậc cố lão đâu mà nó cũng thức dậy trong lòng những kỷ-niệm buồn day-dứt thế này?

Nghe mãi thứ mưa ấy và những giọt nước ấy, lòng đến ướt-át mất đi thôi!

Người đầy tớ già nếu chưa cho về dưỡng lão thế nào hôm nay cũng thức mà ho sù sụ suốt đêm.

Nhưng tôi thì tôi lại buồn ngủ quá rồi. Tôi gục đầu xuống chiếu, hai tay che hai bên mặt. Mấy con cánh xanh bu bên đèn vẫn còn bay chạm mãi vào má tôi. Ừ, mà như có cả một con cào-cào mới đến nữa, tiếng cánh cứ lè xè bên tai.

Cuối cùng những thứ ấy không làm gì nổi, giấc ngủ vẫn đến ngon lành.

Nhưng giữa lúc tôi đang an giấc điệp thì cái gì thế này? Ai lại cãi om lên thế? Trời! đêm khuya.

Tôi mở mắt ra: – “A, ra cái mụ Lấn xin thêm lúa công. Thế mà cũng ầm ĩ cả lên. Con mẹ đã nổi tiếng lắm lời và dai dẳng nhất làng.”

Nhưng bà tôi dậy từ bao giờ mà mắt còn mệt nhọc, áo khăn lệch-lạc nhường ấy? Ra đêm nay người không có một giấc ngủ nên thân, cứ mỗi lúc lại có một người thợ gọi dậy để đong lúa. Thế mà cái mụ này còn tru-tréo lên. Rõ đồ vô-lương-tâm, vô liêm sỉ (!).

Tôi lại đặt đầu vào khoảng giữa hai cánh tay, nhắm mắt lại.

Có tiếng một con mèo gào ở đàng sau nhà.-

“Cái giống mãn cái này nó gào ban đêm nghe một mình ghê lắm, thím ạ. Tính thằng bé nhà tôi mới biết lật mà mỗi lần nghe đến nó cũng khóc ré lên đấy.”

Lại mụ Lấn. Vừa la xong lại nói chuyện, tiếng chát, nhức cả tai.

Con mẹ này xưa nay vẫn đứng vào một hàng riêng trong xã hội, quan trọng thì chẳng biết có không, chứ đặc biệt thì là tối đặc biệt. Hạng mẹ Lấn đang đòi một pho chính-truyện mà hình như chưa ai viết nổi.

Một mình mụ phải đai trên lưng những năm đứa con và một đức phu-quân. Vì thế cái lưng con người không cao hơn thước tư ấy đáng lẽ gập xuống lại phải bẻ ngửa ra đàng sau để cưỡng lại với sức nặng. Đầu mụ thì công việc bắt phải cúi xuống luôn. Trông mụ Lấn, nhiều lúc tôi đã nghĩ đến hình dạng của dải bờ bể cái bán đảo Đông dương.

Mụ mà làm việc thì không kể đến gì nữa, không kể đến cái vòng lăn của địa cầu, đến một hành trình của hai vừng nhật nguyệt. Đừng có ai nói với mụ bây giờ là ngày hay đêm, đầu năm hay cuối tháng mà mụ mắng cho.

Cơ-thể con người ấy lại bất chấp cả những thời tiết thay nóng đổi lạnh của trời đất – trái với anh chồng có thể đem làm một cái phong-vũ-biểu. Ngay giữa tháng mười người ta vẫn thấy mụ dầm mình cả ngày ngoài đồng với đàn cò. Tài bắt cua của mụ thì các người đàn bà nghèo đảm-đang ở tổng này đều đã ký cả hai tay tôn “nhất tổng chi hùng” rồi đấy. Nếu sau này cái giống cua vốn ít ở vùng tôi mà có tuyệt đi thì cũng là chỉ tại con người kham khổ ấy.

Mụ làm việc thì quả nhanh và giỏi nhưng phải cái mụ tham-lam cũng chẳng thua ai. Đêm mai, nếu mụ còn lúa đập thì bà tôi vẫn còn khổ công mắng nhiếc về cái tánh ấy nữa.

– “Úi chào! Con người!”

Tôi lại ngủ.

Ở nhà đậu nơi huyện lị tôi có một chiếc giường, vạt gãy một khoảnh đồng cái nón. Những đêm mưa thế này tôi thu nửa người vào cái lỗ trũng ấy. Thế mà giấc cô miên đỡ thấy lạnh lùng! Những trận mưa đêm không gián-đoạn này xui người ta gập đôi lại nhìn vô lòng. Đã có trải qua những giờ trầm tư dài như thế rồi ta mới biết rằng nó không tốt gì đâu, cái lòng con người! Chả lẽ những ngày đã sống ta lại đành lòng mà quên phắt cả đi, chứ những dấu vết còn vương lại lòng và mệnh cái danh là kỷ niệm ấy, cứ mỗi lần đến óc là ta thấy bồi hồi, già đi nửa kiếp người.

Một tiếng cựa mình, một tiếng giường kêu, gồm cả nỗi quạnh hiu trằn trọc của một tấm lòng bị kỷ niệm dày vò.

Vào những đêm đông hiu hắt bất tận này, nghe được ta hãy để con tâm nao nao một chút mà chia nửa lòng buồn. Đừng ai bảo trẻ con chưa biết cái dày vò của một cảm-sự. Họa chăng đấy là những đứa trẻ cục-mịch mà sau này nếu có sống đến lúc mái đầu pha sương cũng không biết được một nỗi lòng uẩn khúc. Trẻ con vẫn có thể khổ về một đêm đông lắm. Chúng có những ý nghĩ ngây-thơ và cả những kỷ niệm ngây thơ, “trẻ con”, nhưng đừng tưởng một khi gợi lại, nó không rung động tâm-can mà lầm, nhá!

Những dày vò ấy không cần đợi đến những đêm lữ-thứ. Ở ngay dưới mái gia đình, nằm ngay bên ngọn đèn tọa đăng có thể hồi sinh được, những kẻ ăn mày già chết lạnh, những khi mơ màng và mơ mộng giữa hai giấc ngủ, người ta vẫn khổ về một tâm tư.

Mưa ngoài trời cứ âm ỉ kéo dài mãi làm cho mỗi lúc người ta một thấy rõ hơn cái mệt-nhọc, trầm-trệ, biếng nhác của một mùa bệnh tật. Tiếng động xung quanh có luôn luôn, nhưng không một tiếng nào nổi lên, chúng cứ hòa với nhau, mất vào nhau; tiếng mưa, tiếng gió, tiếng tre cọ nhau, tiếng nước giọt cùng một nhịp, đều, buồn.

Một trái dừa già, mỏi, vừa rụng sau vườn: không hơn một nắm tay đấm xuống nệm.

Giá trong cái giờ chìm chìm này mà có đứa trẻ học ỉ-ẻo bên hàng xóm với một ngọn đèn leo lét nhỉ?

Những đêm này vào ngày xưa hẳn có nhiều nến chảy trên án-thư lắm đây. Những lòng già làm sao chống được với trằn-trọc. Thảo nào ông cụ nhà bên, chiều hôm qua lúc ngồi tính tuổi mình và tuổi trời, bỗng gọi thằng nhỏ bảo đi mua gấp mấy bánh thuốc lào để dự về đêm…

Sau năm sáu giấc ngủ và năm sáu lần thức giấc, tôi đã qua hết cái đêm ấy.

Mừng chăng? Không! tôi chỉ tiếc thôi. Cái sợ học lúc nào cũng mạnh. Chính ngay đêm qua, tôi còn muốn cho cái đêm dài thêm lên, nói gì sáng nay, khi tôi đã qua khỏi những nỗi dằn vặt của đêm, những nỗi dằn vặt ngay sáng ấy tôi đã quên cái khổ của người chịu và mỗi ngày thấy nó mỗi “hiểu” mỗi đẹp lên. Cuối cùng, bây giờ thì tôi cho những đêm vừa lo-lắng, vừa bồi hồi đó là những đêm thú vị.

ĐẮC-LANG-Võ Phiến (Trung Bắc Chủ Nhật ngày 19-3-1944)

30307 Comments2 SharesLikeCommentShare

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.