“Hồn xưa tiếng xưa”-Hoài Nam Trần Thị Lai Hồng viết về nhà văn quá cố Thanh Nam(phu quân của nhà văn Tuý Hồng vừa ra đi)

Trần thị LaiHồng

HỒN XƯA TIẾNG XƯA

Thuở sinh thời, anh Thanh Nam từng đốt lò hương cũ nhắc lại những tài danh vang bóng một thời, nay tôi cũng xin mượn đề mục Hồn Xưa Tiếng Xưa do anh phụ trách trên báo Đất Mới, để tưởng niệm chính anh, người đã sống trọn vẹn cho bạn bè và văn học nghệ thuật.

Qua một số tác phẩm, qua suốt thời gian mười hai năm cùng làm việc tại Đài Phát thanh Tiếng Nói Việt Nam Cộng Hoà – anh Thanh Nam trong Ban Tao Đàn với thơ nhạc, tôi trong ban tin tức– cho đến Tháng Tư năm 1975 di tản ra đảo Phú Quốc, được bốc sang tàu lớn lênh đênh suốt tuần trên Thái Bình dương, rồi vào nước Mỹ tạm trú cùng trại tỵ nạn Indiantown Gap tiểu bang Pennsylvania, tôi chỉ biết, không làm quen bắt quàng.

Tôi chỉ quen anh Thanh Nam và chị Túy Hồng nhiều kể từ năm 81 cùng làm việc tại Toà Soạn báo Đất Mới – tờ báo đầu tiên của người tỵ nạn tại Seattle, mệnh danh là đô thị ngọc bích emerald – tiểu bang Washington. Tờ báo được Chương trình Tỵ Nạn tiểu bang tài trợ, do Huy Quang Vũ Đức Vinh chủ nhiệm, anh Nguyễn Văn Giang trị sự, anh Thanh Nam Chủ bút, và tôi Tổng Thư ký thay thế anh Mai Thảo vừa rời Đất Mới sau hai năm cộng tác để về Quận Cam tục bản tờ Văn.

Anh Thanh Nam phụ trách các mục văn học nghệ thuật, chị Tuý Hồng chỉ đưa bài, mục Đất Mới Đời Mới Người Vẫn Cũ, truyện dài Sạn Đạo, và Tay Che Thời Tiết, không mấy khi đến toà báo. Anh Vũ Đức Vinh mục Người Trung Niên, và giải đáp thắc mắc liên quan đến chương trình tỵ nạn, vấn đề tạm trú, định cư …anh Phạm Xuân Vinh phần tiếng Anh. Ngoài ra, còn có sự hợp tác của anh Nguyên Phong và bỉnh bút Nguyễn văn Nha. Tôi giữ phần tin tức, đi dự các buổi họp liên hệ người tỵ nạn, viết tường thuật, đi phỏng vấn, viết phóng sự. Riêng anh Nguyễn văn Giang chăm lo trình bày hình thức, trải bài, giao dịch, in ấn, và phát hành.

Hồi đó, tức là cuối thập niên 70 đầu 80, chưa có computer, Đất Mới dùng máy điện tử IBM có quả cầu chữ không dấu, phải bỏ dấu bằng bút micron rất nhỏ nét, và bài cuả ai người đó trách nhiệm đánh máy.

Những trang văn học nghệ thuật do Thanh Namphụ trách có mục Hồn Xưa Tiếng XưaSinh hoạt Văn Nghệ, Góp Vần Họa Điệu, Làng Say Xướng Họa, Chuyện Quanh Bàn Nhậu…điểm sách, giới thiệu băng nhạc băng hình. Anh ký nhiều tên khác nhau : Việt Trần – đổi ngược họ tên cha mẹ đặt – Viễn Khách, Tiểu Lưu Linh, Đồ Say .

Trong lúc chúng tôi làm việc, thỉnh thoảng có anh chị em văn nghệ sĩ địa phương hoặc những bạn yêu văn chương chữ nghĩa đến thăm, trong số có cô Lê Thu Hương, các anh Xuân Hiến, Quốc Lâm, Đoàn Châu Mậu, Đỗ Thành Nhơn, Lê Chí Thành, Nguyễn Thượng Tiến, Phạm Tấn Quý, Hoàng Ngọc Minh tức Minh Gô, Lê Ngọc Hồ, Lý Quốc Ngọc … Họ thường trò chuyện ở phòng ngoài và chỉ tạt qua chào chúng tôi. Chỉ có anh Nguyên Phong và vài thân hữu vào phòng trong. Riêng anh Nguyên Phong thì chúng tôi luôn luôn thú vị, vì Nguyên Phong vui chuyện có thể thao thao thảo luận nhiều đề tài, kể từ kiếm hiệp đến trinh thám, từ thơ văn Việt Nam qua sách báo thế giới, phải nói là của kho vô tận.

Điểm đặc biệt tương đồng giữa anh Thanh Nam và anh Nguyên Phong, là cả hai thích làm những món ăn đặc biệt. Nguyên Phong sở trường bouillabaisse, còn anh Thanh Nam thì hầu hết là các món ăn quê hương mà tôi sẽ kể ở phần sau.

Thơ văn Thanh Nam đã có nhiều người nhắc nhở. Tác phẩm cuả anh có khoảng ba mươi truyện ngắn chuyện dài, một hồi ký viết văn làm báo đăng dang dở trên tờ Văn, chưa kể viết nhật ký hiện chị Túy Hồng còn ôm ấp gìn giữ.

Trong một bài tưởng niệm trên Văn Học, chị Túy Hồng đã viết : “Thanh Nam và tôi, đời chúng tôi không biết đã viết được bao nhiêu truyện dài, nhưng mối tình của chúng tôi, đó là truyện dài hay nhất.” Mọi người hẳn đều mong mỏi tập truyện dài này sớm hoàn thành.

Trong khi chờ đơị, riêng tôi thích Gã Kéo Màn, vì cho rằng người kéo màn tuy đứng sau hậu trường lại là người nhìn thấy trọn hai mặt ánh đèn sân khấu, không những theo dõi tài tử diễn tuồng mà còn quan sát ghi nhận phản ứng khán giả, và là người có thể nói là đầy đủ thẩm quyền xác định giá trị buổi trình diễn. Tôi thích truyện ngắn Buồn Ga Nhỏ, ví như cuộc đời của chính tác giả, từ một ga nhỏ nhìn những chuyến tàu mang hạnh phúc buồn như những toa đen đi qua, để lại những kỷ niệm buồn nho nhỏ, nhẹ nhàng.

người xếp ga với ngọn đèn cô độc

ngó hững hờ ngọn đèn đỏ trên tay

tàu qua rồi lâu lắm vẫn chưa hay

(Buồn Ga Nhỏ, thơ Thanh Nam, chưa hề in)

Truyện này đăng lần đầu tiên trong tờ Hiện Đại của các anh Nguyên Sa và Thái Thủy vào năm 1960 ở Sàigon và sau đó, năm 1962, được xuất bản thành sách cùng nhiều truyện ngắn khác với nhan đề Buồn Ga Nhỏ, hai năm sau tái bản lần thứ nhất tại Saigòn, và lần thứ hai ngay tại Seattle, năm 1983.

Anh Thanh Nam còn đặt lời một số bản nhạc của thân hữu như Hoàng Trọng, Ngọc Bích, Nguyễn Hiền …Tôi viết đoạn này trong lúc nghe Mai Hương hát Đẹp Giấc Mơ Hoa củavua tango Hoàng Trọng, một trong nhiều bản nhạc do Thanh Nam đặt lời. Mai Hương là người được anh yêu mến nhất không những vì giọng hát cao sang thánh thót dịu tình mà còn vì tính nết thuần hậu. Anh có làm một bài thơ về Mai Hương, chị Tuý Hồng còn lưu giữ.

Những truyện của Thanh Nam phần nhiều là chuyện kể, ghi những cảm nghĩ chân thật mà thấm đậm, đơn sơ mà sâu sắc, trải rộng những ý tưởng giản dị mà thuần hậu. Rất thuần hậu. Thuần hậu như tính riêng của anh mà bất cứ ai quen biết thân sơ đều quý mến.

Nhưng chân thật nhất, sâu sắc nhất, thuần hậu nhất, là tập thơ Đất Khách. Chỉ một Đất Khách đã thực sự giá trị để đời. Chỉ xót xa đau đớn ngậm ngùi, không hằn học, không thù hận. Chỉ mười sáu bài, không ai sánh kịp. “Thơ hay không cần phải làm nhiều,” như Hoài Thanh Hoài Chân viết trong Thi Nhân Việt Nam khi nói về thơ. Như Giả Đảo đời Đường bên Tàu, ba năm chỉ hai câu, ngâm lên là rớt nước mắt, mà cả nghìn sau còn thấm đậm : nhị cú tam niên đắc/ nhất ngâm song lệ thùy!

Tại tòa báo Đất Mới, cõi viết cuả anh Thanh Nam phía bên phải tôi, quay lưng ra cửa sổ. Một giỏ hoa tím hồng cành lá tím lục buông dài bên cửa sổ cạnh chỗ tôi ngồi. Viết đến đây tôi hình dung ngay một Thanh Nam tay phải cầm bút hí hoáy trên giấy, tay trái kẹp điếu Pall Mall khói lam vờn nhẹ, cạnh đó là lon bia Hamms màu xanh có những giọt lạnh long lanh đọng ngoài. Khi thấy khói thuốc vờn nhanh, mặt anh đỏ lựng, người rung tít, tôi biết là anh đang đà cao hứng thú vị.

Anh ít nói, và khi nói thì dồn dập rất nhanh như muốn dành lời. Về sau này, tôi có nhận xét với Túy Hồng, rằng dồn dập dành lời phát từ tiềm thức anh báo trước có ngày sẽ mất tiếng nói. Chị cũng nhớ lại một biến cố nhỏ lúc mới tạm trú trại tỵ nạn “ bóc một trái cam ăn, bỗng nhiên anh nghe buốt xót một bên cổ. Sáu năm sau, chỗ đau ấy là thảm kịch mất tiếng nói bây giờ.”

Trong nhiều dịp chuyện trò sau này, và trong bài Đến Khi Mất Tiếng Nói đăng trên Văn Học số tưởng niệm Thanh Nam nhân giỗ đầu, chị Túy Hồng nhắc lời anh từng nói “giữ lòng trung thành với em từ sau ngày cưới” , và chị trân trọng xác nhận“tôi yêu Thanh Nam hơn hết những người tôi yêu.”

Về hạnh phúc, Túy Hồng cho biết “ Hạnh phúc, tôi hơi thiếu một tí. Một tí, vì Thanh Nam không ăn được món Huế.” Anh bảo : “ Huế nấu nướng, Bắc ăn không được!” Anh chê món bún bò Huế là …tục, cơm hến rắc rối nhiêu khê, bánh khoái rườm rà,bánh bèo bánh lá lạnh miệng.

Anh là người sành ăn kén ăn, thích ăn ngon nấu đúng điệu. Muốn ăn phải lăn vào bếp, nên thường đích thân làm những món thích khẩu để tự thưởng thức và chia sẻ. Bất cứ lúc nào đến thăm cũng đều được ăn, có khi là món cua biển đắt tiền, món dồi tràng khó kiếm (hồi đó) , mà có khi chỉ là bì đậu chấm tương hoặc …mì gói mì ly chế nước sôi. Của trân quý hay tầm thường đều được anh soạn sửa tỷ mỷ và thưởng thức thú vị với thói quen chép mệng chanh chách chen lẫn “Bon ! Bon !” trong lúc cả hai đùi rung tít cộng hưởng.

Món đơn giản nhất mà ai cũng thích là đậu rán. Bì đậu cắt miếng vuông vừa miệng, dùng giấy bản thấm ráo nước trước khi cho vào chảo dầu đun thật nóng. Tương phải là hiệu Cự Đà nêm nếm lại cho vừa khẩu vị. Bì đậu rán phải vàng đều và nở phồng, cắn ngoài dòn mà trong mềm, vị đậu bùi béo quyện tương ngậy mùi kích thích vị giác cùng cực, nên lắm khi anh mải mê rán, xong miếng nào vớt ra dĩa cho ráo, ngoảnh lại chỉ còn trơ …hai mảnh !

Sau khi anh Thanh Nam mất, mỗi dịp tôi qua Quận Cam ghé thăm, anh Mai Thảo biết ý, lại đưa ra Viễn Đông ăn đậu rán chấm mắm tôm pha, kèm rau muống chẻ và rau kinh giới. Anh chỉ uống rượu nhìn tôi ăn, nhưng tôi biết là anh đang nhớ tới anh Thanh Nam người bạn chí thiết từ thuở còn ngoài Hà Nội, mà anh là người xe duyên cho đôi Thanh Nam Túy Hồng.

Thường chúng tôi hay họp mặt sau khi báo in xong, tại nhà Thanh Nam Túy Hồng, hoặc luân lưu một nhà bạn khác. Đám nữ lưu chúng tôi học ở anh nhiều món ăn thần sầu : nộm rau muống, chả cá Thăng Long hay Lã Vọng, cá thu kho riềng nước chè, ốc giả ba-ba, giò heo giả cầy, cua rang muối, cá om thìa là, canh chua cá giấm, canh bún cá rô, cá chép chiên dòn, các món bún ốc bún riêu bún thang dưa góp dưa hành…v.v. và v.v. …Riêng món phở thì dù có học và thực tập cách mấy cũng không tài nào theo kịp thầy !

Tôi rất nghịch ngợm, đặt tên lại những món đó tùy số vật liệu và gia vị cần dùng để dễ nhớ: nộm Thất Tình, chả cá Thập Tứ Nữ Anh Hào, cá thukho Ngũ Long Công Chuá, ốc Thập Nhị Sứ Quân, giò heogiả cầy Bát Tiên, cua rangMười Thương, bún ốc Bát Bửu Tứ Qúy, dưa hành Lục Dục…Lỡ có ai thắc mắc những tên quái dị đó thì tôi được dịp ngoan cố, ví dụ món nộm ThấtTình ( ái, ố,hỉ, nộ, ai, cụ,dục) thì rau muống ai cũng thích nếu bỏ g sẽ là muốn (ái), kinh giới liên hệ kinh sợ (cụ), tép tươi vào chảo mỡ trở màu hồng vui (hỉ), da heo (dục), mắm tôm đi đôi với gắt gỏng giận hờn (nộ), mè đi với mè nheo dễ ghét (ố), chanh chua vào mắt là khóc (ai) …Món nộm Thất Tình này, theo anh Mai Thảo, đã được cái bang văn nghệ ghi vào sổ vàng ẩm thực từ ngày còn ở quê nhà.

Món phở Thanh Nam rất đặc biệt. Phải thấy anh trước bếp hồng săn sóc nồi nước dùng thật trong thật thơm, trụng bánh vừa mềm vừa dai, trần thịt đủ tươi đủ chín, trong lúc Tuý Hồng thái hành ngò nhuyễn mịn, bày húng quế ngò gai giá trụng, đích thân đãi bạn, thì mới thâùy rõ tâm tình của hai người đối với bạn bè.

Anh mơ ước mở Quán Nghệ sĩ, chuyên bán phở và một số thức ăn thuần túy, có phòng đọc sách báo và nghe nhạc Việt, cuối tuần có thêm các món nhậu lai rai, và thỉnh thoảng sinh hoạt văn nghệ. Ý muốn cung cấp những món ăn tinh thần lẫn thực chất, tạo cơ hội mọi người gần gũi, nhất là giới trẻ có dịp biết những nét đẹp hương vị quê hương.

Chưa có Quán Nghệ sĩ, chúng tôi vẫn thường đến với nhau, ôn lại những kỷ niệm cũ, nhắc lại những bài thơ, những bản nhạc, những vở kịch ngày trước mà anh là người biết và nhớ nhiều. Chúng tôi cũng bàn về sinh hoạt cộng đồng, chương trình văn nghệ, và có khi buổi họp mặt trở thành một màn văn nghệ bỏ túi bất ngờ đầy hào hứng. Thanh Nam kể chuyện tếu, ngâm thơ, những đoạn trong vở kịch Ông Lái Đò, và Trấn Thủ Lưu Đồn. Anh thích nhạc, sành nhiều bản nhưng ít hát. Có một hôm nghe tôi ư ử bản Trào Lòng của Hữu Châu và than phiền quên mấy đoạn, anh bèn hát tiếp và cho biết từng trình diễn hoạt cảnh Tiểu Lưu Linh đó trên sân khấu Nhà Hát Lớn ở Hà Nội. Tôi rất thích bài Trào Lòng, và về sau khi anh bệnh nặng, tôi tiếp tay mấy kỳ Chuyện Quanh Bàn Nhậu trên Đất Mới, cao hứng ký tên là Thất Tửu Muội để nhớ về Tiểu Lưu Linh.

Về sức khoẻ, thường ngày anh Thanh Namvẫn ghiền thuốc lá và uống bia. Từ bàn nhìn qua, tôi luôn luôn thấy anh nhả khói không ngừng và nhâm nhi bia không mồi. Anh hay hắng giọng, hay khạc. Hỏi thì bảo đau cổ họng, và bác sĩ cho trụ sinh đã ba tháng không thấy giảm. Tôi phản đối việc dùng trụ sinh dài dài, cố thuyết phục anh đổi bác sĩ, và đích thân lấy hẹn, đưa anh ngay vào bệnh viện Group Health. Bác sĩ khám và tức khắc làm biopsy. Kết quả là anh bị ung thư thanh quản, phải mổ. Anh không nói được nữa mà phải mang một máy khuếch âm làm biến tiếng, nên chỉ bút đàm.

Tôi không nhớ rõ bao lâu thì bệnh tình anh tạm được chặn ngưng. Nhưng khi kha khá, anh lại tiếp tục viết, thu hẹp còn 4 trang trên Đất Mới. Một trong bài viết nhắc lại Tháng Tư Phú Quốc , trong số ra ngày 15-4-84, tức là hơn một năm trước khi anh giã từ bạn bè, giã từ cõi viết. Sau đây là trích đoạn :

9 năm trước, đúng vào tháng này – cuối tháng 4,1975 – chúng tôi “nằm” ở Phú Quốc để chờ tàu Mỹ tới “bốc”. Nơi chúng tôi tạm trú nguyên là một trại quân cảnh sau đổi thành nơi giam giữ tù binh Việt Cộng, một khu trại rộng lớn với những căn nhà trống hoác như những kho hàng, một phía giáp biển, một phía giáp rừng, xa hẳn xóm làng chung quanh, hàng ngày muốn đi chợ phải thuê Honda ôm vì chợ cách đó ít nhất cũng 5 cây số. Mỗi gia đình được chia cho một khoảng nhỏ vừa đủ trải chiếu nằm, không giường, không nệm. Chúng tôi ở đó từ ngày 21 tháng 4, sau khi Tổng thống Thiệu từ chức.

Nhớ là thời gian này trăng thật sáng. Đêm đêm không thể ngủ sớm, bọn tôi leo lên một mô đất cao trong sân trại, nhậu lai rai để trao đổi với nhau những băn khoăn, thao thức về chuyến đi sắp tới. ( … ) Chúng tôi ngất ngưởng ngồi nhâm nhi với nhau cho tới khuya mới chịu trở về chỗ ngủ cuả mình. Chưa bao giờ chúng tôi thấy “cần” gặp nhau như lúc đó, dù rằng gặp nhau cũng chẳng giúp đỡ được gì cho nhau. Câu hỏi buồn rầu đêm nào cũng được đặt ra và không ai tìm được câu trả lời : “Tương lai rồi sẽ ra sao? Những gì chờ đợi chúng tôi trong những ngày sắp tới?” ( … ) Tháng Tư thứ 9 đã trở về. Tháng Tư Đen của mọi tấm lòng Việt Nam hướng về quê nhà địa ngục, tù đày. Tháng Tư về cùng với muà Xuân quê người nhưng thời tiết vùng Tây Bắc này vẫn gió buốt mưa dầm như những ngày giữa Đông miền Bắc quê xưa. ( …) Nhìn qua khung cửa sổ, không gặp lại được vầng trăng Tháng Tư Phú Quốc 9 năm về trước, nhưng trong hồn tôi dào dạt ánh trăng xưa …

Kể từ ngày anh mất tiếng nói, chị Túy Hồng và tôi có nhiều dịp gần nhau hiểu nhau hơn khi cùng ra vào bệnh viện, chia sẻ những lo âu, nhắc nhở nhiều kỷ niệm.

Thời gian anh nằm bệnh, các cuộc họp mặt tạm ngưng và thay vào là những cuộc thăm viếng. Khi anh có vẻ khá, chúng tôi tiếp tục đến với nhau, ngầm xích lại gần nhau hơn trong những tháng ngày còn lại của người anh cả khả kính, người bạn hiền hoà đáng quý, dù anh không còn phong độ như trước nhưng đức độ anh vẫn tỏa rộng.

Không khí những buổi họp mặt dạo sau này có phần sinh động hơn trước, và từ đó có những sinh hoạt như Đêm Thơ Đất Khách giới thiệu tập Đất Khách của Thanh Nam, có sự hiện diện diễn ngâm của Hoàng Oanh, ca nhạc với Mai Hương, Xuân Thu và tay đàn tranh Tạ Như Việt, rồi đêm nhạc thính phòng giới thiệu tập Giữ Đời Cho Nhau của nhạc sĩ Từ Công Phụng, giới thiệu Buồn Ga Nhỏ tái bản, cũng có mặt Xuân Thu và Mai Hương. Đây là giai đoạn tổ hợp xuất bản Tin Yêu do Thanh Nam chủ trương hoạt động khá mạnh. Anh còn dự tính tổ chức Đêm Hà Thanhtại Seattle khi được tin nàng ca sĩ giọng vàng của xứ Huế vừa đến Mỹ, đồng thời ráo riết chuẩn bị xuất bản và giới thiệu tập Thơ Cao Tần.

Hai dự định này đều không thành, vì bệnh anh không giảm.

Một lần bên giường anh tại nhà đường Othello, Tuý Hồng dựa trên bục cửa sổ tỉ tê sùi sụt bảo sẽ đi tu sau khi Thanh Nam ra đi, tôi có ân cần nhắc đến bốn cháu, bốn tác phẩm chung của hai người : – con Ty, thằng Cu, thằng Ốc Sên, thằng Tý (Hồng Ân, Đại Bằng, Đại Vũ, Đại Thuần) – và dám lên giọng về chuyện tu tại gia trong nuôi dạy vun quén bốn tác phẩm này.

Khi tôi viết bài này, cháu Cu tức là Đại Bằng đem hai con nhỏ từ Seattle về Aloha thăm mẹ, và chị đang nấu phở cho con và cháu, bận rộn tíu tít ríu rít với con cháu chung quanh, trong khi bài viết của chị chưa hoàn tất.

Nhắc lại chuyện cũ, trong số những buổi họp mặt nhỏ giai đoạn bệnh tạm thời được kiểm soát, anh Thanh Nam đã tham gia với tất cả hăng say như biết rằng sẽ không còn bao lâu. Chúng tôi cũng hăng say mà lòng mỗi người đều ứa lệ, vì cũng biết sẽ không còn bao lâu nữa …

Tôi ghi lại đây một trong những buổi họp mặt, tại nhà anh chị Nguyễn Tất Đắc :

“ …Phạm Tấn Quý – mệnh danh là Quý phổi bò hoặc Quý ruột để ngoài da, vì trước 75 có lần bị thương ruột lòng thòng trốn trại bệnh ra phố …nhậu – giọng oang oang :

-Tiếp tục phần văn nghệ …tạp nhạp, đây là một màn độc, rất độc, dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Thanh Nam. Hai giọng ca Song Hồng của xứ Huế – một màu hồng thẫm và một loài chim huyền sử – sẽ hợp ca một bài rất Huế là Thương về Xứ Huế của Minh Kỳ.

Nhiều tiếng cười rúc lên, chen những xào xạc xì xầm :

– Chi mà loạn Huế rứa !

Anh Thanh Nam đứng dậy. Chiếc đũa trong tay phải vung vẩy nhịp ba, chăm chú giữ nhịp, ra hiệu hai nàng Hồng cùng cất tiếng. Một nàng giọng nhỏ như tiếng muỗi và một nàng vừa hát vừa che miệng khúc khích, bị anh trừng mắt chúm môi suỵt phải lập nghiêm và bắt hát lại. Rồi hai giọng ca không hề tập dượt với nhau cũng quyện được vào nhau. Đến phần cuối bài, Thanh Nam buông đũa đưa tay mời một nữ nhân và cả hai quay mấy vòng luân vũ chấm dứt màn độc.

Đến lúc này thì mọi người coi có vẻ hào hứng lắm, không cần ai lôi kéo mời mọc. Dược sĩ Nguyễn Văn Nha đứng dậy :

– Tới phiên tớ chứ !

Rồi đổi giọng rất Huế :- Dzà, thưa mấy bạn, tui sinh ợ ngoài Bắc, dzưng cưới vợ Huệ nên chi tui cũng biết mô tê răng rứa bên ni bên nớ o nớ o tê và ăn ớt với bún bò khá tới. Tui còn mê luôn mấy món bánh lá chả tôm bánh bèo bánh ít bánh khoái bánh nậm nem nướng nem lụi cơm hến cơm âm phủ …Ậy là tui dzờ dzà tui đọ. Bựa ni dzà tui trổ tài ngâm thơ giọng Bình Trị Thiên cho mấy bạn nghe. Dzà tui ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan. Dzưng mà dzờ anh bạn ruột để ngoài da trổi giọng trầm hùng phụ họa để mình có màn thi nhạc giao duyên cho đủ điệu, hị ! …

Rồi anh Thanh Nam trở bệnh nặng, phải vào nhà thương nằm liệt.

Sinh hoạt quan trọng nhất vào muà Xuân 1985, nhân kỷ niệm 10 năm, Đất Mới tổ chức Đại Nhạc hội gây quỹ giúp gia đình anh Thanh Nam trong giai đoạn cuối bệnh tình, khoảng ba tháng trước khi anh vĩnh viễn giã từ bè bạn vào tháng Sáu năm đó. Chương trình này gồm thi ca nhạc kịch, quy tụ mười mấy nghệ sĩ, trong số có Mai Hương mới chịu tang Mẹ – kịch sĩ Kiều Hạnh – vào cuối tháng 3 , Quỳnh Giao, Hà Thanh, Hoàng Oanh, Khánh Ly, Minh Hiếu, Ngọc Minh, Giao Linh, Thanh Tuyền ……Bốn cô nhóm thứ nhất ở với tôi, nhóm kia ở bên nhà vợ chồng Phạm Tấn Quý. Các cô đã vào bệnh viện quây quần quanh giường, thăm hỏi, và anh bút đàm. Sau đó, các cô liên tiếp hát những bản nhạc do Thanh Nam đặt lời, trong khi anh thiêm thiếp thưởng thức, nét mặt an hoà với nụ cười nhẹ trên môi, và bàn tay lần lượt siết những bàn tay…Hoàng Oanh vừa đi hành hương Lourdes có mang về một bình nước thánh, đã bôi lên trán anh và rải quanh người. Nhắc lại kỷ niệm này, Mai Hương nhớ là lúc đó ai cũng nén lòng cố giữ bình thản, nhưng vừa bước ra khỏi nhà thương là chúng tôi ôm nhau khóc oà …

Tuý Hồng ngày đêm túc trực trong Group Health. Chúng tôi luân phiên ra vào thăm nom, ủ rũ, ngơ ngác. Anh chỉ nhìn chúng tôi, giơ ngón tay ra hiệu chào. Khi hơi khoẻ, anh ra hiệu Túy Hồng đưa giấy bút và ráng viết viết trò chuyện. Thường thì anh mê man, nhưng còn nghe được chúng tôi hỏi han và trả lời bằng cách siết tay.

Một lần vào thăm vào giữa trưa, anh thiêm thiếp trong cơn đau mê. Túy Hồng và tôi ngồi cạnh cửa sổ. Tôi nhắc lại giấc mộng của anh muốn có một tờ báo, và bỗng nẩy ý đề nghị thực hiện nhưng chủ trương những cây bút đàn bà. Chúng tôi say sưa tranh nhau nói, tranh nhau phác họa chương trình, khuôn khổ và nội dung tờ báo…cho đến khi tôi chợt ngẩng đầu, bàng hoàng thấy cánh tay phải Thanh Nam vươn thẳng cao. Thấy vẻ mặt tôi, Tuý Hồng quay lại. Cả hai chúng tôi ùa đến cạnh giường. Tuý Hồng nắm tay Thanh Nam, dịu dàng tha thiết vỗ về :

– Thanh Nam, em đây ! Anh biết tụi em đang bàn gì không? Anh nghe hết rồi chứ ?

Nét mặt anh thay đổi, có khí sắc sinh động. Mắt anh he hé mở, mí mắt khẽ rung. Riêng bàn tay, bàn tay phải còn mạnh của anh, siết chặt tay Tuý Hồng. Phải chăng anh có ý tán đồng, hay muốn ngăn cản chúng tôi bước sâu vào nghiệp dĩ hệ luỵ của cuộc đời viết văn làm báo?

Tôi nhìn sững hai bàn tay. Bàn tay nào nhẹ nhàng nâng niu làn hơi ca ngâm thơ nhạc diễn tả trên sân khấu, bàn tay nào thoăn thoắt trên mầu đồng hoa hay mùn sẩu, bàn tay nào vân vê tẩu phiện, bàn tay nào ghiền khói Pall Mall, bàn tay nào vung vẩy pha trộn mùi vị quê hương, bàn tay nào nâng niu túi thơ bầu rượu, bàn tay nào khơi động chữ nghĩa dạt dào trên những trang thơ xuất thần, những thiên truyện ngắn chuyện dài nhân tình ấm lạnh …Quản bút và thếp giấy vẫn còn kia, mà bàn tay Thanh Nam định mệnh bắt phải sớm chối từ.

Thôi đã xa rồi cánh chim quyên trắng và rặng núi xanh. Thanh Nam đã yên giấc mộng bình thường bên đôi cánh xanh của loài thiên nga. Riêng màu hồng thẫm còn ở lại , mắt chong khô quãng đời góa bụa.

Ngày tiễn biệt anh vào Nhà Quàn Columbia– nơi trước đây lần đầu đi qua, anh Mai Thảo đã thốt quở nhà ai mà đẹp đến thế – chúng tôi mỗi người một tay, đẩy quan tài anh vào lò huyệt thiêu. Tôi cũng ké bàn tay đưa tiễn, và thầm nguyện giữ tình bè bạn với Tuý Hồng, như anh từng trọn mọi tình bằng hữu, dẫu bạn gần chưa đến bạn xa chưa về …

Hoài Nam Trần thị Lai Hồng

Hoa Bang, cuối tháng 5, 2007

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.