Thơ(thẩn) mùa ôn dịch: Cố nhà thơ nữ Vi Khuê (gốc Huế)-Ninh Giang Thu Cúc

Ninh Giang Thu Cúc

(art2all.net)

VI KHUÊ

(Bà Chữ Bá Anh ??)

Tên thật: Trần Trinh Thuận

Sinh năm: 1931-2018

Quê quán: Thạch Bình Thôn, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế

PHẦN TIỂU SỬ VÀ HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA

Vi Khuê, vâng! Chỉ với hai thanh bằng của bút hiệu – chúng ta đã thấy được sự khiêm tốn của người phụ nữ làm thơ này.

Vi Khuê! Vi Khuê – là hạt bụi ở Khuê Văn Các? Hay một hạt nhỏ li ti của ngôi sao văn khúc ở trên cao?

Nhưng nếu là một hạt bụi ở lầu văn, hay dính trên sao Khuê sao Vũ, thì quá hạnh phúc và rất đáng tự hào lắm chứ. Ở đây ta hiểu theo cách nào cũng đẹp, với phụ nữ thì sự tự phụ là điều nên tránh; nhưng chúng ta có quyền được tự hào với hiệu quả của công việc chúng ta làm, mục đích và lý tưởng chúng ta phụng sự, vì thế được là một hạt bụi ở lầu văn vẫn hạnh phúc vạn lần hơn là làm một viên ngọc Lam Điền đính trên mũ áo của phường ác bá…

Nhà báo, nhà giáo, nhà thơ Vi Khuê Trần Trinh Thuận, được sinh trưởng trong một gia đình nho phong nề nếp mà nghiêm phụ là một vị văn quan nhã đạm (Thị Độc học sĩ) và từ mẫu là một phu nhân đức hạnh vẹn toàn.

Cụ Trần Chỉ Hiếu và phu nhân Nguyễn Thị Hà Châu có tất cả bao người con soạn giả không được rõ lắm, chỉ biết ngoài nữ sĩ Vi Khuê – hai cụ còn có một người con trai tài hoa phong nhã là nhà thơ Trụ Vũ – ông là cây bút vi diệu của văn học Phật giáo và có bàn tay điêu luyện trong nghệ thuật viết thư pháp, thư họa.

Theo suy luận của Ninh Giang Thu Cúc thì chắc rằng Vi Khuê là trưởng nữ của Trần gia.

sông Bồ Huế

Quê hương chôn nhau cắt rốn của chị là làng Thạch Bình dọc dài theo triền nước Bồ Giang xanh niềm hy vọng, Quảng Điền là vùng địa các đã sản sinh nhiều nhân tài ở nhiều lĩnh vực, trong đó văn học nghệ thuật là bộ môn chiếm đỉnh cao với nhiều tên tuổi ở Văn đàn. Quảng Điền là một huyện phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Nữ sĩ Vi Khuê được thai thành trong không gian trời xanh đất rộng ấy, và trong gia phong nghiêm cẩn mà bậc sinh thành là môn đệ của cửa Khổng sân Trình, ngoài phẩm hàm chức phận của một thị độc học sĩ; thì các kiến thức về y lý, dược lý và phong thủy, cụ đều am hiểu cho nên cô quý nữ Trinh Thuận học hành chăm chỉ giỏi giang âu là sự tất nhiên.

Với học vị Cử nhân văn chương khoa Việt Hán, Vi Khuê đã ứng dụng trình độ, khả năng, cùng kiến thức uyên bác của bản thân vào các hoạt động ở lĩnh vực văn hóa báo chí, như thuở còn son giá chị đã từng là xướng ngôn viên, biên tập viên và cả diễn viên thoại kịch cho đài phát thanh Huế…

Rồi đến một ngày chị đã “khấp như thiếu nữ vu quy nhật”, để trở thành người vợ đảm đang tam tòng tứ đức của phu quân Chữ Bá Anh, và từ đấy; thuyền theo lái – anh chị Chữ Bá Anh đồng tâm hợp lực hoạt động ở ngành giáo dục, họ đã sáng lập được hai ngôi trường trung học tư thục khang trang bề thế tại thành phố Đà Lạt, mà tên gọi của hai ngôi trường đã nói lên hoài bão và nguyện vọng của chủ nhân – đó là trường Hiếu học và Văn học. Trường hoạt động từ năm 1955 – 1975 rất có uy tín và hiệu quả, cô hiệu trưởng Trinh Thuận là một con người nhạy cảm với các vấn đề đất nước và xã hội lúc bấy giờ. Vì vậy, tuy đa đoan với trách nhiệm, cô vẫn dành thời gian cho công việc sáng tác và năm 1971 thi phẩm “Giọt lệ” đã đến với công chúng qua nhà xuất bản Giang Châu.

Khi các cô con gái Huế đã dính vào nghiệp văn chương thì anh hoa phát tiết từ rất sớm, bởi do nhiều yếu tố nội tại và khách quan cộng hưởng nên 9-10 tuổi cô nào cũng đã có 1- 2 bài thơ khởi thảo và nghiệp chướng đeo đẳng trọn đời, hạnh phúc vô cùng, nhưng cũng thống khổ vô biên – bởi trái tim các cô quá ư nhạy cảm theo từng giai đoạn, theo bao nỗi thăng trầm hưng phế trên đất nước quê hương, người con gái, người đàn bà nào làm thơ cũng quá nhân hậu, quá đa cảm nên quá đa đoan… chính vì sự nhân hậu, sự đa đoan, sự ưu thời mẫn thế đó mà văn đàn Việt nam có những nữ sĩ mà Vi Khuê là một điển hình tiêu biểu.

Xin được thưa cùng chị Vi Khuê và bạn đọc, thật lòng để tâm sự là với tư liệu ít ỏi về thân thế của nhân vật mà Ninh Giang Thu Cúc có được, nên bản tiểu sử này mang tính suy luận và bằng cả trực cảm của soạn giả, vả lại trộm nghĩ rằng tiểu sử của văn nghệ sĩ phải khác với một văn bản lý lịch nặng phần hành chính trong hồ sơ lưu trữ ở các công sở. Tất nhiên là không phải vì thế mà thiếu chính xác ở phần cần thiết, đúng không? Lại nữa chúng mình cũng chưa có cơ duyên để mặt nhìn mặt cầm tay “phỏng vấn” một câu bởi “người ở phương trời ta ở đây”… mà chỉ căn cứ vào một vài dữ liệu để “từ đó suy ra” rằng bốn người con của Vi Khuê đều có tên Anh – vì cô con đầu có tên Nhất Anh mà tác giả đề tặng ở bài thơ Hoa Đào.

Một mái nhà đầm ấm với hai vợ chồng và bốn đứa con (hai trai, hai gái) là cơ số lý tưởng mà ngày xưa các thế hệ phụ nữ chúng ta thường phát họa trong đời sống lứa đôi, nhưng có bao nhiêu phần trăm đạt tiêu chí ấy – hay có vị sòn sòn năm một, có vị bói không ra, hay chỉ có một cô chiêu hoặc một cậu ấm – rồi lo toát mồ hôi nếu chẳng may nó nhiễm phải hội chứng con một, hay nói “trời không nghe lỗ miệng” lỡ trái gió trở trời thì vốn liếng đi đời nhà ma!

Với nữ sĩ Vi Khuê “Khi nên trời cũng chiều người” bà có đủ hai trai hai gái đều là con ngoan trò giỏi (xuất sắc) và phương trưởng thành đạt, có Nhất Anh chắc phải có nhị, tam, tứ Anh. Xin được ca ngợi tán thán niềm hạnh phúc của người phụ nữ, người mẹ Vi Khuê!

Có tụ phải có tán, sự sum họp nào cũng có dự báo của ly tan khi duyên tròn nghiệp mãn – vào một ngày của tháng 3 định mệnh, ông Chữ Bá Anh, người bạn đời khả kính của nữ sĩ Vi Khuê đã vĩnh biệt vợ con, bằng hữu ở cõi tạm này để làm cuộc trở về miền thiên cổ đó là năm 1996, nữ sĩ Vi Khuê thành quả phụ ở tuổi 65 trên quê người đất khách trong bao niềm nhật mộ hương quan…

Chúng ta đã điểm qua vài nét chính của người phụ nữ làm thơ, người con gái Huế của một thời xa rất xa… bây giờ chúng ta cù rủ nhau dõi theo lộ trình hoạt động văn chương và báo chí của Vi Khuê.

Năm 1975 như bao người Việt Nam vì nhiều lý do tế nhị phải lìa bỏ quê hương ra nước ngoài như loài chim thiên di… và đau đáu vọng về quê Mẹ trong bao hoàng hôn lạnh giá ở xứ người với:
 

“Tấc lòng cố quốc tha hương

Đường kia nỗi nọ ngổn ngang bời bời”

(ND)

Cũng như bao người con xa cố quốc Vi Khuê đã ký thác bao tâm sự u hoài, bao niềm quê tình quê về cố lý xa mờ đòi đoạn – nơi ấy có mẹ già tháng ngày tựa cửa ngóng tin con, nơi ấy có con đường quen thuộc quanh co trên nẻo về quê nội, nơi ấy có ngút ngàn kỷ niệm của một thời áo tím sen ngó đào tơ – bên gia đình đoàn tụ quanh bếp cơm chiều thơm mùi rơm rạ dưới tia nhìn thân ái cuả người thân, và trên nữa – nơi ấy là Tổ quốc Việt Nam với bao đồng bào ruột thịt, một mảnh đất mà từ thời lập quốc bốn ngàn năm đã phải gồng mình gánh chịu bao thiên tai trắc ẩn, dịch họa vong thân với hạn hán mất mùa, đồng khô cỏ cháy, khoai sắn cằn cõi quắt queo… Bằng nỗi đồng cảm tuyệt đối với tác giả “Đoạn trường tân thanh” thi phẩm thứ hai được ra đời (chúng ta sẽ gặp lại thi phẩm qua phần cảm nhận của soạn giả) thi phẩm có tên Cát Vàng in năm 1985.

Ngoài các thi văn phẩm, băng từ đã công bố rộng rãi thì tác giả còn những tác phẩm giáo khoa đang thai nghén và soạn thảo.

Nữ sĩ Vi Khuê thường xuyên cộng tác với các tạp chí: Văn, Làng văn, Văn học, Nhân văn, Thế kỷ 21, Thời luận, Người Việt, Thời Báo Chiêu Dương, Thi Văn cội nguồn, và nguyên chủ bút Nguyệt san Tin Điện, Diễn đàn phụ nữ, bà ký nhiều bút hiệu: Vi Khuê, Đoàn Văn, Đào Thị Khánh, Nguyễn Thị Bình Thường. Bà cũng chủ trương nhà xuất bản Sao và thành viên của hội Văn Bút Việt Nam ở hải ngoại.

TÁC PHẨM CỦA VI KHUÊ

1. Giọt lệ (thơ) – 1971https://youtu.be/GvuJPrGitK4

2. Cát vàng (thơ) – 1985

3. Thất ngôn bát cú (thơ)

4. Tặng phẩm tình yêu (thơ) – 1991

5. Ngựa hồng trên đồi cỏ (văn) – 1986

6. Vẫn chờ xe thổ mộ (văn) – 1993

7. Hoa bướm vườn thơ tôi (thơ ) – 1994

8. Thơ Vi Khuê băng và đĩa CD.
 

“Nhị cú tam niên đắc

Nhất ngâm song lệ lưu…”

(Giã Đảo)
 

THẤT NGÔN BÁT CÚ

(Thơ Đường luật)

“… Đau nghìn trang giấy mới nên chương”…

(Vi Khuê)
 

ĐƯỜNG VÀO THẤT NGÔN BÁT CÚ CỦA VI KHUÊ

“Nguyệt Tầm Dương” bài thơ đề từ cho tập thơ Thất ngôn bát cú của nhà thơ Vi Khuê đã cho tôi nhiều liên tưởng thú vị.

Nguyệt Tầm Dương – trăng trên bến nước Tầm Dương và giọt nước mắt của nàng ca nữ nhan sắc đã hoàng hôn, nhỏ xuống cho đẫm ướt áo xanh chàng Tư Mã trên đường về đất trích Giang Châu:

“Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu”.

Những câu thơ đứt ruột của Bạch Cư Dị là niềm cảm thông cho sự tình của nàng ca nữ, cho sự ly biệt giữa chủ và khách tri âm trong chén quan hà, và cho cả nỗi đời, nỗi người giữa thân phận thuyền quyên và một vị học sĩ mang bịnh trung ngôn thành ra nghịch nhĩ để khúc tỳ bà đòi đoạn động càn khôn.

Đã một thời bao cô con gái Việt Nam mon men đặt bước vào ngôi đền văn học Trung Hoa, vừa thích thú lại vừa run như cầy sấy khi đọc những dòng văn ma mị của Bồ Tùng Linh, sợ mà lại tò mò thích đọc, nhưng vừa đọc lại vừa lấm lét nhìn quanh, với ý nghĩ là bao nhiêu hồn ma bóng quế đang thập thò chực xuất hiện từ sau các bức tranh, các bức chân dung treo ở trên tường, đọc xong là trùm kín mền đến toát mồ hôi hột… Trời ơi, một thời mộng mị Liêu trai.

Rồi ngưỡng mộ đến phong thánh một nhà thơ mà chỉ bằng một khổ tứ tuyệt 28 chữ ông đã đưa vào bao thi ảnh nửa sờ nắm dễ dàng, nửa lại trừu tượng mênh mông vô hình vô tướng. Đó là Trương Kế với Phong Kiều Dạ Bạc.

Ai là hành nhân trên vạn nẻo sông hồ lại không chạnh niềm cố quận khi đọc lớn cặp kết của Hoàng Hạc Lâu:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu”

Thôi Hiệu ơi! Ông là ai mà có tài đánh động lòng quê của kẻ xa nhà đến vậy?

Một thi nhân mang hai dòng máu trong huyết quản đã lãng mạn cực kỳ khi chờ người yêu đến lụi tàn điếu thuốc trên tay và xuýt xoa rên rỉ: “Anh khẽ bảo nhớ làm sao nhớ thế” (Hồ Zdếnh).

Có một kẻ sĩ đau đớn khi nhìn “trời đất nổi cơn gió bụi” với tránh nhiệm của kẻ làm trai người ấy đã quyết lên đường trả nợ non sông và : “người đi, ừ nhỉ, người đi thực…” cùng lời thề sắt đá : “Chí lớn chưa về bàn tay không...” (Tống biệt – Thâm Tâm)

Tám danh sĩ – tám hình tượng, tám thi ảnh lung linh chất Đường thi tuyệt hảo, trong đó có hai thi sĩ của Việt Nam đều được Vi Khuê phác thảo chân dung tiêu biểu ở bài thơ Nguyệt Tầm Dương, với tình yêu lớn dành cho nền văn chương cổ đại của Trung Hoa và của văn học đương đại Việt Nam. Một mối tình đã được tác giả ấp ủ tự tuổi ấu thơ.

Yêu người tự thuở tôi lên mười

Mỗi phút mỗi giờ tôi đều thở

Thở bằng hơi thở của người thôi

Có thể Ninh Giang Thu Cúc đã nghĩ sai những gì tác giả viết, nhưng biết làm sao được khi nhận định một tác phẩm văn học là quyền của bạn đọc, để từ đó ta tìm ra tiếng nói tri âm. Có gì một đúng mười sai xin được mỉm cười xí xóa cho nhận định ban sơ của soạn giả, trước khi đi vào tập thơ Đường luật của Nữ sĩ Vi Khuê. Lối vào thơ Đường luật của Vi Khuê ắt hẳn sẽ thênh thang, tha hồ cho hành nhân rảo gót theo hậu thân của Lý Bạch và Đỗ Phủ như Vi Khuê đã nằm mơ và khẳng định ở hai câu cuối trong bài: Nguyệt Tầm Dương:

Yêu người tự thuở tôi lên mười

Mỗi phút mỗi giờ tôi đều thở

Thở bằng hơi thở của người thôi
 

Nuôi tôi khôn lớn bằng sữa mẹ

Xanh xao ngôn ngữ liễu thơ Đường

Nuôi tôi đài các bằng hoa lệ

Chín tầng cung Hán nguyệt Tầm Dương
 

Nuôi tôi người đã nuôi tôi mộng

Liêu Trai nghìn giấc nhớ thương chàng

Đâu bến Cô Tô thuyền buộc chặt

Nghìn năm còn vọng tiếng chuông vàng?

Và đâu hoàng hạc bay, bay mất

Để còn trơ lại mái lầu hoang?
 

Hỡi ơi, người khách Minh Hương cũ

Quê ngoại chàng yêu, tôi yêu chàng

“Rạc rời vó ngựa quá quan

Cờ treo ải cũ, trăng đàn mộng xưa…”
 

Người yêu, ừ nhỉ, yêu người thực

Tiềm thức khôn nguôi hận Thủy Hoàng

Mơ thấy tiền thân mình họ Lý

Bút mực thương hoài nét Đỗ lang…

(Vi Khuê)
 

TÌM THẤY GÌ TRONG NHỮNG BÀI THƠ 56 CHỮ CỦA VI KHUÊ
 

Thấy gì ư? – Dạ thưa, thấy nhiều điều lắm, trước hết chúng ta thấy được mối tình lớn của tác giả đối với Đường thi qua bài “Nguyệt Tầm Dương” đã được dùng thay lời tựa ở đầu tập thơ thất ngôn bát cú (TNBC)

Và ta thấy được cái sung sướng của mỗi người làm con, cái hạnh phúc cao vời nhất của mỗi chúng ta là có Mẹ để được ấp ủ vỗ về, được thương yêu và để thương yêu, để được khóc cười trên vai mẹ, để được nhớ mẹ trong từng sát na của sự sống hằng ngày. Đối với chúng ta Mẹ là số một; bởi thế mà trong 63 bài thơ ở tập “Thất ngôn bát cú” bài đầu tiên nữ sĩ đã dành: Khóc mẹ

Nửa đêm thức dậy nhớ quê hương

Khóc mẹ ngày nao cầu đoạn trường

(Khóc mẹ – Vi Khuê)

Chỉ với cặp phá đề ở trên, ta đã thấu hiểu thế nào là nỗi “chín chiều ruột đau” của một người con ở góc biển chân trời đang vọng tưởng, đang xót xa khi thấy “lòng lão thân buồn khi tựa cửa“… bức màn tâm tưởng cứ khép mở khép mở hoài cho ta quay quắt với nỗi niềm “Nhà hương khói lạnh” mà xót xa cho tình cảm tự thân:

Đi mô bỏ mẹ ở nhà

Gối nghiêng ai sửa chén trà ai dâng

(Ca dao)

Nhưng cũng có nhiều sự ra đi cao cả vĩ đại hơn đa số những người con gái khác, bởi sao? Vì:

“Mịt mù bụi cuốn giang san

Thì thôi một cái hồng nhan kể gì”

Vì không kể gì một cái hồng nhan và vì quốc gia mất hay còn, không phải chỉ riêng đàn ông mới “hữu trách” cho nên Huyền Trân Công chúa đành gạt nước mắt từ giã phụ hoàng mẫu hậu cam phận “chín tháng nằm trong thuyền chài” để được “nhẹ đành tơ liễu nặng vì quốc gia” cho hai châu Ô Lí nằm trên bản đồ Đại Việt, cho hai dân tộc khỏi gầm ghè khởi chiến binh đao… đại sự viên thành, trung hiếu lưỡng toàn, còn niềm đau riêng thì sao, chao ôi!
 

… “Sao lênh đênh thế – dòng thu lệ

Luống võ vàng ôi – nét liễu mày”

(Nhớ – Vi Khuê)

Và:

…” Trời hành chi rứa năm trăm lẻ

Nghĩ tủi Huyền Trân lạc bước giày”

(Nhớ – Vi Khuê)

A ha! Gánh tình nặng nhẹ chị em chung!?

Nhớ” – bài thơ thứ 2 là chút tâm tình, là lòng cảm cựu đối với người xưa, đồng thời là nỗi cảm thương thân phận cho bao người “nay” “Khóc mẹ” và “Nhớ” chỉ là bước dạo đầu cho các cung bậc trên hành trình “Thất ngôn bát cú” của Vi Khuê.

Thạch Bình Thôn” – nhà thơ Hạnh Phương đã nhận xét và bình giải trong một tiểu luận “Đây nhé là Thạch Bình thôn! Thôn Thạch Bình là làng nội của nhà thơ Vi Khuê. Sao không là thôn Thạch Bình? Sao lại là Thạch Bình Thôn? Ngay cách đặt nhan đề bài thơ đã khiến bạn đọc lâng lâng tiếp xúc được khí hậu của Đường thi”.

Vâng, Ninh Giang Thu Cúc đồng ý với lập luận của Hạnh Phương!

Tôi chạnh nhớ Bạch Cư Dị với: “Cùng một lứa bên trời lận đận“, hay gần hơn là Vũ Hoàng Chương: “Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa...” Vậy cho nên Vi Khuê hay kẻ viết bài này hay Hạnh Phương – chúng ta vẫn là năm bảy đứa lạc loài.. cách nửa vòng trái đất, tất nhiên đó là sự lạc loài vô hạn, nhưng ở ngay trong lòng địa phận mang hình cong chữ S, chúng tôi vẫn là loài chim di trú để mãi vọng về cố thổ trên ngàn dặm thiên di…

Nơi chôn nhau cắt rốn, nắng lửa mưa dầu thiên tai dịch họa, cứ đẩy dần đẩy dần những đứa con ra khỏi lũy tre xanh, ra khỏi mái đình làng có cây đa bến nước với muôn ngàn kỷ niệm tuổi thơ ta…

Thạch Bình thôn của Vi Khuê, Gia Độ thôn của Hạnh Phương, hay An Ninh thôn của soạn giả (NGTC) thì vẫn mang bao bóng dáng hình hài ấy, nhưng khác nhau ở chỗ tác giả sử dụng thế nào, sắp xếp ra sao, để tạo dựng nên một thi ảnh như Vi Khuê:

Con hói, lênh đênh bèo, sóng giạt

Rìa bưng, hiu hắt lá, sương sa

Biết bao biển lệ, dòng mưa cũ

Cả một trời thương, giọt nắng tà

(TBT – Vi Khuê)

Bốn câu trên là xương sống của bài “Thạch Bình thôn” cặp trạng như một bức tranh thủy mặc mà họa sĩ Vi Khuê bằng những nét chấm phá tài tình sinh động, cho chúng ta thấy dòng hói, chiếc bèo đang lênh đênh trên từng đợt sóng nhấp nhô, và cả một dải bưng biền vàng hoa mướp đang căng lòng đón nhận từng giọt sương nuôi nấng cuộc tồn sinh.

Cặp trạng đẹp về thi thuật và chỉnh đốn phân minh về kỹ thuật. Cặp luận buồn như cõi lòng sương phụ, giữa thương hải tang điền nặng lòng cố quận nẻo trời xa.

Những “bà nội trợ” có trình độ chuyên nghiệp chẳng ai thích đi chợ buổi chiều, dân ta có thành ngữ: “Rau héo chợ chiều” đã cho thấy mặt hàng nào của chợ chiều cũng đều dở ẹt, còn rau héo chỉ là cách nói biểu trưng…

Cũng có thể tác giả chỉ mượn cảnh chợ chiều thực thể với rau trái cỏ hoa héo xàu khô quắt, với “Rổ cá con lằn xanh đủng đỉnh. Cành bông cái nhặng biếc liêu xiêu…” là để nói đến một cảnh tượng “chợ chiều” khác giữa cuộc bon chen hệ lụy với “kẻ qua người lại dáng đăm chiêu”… đầy hỉ, nộ, ái, ố, dục, lạc chăng?

Tôi có chờ đâu có đợi đâu

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu

Với tôi tất cả đều vô nghĩa

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…

Cách đây hơn nửa thế kỷ nhà thơ Chế Lan Viên đã viết những câu thơ về mùa xuân như thế, nghe buồn như buổi chiều trên nghĩa địa… rồi có nhà thơ lại nao nức với mùa xuân, với mưa xuân khi viết:

… “Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ

Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay”

(NB)

Mỗi nhà thơ đều có mỗi cái nhìn về mùa xuân về mưa xuân tùy theo tâm thể, theo hoàn cảnh lúc sáng tác. Ta đọc “Mưa xuân ở Virginia” để cộng cảm và chia sẻ với người thơ xứ Huế đang lưu trú tận trời xa:

Mưa xuân tầm tã mấy hôm nay

Chẳng khác trời Nam chút mảy may

Có thật chẳng khác hay tác giả cố nghĩ vậy để phỉnh phờ mình cho bớt xót xa, hai câu thực đã cho ta đáp số rõ ràng:

Chạnh nhớ cố hương phong cảnh cũ

Vui chi khách địa nước non này

Và chúng ta ngậm ngùi theo nỗi khắc khoải vọng tưởng của tấm lòng người con hướng về mẹ, người chị nghĩ về em:

Mẹ còn tuổi hạc mong hôm sớm

Em vẫn phòng thơ đợi tháng ngày

Chao ôi! “Sầu biệt ly vơi sớm đầy chiều“, Cụ Vũ Bằng mới từ Bắc vào Nam mà đã kêu lên tha thiết như vậy huống gì người cách nửa địa cầu…

Với người thơ – hai mùa đẹp nhất trong năm có lẽ là mùa Xuân và mùa Thu. Không có người làm thơ nào không ca ngợi vẻ đẹp u hoài của mùa thu khi thấy từng chiếc lá vàng lìa cành bay lãng đãng ở không trung – gợi cho người thơ bao nỗi nhớ như nỗi nhớ của nhà thơ Vi Khuê.

… Nhớ một con thuyền xưa lạc bến

Đau nghìn trang giấy mới nên chương…

Nỗi đau của giấy mực là nỗi đau truyền kiếp của người thơ khi bóp trán tìm vần – vần vẫn bí, cau mày kiếm tứ – tứ không ra, viết thì có chi khó – nhưng viết để đọng lại chút dư ba trong lòng người thưởng lãm thì mới là lẽ cần bàn, giấy đau thì người viết càng đau gấp bội, đó là sự tương quan máu thịt của nghiệp chướng trời đày. Không vậy mà thuở nọ vào thời kỳ nhà Đường (Trung Đường) Giả Đảo đã khóc khi làm được hai câu đắc ý sau 3 năm thôi xao mài dũa.

“Ba năm làm được hai câu

Ngâm lên một dạo lệ đau hai hàng”

Cho nên, khi đọc câu thứ 6 ở bài “Thu ở Virginia” soạn giả dựng tóc gáy cho sự khắc nghiệt của loại văn học cổ điển mà một thời đã có một số người mổ xẻ phỉ báng không thương tiếc. Nhưng không sao, chân lý thuộc về mọi người – bởi với một thể loại văn học đã đạt tới đỉnh cao của nhân loại, thì phi thời gian không gian và cả sự phỉ báng cũng phi hiệu quả, bởi phỉ báng sao được với một loại hình nghệ thuật mà phải “Đau nghìn trang giấy mới nên chương” như nữ sĩ Vi Khuê đã khẳng định bằng bao trải nghiệm xương máu khi đặt bút làm thơ luật Đường kia chứ!?

Đọc thơ luật Đường của Vi Khuê ta mới thấy thế nào là “Đau nghìn trang giấy” bởi tác giả đã bao phen.

... “Mượn cay mượn đắng làm gia vị

Vay gió vay mưa để thắng màu…”

(Vốn liếng – Vi Khuê)

Tôi thật sự tâm đắc với cặp trạng này ở bài “Vốn liếng”, chỉ có phụ nữ mới thẩm thấu tứ thơ này, mới có sự đồng cảm và cộng cảm cao độ với người viết, nghe như nói “ba lơn” cho vui, nhưng mà đau lắm, đau với nhiều tầng ngữ nghĩa, và tài hoa lắm khi hạ bút hai vế “làm gia vị”, “để thắng màu”. Màu là đường nấu trên lửa sôi đến quằn quại, cho đến lúc thành chất nước sền sệt, màu cánh gián để ướp cá kho khô, từ chất nước đường bị cô lại, gần hóa thành caramel ấy lại phục sinh để làm đẹp con cá kho khô hay miếng thịt heo kho tàu, biến hóa khôn lường qua bao lần dầu sôi lửa bỏng, cũng như người làm thơ phải khổ luyện để gạn đục khơi trong từng câu chữ vần điệu, sự so sánh rất bếp núc đơn sơ nhưng lại thâm thúy vô cùng.

Về đề tài thân phận, Vi Khuê đã ký thác bao ý tình mà đọc đến là thương bởi nghe như có mình trong đó:

… “Ba nghìn đêm trắng tàn hoa nến

Tám chín thu khô úa mộng hời

Nhớ nước trong câu hò mái đẩy

Thương mình bên vực thẳm mù khơi”

(Riêng con – Vi Khuê)

Người thơ trước hết là viết cho mình, vì thế không chỉ là thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn theo mây, mà họ còn gởi gắm nỗi niềm của tự thân:

… “Trăng xưa đã khuất đôi bờ liễu

Thềm cũ còn in một dấu hài

Giấc bướm tàn theo hồn bướm lạnh

Hoa đào nở cợt – má đào phai”

(Một tiếng đàn – Vi Khuê)

Và:

… “Mấy chục năm dư sầu vạn cổ

Mười hai bến nước gái thiên kim”

(Tím – Vi Khuê)

Như:

… “Thương cho con nhạn không liền cánh

Tội chiếc thuyền lan khó thuận dằm”

Ở mảng thơ ca ngợi danh nhân của đất nước Việt Nam gồm có 29 bài, cho ta thấy lòng trân trọng của tác giả dành cho tiền nhân ở mọi lãnh vực từ quân sự, với quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo, đến bậc danh thần vị quốc vong thân Nguyễn Tri Phương, đến các nhà chính trị như các cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, các bậc danh y đã đem y thuật để cứu đời, như Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh và các văn nhân thi sĩ cận, hiện đại đã đóng góp cho ngôi đền văn học của dân tộc như Bạch Vân Cư Sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm – một kẻ sĩ bất cần danh lợi mà thú hưởng nhàn của cụ khiến bao người tâm phục:

… “Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quý tợ chiêm bao”

Và bao gương mặt nữ nhân tài hoa đức hạnh làm rạng danh cho đất nước như một Huyền Trân, một Ỷ Lan, một Đoàn Thị Điểm, với hai vế đối tài hoa trong bộ cánh của một cô hàng bán nước chè xanh:

“Bắc quốc chư đại phu

Giai do thử đồ xuất”

Với tấm lòng trân quý dành cho tiền nhân, nữ sĩ Vi Khuê đã viết về họ bằng tất cả sự ngưỡng mộ chân thành, mỗi bài thơ là một nén tâm hương.

Và chúng tôi, kẻ hậu sinh hậu học đã đọc tập thất ngôn bát cú với lòng mến mộ về câu chữ, về ý tưởng mà nữ sĩ đã bằng tất cả tâm huyết đã “làm đau nghìn trang giấy” để có 63 bài Đường luật, đẹp như trăng và trong như sương.

GIỌT LỆ

(Nxb Giang Châu 1971)

… “Ai ngày xưa rơi lệ

Mình nước mắt nhỏ sa

Nhớ thương tràn thương nhớ

Kỷ niệm đầy tha ma”…

(Vi Khuê – 1970)
 

Cầm tập thơ “Giọt lệ” nhiều thể loại trên tay soạn giả đọc lui đọc tới 57 bài thơ toàn tập để tìm đáp số của chủ đề.

A! Linh hồn của “Giọt lệ” là đây – là Mẹ già (trang 62)

Mỗi ngày mẹ đón đọc tờ báo

Để tìm trong đó chữ hòa bình

Hai chữ hòa bình nét thật xinh

Màu đen lóng lánh như đôi mắt

Của đứa em thơ của lòng mình
 

Mẹ đọc tờ báo trong bóng chiều

Dưới giàn thiên lý nắng xiêu xiêu

Gió lùa hoa biếc rung rinh phất

Tóc bạc trên đầu cũng phất theo
 

Mẹ đọc tờ báo mười lăm năm

Tự ngày tóc mẹ còn xanh mái

Còn sáng trên gương mặt nguyệt rằm

Cho đến bây giờ xuân đã tắt

Trên giàn thiên lý đã mưa giăng

Thời gian của một trang tài sắc

Vương Thúy Kiều xưa – đã đoạn tràng

(Mẹ già – Vi Khuê)

Mẹ già là nguyên nhân để Vi Khuê đổ lệ, để tất cả con dân có một chút tâm huyết với Mẹ già đều đổ lệ.

Vâng, chúng tôi hiểu (theo cách hiểu của chúng tôi) rằng Mẹ già đây không phải duy nhất là người mẹ riêng của mỗi chúng ta mà là Mẹ Tổ quốc, Mẹ Việt Nam đang khổ đau khi đêm đêm trằn trọc nghe tiếng đại bác vọng về từ mọi vùng chiến trận, đang xé lòng nhìn những đứa con ruột thịt chia lìa trong khói lửa chiến tranh, đầu rơi máu chảy, nhà trống vườn hoang, cảnh điêu tàn chết chóc cứ hiển hiện hằng ngày, cơ thể Mẹ tả tơi đầy thương tật, tâm hồn Mẹ – tấm dư đồ rách nát tang thương. Mẹ trông chờ đến mòn mỏi, đến tóc bạc da mồi, đến xuân đã tắt, mưa đã giăng, xuân sắc Mẹ còn gì khi cầu đoạn trường vẫn sừng sững cách chia niềm ruột thịt… năm xuất bản tập Giọt lệ (1971) – đó là những năm tháng mà chiến tranh Việt Nam đang ở cao trào. Mẹ Việt Nam – “Mẹ già” của Vi Khuê đang thắc thỏm:

Mỗi ngày mẹ đón đọc tờ báo

Để tìm trong đó chữ hòa bình

Hai chữ hòa bình nét thật xinh

Màu đen lóng lánh như đôi mắt

Của đứa em thơ của lòng mình

Ôi! Mẹ! Mẹ Việt Nam! Vi Khuê và tất cả con dân Việt Nam đang mong đợi: hai chữ HÒA BÌNH!

“THIÊN ĐƯỜNG NHỎ”

Tôi xâm nhập vào thiên đường nhỏ của Vi Khuê với niềm phấn chấn của một kẻ thám hiểm vừa tìm ra kho báu, tìm ra một không gian có dưỡng khí trong lành để no nê hít thở, để bù lại quãng đường gai góc, nước mắt nhiều hơn nụ cười với “Âm thầm cuộc chiến trong tôi/ Chân trong hời hợt chân ngoài bon chen“… Tự mỉa mai mình chi vậy hở Vi Khuê. Nhưng rất may là sau những bon chen đầy khổ ải nhà thơ vẫn “gót son chẳng động dấu thềm liêu trai. Thôi quên gió lạnh mưa dài“… Có “quên gió lạnh mưa dài” để thấy:

Đây thiên đường nhỏ của tôi đây

Có gối chăn và giấc ngủ đầy

Có tiếng chim ca xanh lá cỏ

Có bàn tay để ấm bàn tay…

Đúng vậy, chỉ cần có một bàn tay để sưởi ấm để chăm bẵm vỗ về nhau để có được:

… “Vườn buổi sớm cây đầy trái chín

Bàn chân non đá sỏi ngọt ngào

Tôi lỡ uống một ly trời mát lịm

Cổ nghẹn, vì không biết nói sao”…

Hạnh phúc choáng ngợp đôi khi làm người ta vụng về trong ngôn ngữ để: “Cổ nghẹn, vì không biết nói sao“. Mà cần gì phải nói khi mà:

… “Ở đây có tình người yêu người

Có tuổi mười lăm đòi giận hờn

Ôi cao sang quá tôi làm mẹ

Ngự giữa thiên đàng con, đó con”…

Vâng, con là thiên đường, là kho báu và mẹ là kẻ giàu sang nhất trên đời, vì đã có con, đã được làm mẹ, chỉ cần vậy là đủ, là quá đủ, quá phúc phận:

… “Hạnh phúc đôi khi cũng đủ đầy

Như vầng trăng giữa độ tròn no

Tôi xin ôm lấy thiên đường nhỏ

Và trả cho người ảo mộng xưa”.

(Thiên đường nhỏ – VK).

 

CÁT VÀNG

(100 bài thơ chọn – 1985)
 

“Chim quyên khắc khoải đêm trường

Hồn non nước gọi hàng dương cúi đầu”.

(Vi Khuê)
 

“Ngoài nghìn dặm chốc ba đông

Mối sầu khi gỡ cho xong còn chầy”

(Kiều – ND)

Từ buổi về Liêu Dương thọ tang thúc phụ, cuộc chia ly khắc nghiệt kéo dài mười lăm năm đằng đẵng cho duyên Kim Kiều hai ngã phôi phai, để con người “sắc đành đòi một tài đành họa hai”* phải lận đận “thanh y hai lượt thanh lâu hai lần” **, trăng tàn bóng xế cho lứa đôi bẽ bàng duyên phận trăm năm, chỉ còn niềm an ủi duy nhất là cả hai đã tròn bề hiếu để, vậy đứng về đạo lý thì cuộc ly tan này quá đẹp!

Thế nhưng có cuộc ly tan vì nhiều lẽ nhiều điều với bản thân và của thế hệ kế thừa, để kẻ ra đi nghẹn ngào chân bước ra lòng quay trở lại ngập ngừng căn dặn “nhà hương khói lạnh chị nhờ cậy em” *** và rồi trên bước quan san diệu vợi – người phiêu bạt thẫn thờ quay quắt với tâm trạng: “Ra đi, chân thẳng cẳng dùi, Bâng khuâng nhớ mẹ ngậm ngùi thương em”, nỗi niềm hương khói ấy đeo đẳng hoài trên bước đi của người thơ Vi Khuê; và Vi Khuê đã đúc kết niềm khắc khoải ấy thành thi phẩm có tên gọi Cát Vàng.

Chúng ta đọc “Lời thưa” ở đầu tập của tác giả, để chia sẻ nỗi lòng kết quặn của khách phiêu bồng trên vạn nẻo sông hồ sáng nắng chiều mưa bằng tâm trạng, bằng ý tại ngôn ngoại, bằng cảm thức âm thầm của hai nẻo Sâm Thương bởi “Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc. Ly tán vì cơn gió bụi này” ****.

Ra khỏi bậc thềm nhà cha mẹ; nơi oa oa tiếng khóc chào đời một trăm dặm, hay mười vạn dặm thì vẫn là kẻ thiếu quê hương để tháng ngày phải làm kẻ hành nhân ăn mày dĩ vãng mỗi khi Tết đến xuân về.

Cũng như chị – tôi là kẻ kính ngưỡng Tố Như tiên sinh, vì thế mới mượn hai vế 6-8 trên để mở đầu cho bài cảm nhận tập Cát Vàng.

Để diễn tả sự rối rắm từ tâm tư bất ổn của kẻ ly hương, cảm giác tù túng Vi Khuê viết:

… “Xuân này là xuân thứ mười

Khuây quê hương mới, ngậm ngùi quê xưa

Muốn ra sân để gió lùa

Tóc bay trong nắng ghẹo đùa áo xuân

Lòng như cỏ cứ phân vân

Bước chân chim sáo ngại ngần với ai”

(Xuân trong bốn bức tường – Vi Khuê)

Tương lai là một trạng từ vô cùng đẹp vì nó ban phát cho nhân loại sự đợi chờ, niềm hy vọng vào ngày mai cho hôm nay bền lòng vọng tưởng, cho dù ngày trở về đã chân chồn gối mỏi tóc trắng màu sương.

Mai mốt tôi về đầu đã bạc

Đứng trên cầu cũ nhìn sông xưa

Sóng êm như thuở còn tươi mát

Mười tám xuân nghiêng nón đợi chờ…

(Mai mốt tôi về – VK)

Về để được đứng trên cầu nhìn xuống bến sông xưa, để hồi tưởng lại tuổi mười tám – chao ôi! một hẹn hò, một ước muốn quá dễ thương…

Nhưng đối lập với lời hẹn hò cùng hình ảnh đẹp như thơ ấy là một thực tế đau lòng của tự thân hay của tha nhân qua sự lột tả của Vi Khuê:

… Thì như ai đó mà lưu lạc

Trâu ngựa quê người tủi tấm thân

Ngày phóng xe làm phu hốt rác

Đêm về nằm nước mắt chứa chan
 

Thì như ai đó nữa, bây giờ

Đứng dựa cột đèn, ngó ngẩn ngơ

Dâu bể tan hoang thành phố cũ

Thẫn thờ đi những bóng bơ vơ…

“Thì như ai đó” có thể có ai đó thật, và có thể chỉ là từ phiếm chỉ, là dụ ngôn của tác giả, nhưng sao đọc lên nghe cứ rứt ruột bồi hồi…

Chúng ta trông đợi ngày về của tác giả, về – đúng nghĩa trở về cho dù:

Mai mốt tôi về đầu đã bạc

Đứng trên cầu cũ nhìn sông xưa

Sông ơi! Đá cũng còn cau mặt

Mà nước sông sao cứ lặng lờ?

(Mai mốt tôi về – Vi Khuê)

Hãy về và cứ về đi; hồn non nước đang vẫy gọi – bởi hơn ai hết tác giả cũng đang hoài niệm và tâm niệm ước ao:

… Nhớ khi khép lụa tà xanh

Ta cầm chén ngọc bâng khuâng hỏi người

Bao giờ cho Việt Nam vui

Anh em hòa thuận người người mến nhau?
 

Ôi chao, nhớ thuở ban đầu

Ngàn năm đã dễ qua cầu gió bay…

(Nhớ nụ hồng vàng – Vi Khuê)

Giang sơn này, Tổ quốc này đã có bao ngày chinh chiến điêu tàn, để tình phụ tử gia đình quê hương ly tán, quá khứ của bao người là một trang sử buồn đứt ruột. Chúng ta dễ gì quên những vành khăn tang trắng đầu quả phụ và hài nhi trong không gian xiêu đổ nhà cháy đầu rơi, bởi bom đạn vô tình và cả bàn tay người hữu ý, những bàn tay của bọn ác bá cường hào nơi thôn ổ đã từng gây cảnh điêu linh thảm họa cho bao gia đình lương thiện – mà chỉ vì lòng tư thù hay đố kỵ cá nhân, đã có những trường hợp điển hình như thế:

Ồ không! Thuở ấy mà ly loạn

Chỉ có phà ngang ở bến đò

Cô gái qua sông mười tám tuổi

Trên đầu đã chít chiếc khăn sô
 

Thì thế thì thôi, thì lận đận

Thì long đong, thì đã lênh đênh

Thì như ai đó ngoài mưa lạnh

Chìm nổi theo cơn sóng bập bềnh…

(MMTV – Vi Khuê)

Một giây vô loại buộc hai thâm tình, thằng bán tơ cùng lũ đầu trâu mặt ngựa đã a dua nhau hãm hại Vương ông và đẩy Thúy Kiều vào bước đường luân lạc cho mười lăm năm đứt ruột khách tao nhân – để nhân loại này có một thiên tuyệt phẩm viết về thời “Gia Tĩnh Triều Minh”, thì ở một góc làng nhỏ trên bản đồ miền Trung nước Việt Nam này; lại có một oan sai quy chụp xuống một gia đình, bởi quan điểm bất đồng trong xuất xứ giữa nhân sĩ và khách phàm phu, để tang tóc trùm kín đời quả phụ. Nhưng “gia bần tri hiếu tử” – Tang chế nghiêm đường đưa cô tiểu thư Vi Khuê thông tuệ lên làm trụ cột của gia đình với mẹ yếu và một bầy em thơ dại, nhân vật của “Mai mốt tôi về” oằn tấm thân liễu yếu xuôi ngược giữa chợ đời kiếm miếng cơm manh áo phụng dưỡng mẹ và nuôi nấng mấy đứa em thơ, tấm gương hiếu để ấy, lòng hy sinh ấy, đã được người em kế của nhân vật “Mai mốt tôi về” tụng xưng với tất cả lòng tôn trọng và luật bù trừ đôi khi lại vô cùng chính xác bởi nguyện ước của Vi Khuê đã thành hiện thực rỡ ràng:

Mong một ngày mai em ấm no

Có vuông sân nhỏ có căn nhà

Có riêng ngày tháng tiêu dao nữa

Em sẽ làm thơ: thỏa ước mơ

(NTTD – Vi Khuê)

Bài thơ “Gởi hồn theo sách” tác giả đã bày tỏ niềm tự hào của một con dân đất nước Việt Nam:

Gởi hồn theo sách về thăm nước

Nước mấy ngàn năm Nước gấm hoa

Nước thơm trang sử thơm tình đất

Nước vẫn ngàn năm nước Việt ta

Chúng ta hạnh phúc, Vi Khuê hạnh phúc vì được làm con dân của một xứ sở đã từng có:

Nước có Vua Bà xưa cưỡi voi

Có cô công chúa lấy dân chài

Có Văn chương mở ngàn pho sách

Có Bạch Đằng giang khiếp vía ai…

Gởi hồn theo sách về thăm nước

Cát bụi thân mình lại xót xa

Giá có hồn thiêng sông núi thực

Ngày nao ta trở lại quê nhà?

(Gởi hồn theo sách – Vi Khuê)

Người đọc chững lại ở câu thứ 3 của khổ thơ cuối và suy nghĩ: có lẽ tác giả đã có quá nhiều va chạm, quá nhiều uất ức của gia tư từ sâu thẳm cộng với nhiều trải nghiệm, qua bao cung đoạn phiêu bồng từ Á sang Âu, sang Mỹ đối đầu với bao tình huống thực tế nên niềm tin và đức tin có phần hao hụt, để phải hạ bút hoài nghi: “Giá có hồn thiêng sông núi thực“.

Có chứ sao không – hồn thiêng sông núi kết tụ từ những anh linh của bà Trưng bà Triệu, những liệt nữ anh thư, từ những anh hùng làm nên lịch sử Bạch Đằng, Đống Đa, hồn thiêng sông núi kết tinh từ anh hoa của Ức Trai Nguyễn Trãi, của Tiên Điền Nguyễn Du… của bao máu xương của những người ngã xuống làm phù sa bồi đắp ruộng vườn cho trái ngọt cây xanh dòng Lạc Việt hôm nay.

Người con nào cũng viết về mẹ với tất cả lòng thành kính thương yêu, và người mẹ nào viết cho con cũng đậm đà thấm đẫm niềm âu yếm tự hào. Nữ sĩ Vi Khuê cũng như bao người làm mẹ đã viết về con bằng tất cả chữ nghĩa đẹp qua chùm thơ “Thiên đường nhỏ”, “Khi con còn nhỏ”, “Cho con thiên thần” mà mỗi bài là một lời tình tự nghe đến là thương:

… “Ở đây ríu rít bầy chim nhỏ

Hợp xướng bản tình ca xưa cũ

Tình mẹ muôn đời như trăng soi

Tình con bây giờ như nước lũ…”

(TĐN – VK)

Dưới mắt mỗi người mẹ thì cái gì quý trên đời này đều chỉ duy nhất con mình có mà thôi chẳng thế mà Vi Khuê viết:

… “Chưa nhìn đã thấy cả dung nhan

Con quý con yêu con phượng hoàng

Con đến như trời ban phước xuống

Con nằm nôi nhỏ, rạng hào quang

(KCCN – VK)

… “Tôi ao ước được sống dài trăm tuổi

Để làm người vú bọ dẫn dắt bước em đi…

(CCTT- VK)

Mỗi con người, mỗi thân phận sau bao bon chen hệ lụy rồi cũng đến lúc tự hỏi mình như Vi Khuê đã hỏi:

… “Tôi còn tôi được bao nhiêu

Cái tôi thân thể lụy chiều áo cơm?

(T-VK)

Có vậy thôi, buồn quá nữ sĩ ơi! Đời sống của mỗi kiếp người dài lắm và cũng ngắn lắm, mà cứ loanh quanh với bao hệ lụy buộc ràng từ thực thể đến những ngóc ngách u uẩn của tâm hồn, của ý thức rồi tự tranh biện, độc thoại, phản biện, loay hoay cũng không giải quyết được gì, thì thỏng tay cho nhẹ nhàng, Ninh Giang Thu Cúc đã đọc đi đọc lại nhiều lần toàn tập Cát Vàng và đọc thật kỹ rất nhiều bài mà tính nhạy cảm của nội dung làm mình muốn khóc. Nhưng xin không dám lạm bàn, thôi xin làm thinh chứ không dám bảo “im lặng như chánh Pháp” nghe cao siêu quá. Xin sẻ chia những câu chữ ăm ắp tâm trạng u hoài, phẫn nộ về những điều bất khả mà tác giả đã dàn trải trong thơ. Xin tác giả nhận sự chia sẻ vô ngôn:

“Đẹp vì không thể nói ra

Nghìn thu trắng một vòng hoa mộ người”

(NTTH – VK)



 

ĐỌC VĂN XUÔI CỦA VI KHUÊ

(Truyện ngắn, biên khảo, bút ký, tạp văn)
 

Soạn giả thật sự thích thú khi đọc mảng văn xuôi nhiều thể loại của nhà báo Vi Khuê, ở đó ta bắt gặp sự uyên bác, sự thông tuệ, cả sự dí dỏm và bằng cả nỗi đắng chát của một trái tim nhạy cảm khi phải va đụng vào bao sự, và thế, bao cảnh và tình, nếu bảo phụ nữ là những người dễ xúc động thì Ninh Giang Thu Cúc tôi là trường hợp điển hình, nhưng không phải bạ cái gì cũng giọt dài giọt vắn mà phải có sự tương tác đúng tần số, cho nên khi đọc cái truyện “Truyện ngắn dài 50 mùa xuân” tôi thật sự đau… đau cho nhân vật và đau cả cho mình, đau cho thế hệ con nít chào đời trong bối cảnh xã hội miền Trung Việt Nam vào những năm thuộc thập niên 40 của thế kỷ 20.

Dạo đó, tuổi măng sữa ấu thơ của chúng tôi thường bị xuống hầm trú ẩn để tránh bom rơi đạn lạc nhiều hơn là thời gian ở trên mặt đất, tôi còn được nghe kể lại rằng: hồi đó tôi là một con bé ưa khóc nhè ghê gớm cho nên cứ mỗi lần nghe tiếng máy bay oanh tạc bay vù vù từ xa là bà vú Sáu phải nhét khăn vào mồm tôi để bồng chạy vào hầm, nếu không tiếng khóc tôi sẽ “kêu gọi”, sẽ là mục tiêu để bị tiêu diệt trọn gói, để thành vùng oanh kích tự do. Mới lên năm lên bảy những đứa bé đồng trang lứa chúng tôi đã run bần bật khi thấy từng đoàn tây trắng tây đen đổ bộ vào đường làng ngõ xóm đốt nhà, bắt người, hiếp phụ nữ… Mọi người dân lành vô tội luôn bị ám ảnh, sợ hãi khi nghe ba tiếng “tây đi lùng”, tây đi lùng kéo theo một bầy ưng khuyển vo ve vang tiếng ruồi xanh làm tay sai cho bọn tóc quăn mũi lõ giết hại đồng bào ruột thịt để cướp của, để trộm chó bắt gà…

Tuổi thơ chúng tôi mắt thấy tai nghe những điều như thế đấy, riêng tôi từ phố (đường hàng Bè) tản cư lên hai làng, nội ngoại Kim Long – An Ninh rồi xóm Rào thuộc làng An Ninh Thượng, bầu đoàn lếch thếch, đàn bà con nít dắt díu nhau mà sau này vú Sáu tôi kể lại là không phải chỉ sợ bom đạn mà còn phải ngụy trang mặt mày bằng nước nghệ bằng lọ nghẹ, và áo xống thì phải bôi bết cho dơ dáy hôi hám để bọn tây và lính ta là com măng đô không làm nhục… trời ơi!

Vì vậy chỉ cần đọc “Truyện ngắn dài 50 mùa xuân” của Vi Khuê là chúng ta đã trở về với những tháng ngày cùng khổ của bao người qua sự dẫn chuyện nhẹ nhàng ẩn áo của tác giả Vi Khuê.

Với phần biên khảo, khảo luận cây bút của Vi Khuê tỏ ra sắc sảo ở mọi chủ đề – bàn về các danh nhân văn hóa văn học bà đã mổ xẻ rạch ròi tôn vinh đúng mức, lý luận chặt chẽ, người đọc bị thuyết phục với nhiều luận cứ chính xác như ở bài “Ngày xuân nhớ bà Tú Xương” và bài “Hai giả thuyết về ý nghĩa một bài thơ“.

Về mảng sân khấu – không biết ta nên khóc hay cười với kịch bản “Đứa con đẻ hộ” và “Nước mắt mẹ già.” Mỗi kịch bản là một cái nấc nghẹn đắng ở cuống họng cho mọi con người nếu thật là người có đủ tư chất cốt cách của loài động vật cao cấp có xương sống.

Nhìn chung ở mọi lãnh vực văn hóa, văn học, báo chí mà Vi Khuê tham gia đóng góp hoạt động, suốt chiều dài của cuộc đời bà từ thuở thanh xuân đến ngày bạch phát, sự cống hiến trí tuệ, công sức của bà cho gia đình và xã hội – cả Đông lẫn Tây là một mốc son rất đáng tự hào của nữ giới Việt Nam và nói riêng là của phụ nữ Thừa Thiên Huế.

Quả là xứng đáng khi bà được góp mặt trong “Tự điển tiểu sử nhân vật Quốc tế” (Dictornary of internatinonal Biography của nước Anh) và tên bà được trang trọng nằm trong tự điển American Bio- graphical institute, in (ABI) xuất bản ở Mỹ.

 Bộ sách đồ sộ “Nữ sĩ Việt Nam” do nhà xuất bản Văn học Việt Nam ấn hành là công trình của nhà văn Như Hiên, thì nữ sĩ Vi Khuê là một trong một trăm ba mươi bảy vị được giới thiệu từ cổ cận đến hiện đại.

PHẦN THƠ TIÊU BIỂU CỦA VI KHUÊ
 

NGUYỆT TẦM DƯƠNG
 

Yêu người tự thuở tôi lên mười

Mỗi phút mỗi giờ tôi đều thở

Thở bằng hơi thở của người thôi

Nuôi tôi khôn lớn bằng sữa mẹ

Xanh xao ngôn ngữ liễu thơ Đường

Nuôi tôi đài các bằng hoa lệ

Chín tầng cung Hán nguyệt Tầm Dương
 

Nuôi tôi người đã nuôi tôi mộng

Liêu Trai nghìn giấc nhớ thương chàng

Đâu bến Cô Tô thuyền buộc chặt

Nghìn năm còn vọng tiếng chuông vàng?

Và đâu hoàng hạc bay, bay mất

Để còn trơ lại mái lầu hoang?
 

Hỡi ơi, người khách Minh Hương cũ

Quê ngoại chàng yêu, tôi yêu chàng

“Rạc rời vó ngựa quá quan

Cờ treo ải cũ, trăng đàn mộng xưa…”
 

Người yêu, ừ nhỉ, yêu người thực

Tiềm thức khôn nguôi hận Thủy Hoàng

Mơ thấy tiền thân mình họ Lý

Bút mực thương hoài nét Đỗ lang…

 

KHÓC MẸ

Nửa đêm thức dậy nhớ quê hương

Khóc mẹ ngày nao cầu đoạn trường

Ai đó chẳng qua chân dạo bước

Mình đây quả thực biển thành nương

Bấy nhiêu năm lệ hòa cùng máu

Hơn nửa đời ruột nát như tương

Khắc khoải canh dài non biển ấy

Khuya sầu nghe tiếng quốc kêu sương
 

NHỚ
 

Xa nửa vòng kia trái đất này

Nhớ về xứ Huế hạt mưa bay

Sao lênh đênh thế – dòng thu lệ

Luống võ vàng ôi – nét liễu mày

Thương bấy tang điền kinh mộng thiếp

Lấy gì xuân tứ đáo Liêu Tây

Trời hành chi rứa năm trăm lẻ

Nghĩ tủi Huyền Trân lạc bước giày

2008

 

THẠCH BÌNH THÔN *
 

Dù xa muôn dặm nẻo đường xa

Vẫn gói lòng riêng mối thiết tha

Con hói, lênh đênh bèo, sóng giạt

Rìa bưng, hiu hắt lá, sương sa

Biết bao biển lệ, dòng mưa cũ

Cả một trời thương, giọt nắng tà

Hỏi Thạch Bình đâu nương náu nhỉ

Cho non nước những não nùng hoa?

* Thạch Bình thôn: Làng nội của tác giả

CHỢ CHIỀU
 

Luống ngẩn ngơ theo buổi chợ chiều

Kẻ qua người lại dáng đăm chiêu

Đồi xa cỏ lạnh liềm trăng lửng

Bến vắng cành khô ngọn lá vèo

Rổ cá con lằn xanh đủng đỉnh

Cành bông cái nhặng biếc liêu xiêu

Sương sa ngõ trúc tìm đâu thấy

Chỉ thấy lưng đèo sợi khói xiêu

 

MƯA XUÂN Ở VIRGINIA
 

Mưa xuân tầm tã mấy hôm nay

Chẳng khác trời Nam chút mảy may

Chạnh nhớ cố hương phong cảnh cũ

Vui chi khách địa nước non này

Mẹ còn tuổi hạc mong hôm sớm

Em vẫn phòng thơ đợi tháng ngày

Thời thế đẩy đưa nên nỗi thế

Cho bao châu lệ ướt tờ mây

 

THU Ở VIRGINIA
 

Chợt nắng đào tuôn khắp nẻo đường

Mùa thu! Và đất rất thơm hương

Nõn nà mây trắng giăng trời biếc

Phơ phất sương lam đỗ nụ hường

Nhớ một con thuyền xưa lạc bến

Đau nghìn trang giấy mới nên chương

Chút ray rứt nọ từ thiên cổ

Lẽo đẽo theo mình quá đại dương

1984

 

XUÂN TRONG BỐN BỨC TƯỜNG
 

Chúng tôi mặt mày tan nát

cười cười nói nói như ma

chiến tranh một đời dọa nạt

còn theo cho đến tuổi già
 

Tuổi già ở nơi xứ người

kinh hoàng như bức tường vôi

tối ngày nghe vang vang dội

tiếng kêu lở đất long trời
 

Vợ chồng nhà hàng xóm Mỹ

đánh nhau thảm thiết từng đêm

vợ trẻ ôm bầu rên rỉ

chồng son rượu đã say mèm
 

Ghế bàn tung qua ném lại

tiếng gào thống khổ bi ai

chiến tranh của loài cóc nhái

oang oang rộn cả đêm dài
 

Nằm trong bốn bức tường vôi

nghe chiến tranh nhà hàng xóm

giao thừa có con đom đóm

lập lòe tự cõi xa xôi
 

ta đang đi giữa chiến trường

tên bay đạn lạc mười phương?

mười năm nấm mồ chưa ổn

nằm im trong bốn bức tường
 

Nằm im trong bốn bức tường

nghe âm thanh vọng chiến trường quê xa

lao đao tóc trắng mẹ già

lênh đênh bãi muộn, đò qua một người…
 

Xuân này là xuân thứ mười

khuây quê hương mới, ngậm ngùi quê xưa

muốn ra sân để gió lùa

tóc bay trong nắng ghẹo đùa áo xuân

lòng như cỏ, cứ phân vân

bước chân chim sáo ngại ngần với ai
 

Xuân xưa mái tóc em cài

lược hoa, em vẽ mày ngài núi hoa

xuân nay áo tím hoa cà

lòng ta như áo, hỏi đà tím chưa?
 

Xuân về mà trời cứ mưa

Nam – phương – hành khách đã về chưa?

thương em tay với bèo không nổi

bốn bức tường nghe lộng gió lùa!

 

NHỚ NỤ BÔNG VÀNG

Vui gửi chị K.M
 

Hôm nay ta nhận thư Người

đã không còn chữ “kính” thời mới quen

bây giờ đã gọi trống tên

ngày mai gọi họ, mốt quên hỏi chào?
 

Ôi chao, nhớ thuở ban đầu

lời ra trân trọng, lời vào gởi thưa

nhớ hương gió dịu dàng đưa

dưới bông vàng nụ phất phơ áo mình
 

Nhớ khi khép lụa tà xanh

ta cầm chén ngọc bâng khuâng hỏi người:

bao giờ cho Việt Nam vui

anh em hòa thuận, người người mến nhau?
 

Sông sao sông chẳng có cầu

người sao người chẳng có sầu nước non

chim quyên khắc khoải đêm trường

hồn non nước gọi, hàng dương cúi đầu…
 

Ôi chao, nhớ thuở ban đầu

ngàn năm đã dễ qua cầu gió bay

gởi người, ta gởi bàn tay

gởi người, ta gởi chau mày dưới hoa

 

NGÀY THÁNG TIÊU DAO
 

Mong một ngày mai em ấm no

Có vuông sân nhỏ, có căn nhà

Có riêng ngày tháng tiêu dao nữa

Em sẽ làm thơ: thỏa ước mơ

TÔI
 

âm thầm cuộc chiến trong tôi

chân trong hời hợt chân ngoài bon chen

nửa lên, vút cánh diều lên

nửa sa, sa thấp phận hèn rong rêu
 

khi ôm, ôm chặt ôm liều

khi buông, rời rạc phiêu diêu rã rời

hỡi ôi! cánh hạc lên trời

con chim ca cút vọng lời thế gian
 

trong tôi cuộc chiến âm thầm

bèo trôi chút phận, dấn thân cũng liều…
 

tôi còn tôi được bao nhiêu

cái tôi thân thể lụy chiều áo cơm?

PHẦN VĂN TIÊU BIỂU
 

TRUYỆN NGẮN DÀI 50 MÙA XUÂN
 

– Đị! Vô đay tau biểu!

Chú Thỏ đứng lựng lựng ngay giữa cửa, tay cầm cây roi mây dài cặp mắt sắc sảo từ từ liếc về phía ba đứa con gái nhỏ đang ngồi xoạc cẳng chơi đánh thẻ dưới gốc cây ngoài sân. Ba đứa chơi say mê. Chưa nghe thấy tiếng người đàn ông gọi, tiếng gọi tuy lớn nhưng cụt ngủn, lầm lì. Anh ta nhướng cặp mày rậm lên, nạt lớn ra ngoài sân:

– Đị! Đi vô đay tau biểu!

Đứa con gái tên là Đị khoảng lên 10, mặc quần đen nhưng ở trần, vội vã ném nắm thẻ đang cầm trong tay xuống nền đất, đứng dậy, vừa đưa tay phủi mông quần theo thói quen, vừa cắn hàm răng trên vào môi dưới, cái môi đỏ chót và mọng như quả dâu chín muồi. Con nhỏ phụng phịu bước về phía cha nó đang cầm roi.

– Răng tau kêu mi về, mi đứng ngó tau chằm bằm rứa nê hả? Đị! Tau dạy mi noái răng?

– Dạ, thưa bọ kêu tui.

– Ừ, tau kêu mi. Tau hỏi: răng mi con gái con lứa mà ở trần trùng trục rứa? Mi có phải thằng đực mô mà ở trần? Tau biểu mi mấy chục trăm lần rồi?

– Dạ thưa bọ, bị xuống dưới sông tắm, cái áo để trên bờ đứa mô thu mất.

– Răng hắn không thu cái quần mi luôn?

– Dạ cái quần thì cột chạc lưng lên cổ mà tắm chớ có khi mô cổi ra!

– Khỏi chối bải bải. Mi nằm xuống đay.

Nhìn ánh mắt cha đã long lên sòng dọc, đứa con gái biết rằng nó phải nằm sấp xuống nơi cái chõng tre kia, Vút, vút, vút… Chiếc roi mây trót lên cao rồi trét xuống thấp, rít lên như gã ghiền thuốc Lào rít một hơi đã đời, hai hơi đã đời.

– Ui, ui, lạy bọ tha cho tui… Đau quá, đau quá!

– Rồi, đủ rồi, năm roi. Đứng dậy, vòng tay tau hỏi!

Đứa con gái nhỏ nước mắt dầm dề ríu ríu ngồi dậy, đứng vòng tay trước mặt hắn. Hắn đưa mắt ra sân, thấy hai con nhỏ bạn của con Đị đang ngấp nghé đứng sau gốc cây nhìn vô, thích chí hỏi:

– Đị, mi biết tại răng tau đánh mi khôông?

– Dạ khôông.

– Nghe đay: điều thứ dức, tau biểu mi ngồi trong dà mà lượm trú cho hết thúng gạo nớ, răng mi bỏ đi tắm sông rồi đánh thẻ?

– Dạ, mô có, khi nớ tui râng lượm trú thì bọ vô bọ nạt, bọ nói “răng mi cứ ngồi lượm ba hột trú hoài, xốn mắt tau quá, xéo ra ngoài tê ngay lập tức”, tui mới đi xuống sông đó chớ!

– Ừ hả, rứa thì tau quên. Còn điều thứ hai, chuyện ni không phải chuyện giỡn, răng tau dặn tới dặn lui hoài mà mi cứ qua mặt cha cố tổ mi? Mi biết điều chi không?

Hắn vừa nói vừa vớ lấy cái roi như chực vút nữa vào mông đứa con gái ở trần, trắng trẻo trước mặt hắn:

– Dạ, dạ, tui dớ. Chuyện con Sim.

– A giỏi! Đị, con giỏi. Dớ răng, nói bọ nghe.

– Dạ, bọ dặn đừng chơi với con Sim.

– Vì răng?

– Dạ, vì cặp mắt hắn là cặp mắt lươn, lớn lên làm đị, ăn cắp, ăn trộm…

– Rồi răng nữa?

– Dạ dạ, tui không dớ.

– Đị, mi nghe đay. Tau nói lần ni nữa là lần cuối. Mi không được chơi với con Sim, cha hắn là giặc, đi theo Việt Minh. Nghe chưa?

Thỏ nói xong câu đó với đứa con nít, liền ngồi quay mặt nhìn lên mấy tấm ảnh trên kệ thờ, cặp mắt mơ màng như nghĩ ngợi mông lung, chẳng còn để ý gì đến nó nữa. Con Đị sè sẹ rút lui vô trong bếp múc nước rửa mặt. Qua tấm phên tre trét vôi, nó nhìn thấy một chấm đen từ một con mắt nhỏ rí của con Sim đang đứng ở ngoài thám thính tình hình bị đòn của nó. Nó không dám cất tiếng nói hay làm dấu làm hiệu gì với bạn nó cả, nhưng vừa xúc gạo vô nồi để nấu cơm chiều, nó vừa liếm cặp môi mọng đỏ chót, vừa nghĩ: “Bọ tau nói chi mược cha cố tổ ổng chớ! Cặp mắt mi nhỏ thiệt, nhưng tau có thấy nó lươn ếch chi mô, còn mi thì thương tau hơn ông bọ nớ diều, sức mấy ổng cấm tau chơi với mi nữa, Sim ha”.

Con Đị cả gan nghĩ hỗn về cha nó như thế lần này là lần đầu, dù rằng đây không phải là lần đầu nó bị đòn oan ức như vậy. Trung bình mươi bữa nửa tháng thế nào nó cũng bị cha nó nện một trận với những câu hạch tội hết sức ngang ngược, vô lý, ai nghe cũng phải bật cười:

– Đị, răng tau biểu mi đứng đay, mi cứ lủi vô trong bếp?

– Đị, răng tau biểu mi ăn cơm thì ngửng mặt lên ngó mặt tau mà mi cứ gằm mặt xuống mi và?

– Đị, răng mi thông minh rứa, mới học lai rai mà mi đã đọc lén tiểu thuyết bậy bạ? Coi chừng tau!

– Đị, Đị, Đị, răng mi…

Khi thì chuyện ni, khi thì chuyện khác, nhưng chuyện chính vẫn là cặp mắt của con Sim: “Cặp mắt hắn là cặp mắt lươn, lớn lên làm đị, ăn cắp, ăn trộm…”.

Có người nói rằng mấy anh em nhà Thỏ hồi trước ỷ giàu có, nên chúng bắt nạt trẻ con nhà nghèo trong vùng đã quen, nay không có ai để bắt nạt, Thỏ phải trút cái bản chất tàn bạo của hắn vào đứa con gái sống sót này. Người khác lại cho rằng cha mẹ hắn tuy có cho vay cắt cổ cứa họng, nhưng cũng là thần hộ vệ cứu giúp cho dân nghèo khắp vùng gần xa có hột cơm mà ăn, nhất là trong những năm trời làm cơn lụt hay gây nạn đói. Người khác nữa lại bảo nói như vậy là thiên lệch, thành kiến với nhà giàu, chứ ông Khóa ngày trước giàu thì có giàu nhưng là cái giàu mồ hôi nước mắt của nông dân, đâu có bóc lột hà hiếp ai. Chẳng qua chú Thỏ này quá buồn quá uất với cảnh ngộ riêng tư của mình mà sinh ra trái chứng như thế thôi.

*
**

Đị vẫn thường bị cha đánh đòn luôn, nhưng lần này những lằn roi quái ác giáng xuống như với tất cả hằn thù làm nó nhức buốt cả đêm, không tài nào ngủ được dù rằng nó đã cẩn thận xoa nước muối cùng khắp, dọc theo những vết thương dài trên mông. Rồi nó phát nóng lạnh, nói mê sảng khiến cha nó phải mời chú y tá Tòng tới bắt mạch và cho thuốc. Hôm sau nữa, nó mới chạy chơi lại được thì cha nó kêu về nói “có cô Châu từ thành phố Huế về thăm”.

Coi bộ cha nó lăng xăng mừng rỡ quá, khiến nó hiểu rằng cô Châu này rất là quan trọng. Cha nó nói cô là em họ ổng, con gái của bà cô ruột ổng. Đó là một cô sang trọng và đẹp đẽ, đi guốc cao gót và bận áo dài kiểu. Tóc thì uốn quăn quăn, o Tằm kêu là tóc “phi dê”. Cô đi từ thành phố Huế về làng quê bằng xe đò, những chiếc xe mà Đị và lũ trẻ tắm ở bờ sông thường thấy chạy ngang qua ngoài đường cái, thấp thoáng sau bụi cây um tùm bên kia bờ. Cũng chưa có khi mô mà Đị đã có dịp băng qua bên tả ngạn, trèo ra con đường lớn đó để mà nhìn cho kỹ thế nào là một chiếc ô tô chở người ta đi từ chỗ này đến chỗ nọ thật xa, chở người ta từ một thành phố nghe nói cũng sang trọng đẹp đẽ như cô Châu, về một chỗ quê mùa hẻo lánh như cái làng này của cha con nó. Nói vậy chớ không phải là ở trong vùng này không có người giàu và nhà đẹp; nhà như nhà của ông Thị,  ông Hường ở làng trên là hai ngôi nhà mới cất, nhìn từ xa đã thấy tòa ngang dãy dọc, mái ngói đỏ rực nổi bật giữa đám tranh xơ xác lè tè. Trong nhà thì nền gạch bông và đồ đạc bằng gỗ cũng choáng lộn, chắc gì ở thành phố mà có được như vậy.

Nhưng dù sao sự kiện cô Châu từ thành phố Huế về thăm “chú Thỏ”, ở lại trong cái nhà lụp xụp này cũng là đầu đề cho mọi người chú ý và bàn tán. Riêng đối với Đị thì thật là một biến cố lớn lao làm đảo lộn, quay cuồng cả đầu óc, kể từ khi cô Châu đến… từ lúc xế trưa, đi theo có mấy đứa trẻ bên kia sông dẫn đường…

Tối hôm đó, sau khi Đị nằm thiêm thiếp như ngủ trên chiếc giường tre quen thuộc kê sát cửa sổ, cha nó và cô Châu mới bắt đầu nói chuyện nghiêm trọng. Con bé nghĩ thế, vì nó lắng tai nghe thấy hai người không còn dùng ngôn ngữ lúc ban ngày, khi họ mới gặp nhau. Nhất là cha nó đã biến ra là một người khác hẳn với giọng nói dịu dàng, với cái bóng đen hắt trên nền vách quét vôi trắng cái mặt nhìn nghiêng với sóng mũi cao thật thẳng trên môi ngậm điếu thuốc lá tây, từ từ nhả khói lên trần nhà, trong khi cô Châu chống một tay lên cằm, hai bàn chân có móng sơn óng ánh màu hồng bạc gác chéo qua nhau trong đôi guốc cao gót, dưới gậm bàn.

Xưa nay, con bé chưa bao giờ trông thấy cha nó như vậy: ngồi nói chuyện nhỏ nhẹ với một người đàn bà nơi cái bàn, giữa có đặt bộ đồ trà quý, hạ từ trên bàn thờ xuống, miệng phì phèo điếu thuốc lá tây, từ từ nhả khói lên trần nhà… Xưa nay, con bé cũng chưa bao giờ thấy trong làng một người đàn bà trẻ đẹp, tóc uốn loăn quăn trước trán, lòa xòa phủ bờ vai, và nhất là mười móng chân có sơn màu óng ánh làm nó mê nhất. Trông sang trọng làm sao. O Tiềm con ông Thị đẹp nhất huyện cũng đâu có sang như vậy… Nhưng nó giật mình khi lắng tai nghe rõ câu chuyện trao đổi giữa hai người.

– Anh Thơ à, bây giờ không có ai, anh hãy nói cho em nghe: vì răng anh lại đổi tên chi lạ rứa mà không báo cho em biết trước, để em hỏi không ra nhà? Người ta nói ở đây chỉ có chú Thỏ, không có ai tên Thơ. Em phải nói tên cậu mợ ngày xưa người ta mới biết. Nói em nghe, tại răng rứa anh?

Người đàn ông vẫn nhìn cô em họ qua làn khói thuốc, lặng im thật lâu.

– Tên anh. Còn tên cháu nữa! Làm chi mà đến nỗi anh đặt cho cháu một cái tên thảm hại, tội nghiệp như rứa! Đị! Thiệt là tàn nhẫn! Tại răng rứa anh?

Nghe nói tới mình, con bé nằm im thin thít. Nó nghe cha nó cười khẩy khẩy, và nó thấy, qua tia mắt mở lén, cặp mắt của cha nó nghiêm nghị buồn rầu trông lạ làm sao.

– Thì cha là Thỏ thì con là Đị! Nếu có một thằng con trai nữa thì anh đã đặt tên là thằng Ị cho luôn! Cuộc đời mình thảm hại răng thì mình đặt tên rứa, có chi mô mà thơ với mộng, nghe thêm buồn cười!

Cô Châu thở dài, mắt nhìn xuống đất:

– Thì trời long đất lở, cuộc đời ai cũng thay đổi hết, em nghĩ anh cũng không nên tàn nhẫn quá. Mình giận đời thì đời giận mình, có ích lợi chi… À em quên hỏi, cháu sinh năm nào vậy?

– Năm 1947, năm nay 10 tuổi. Nó mới khóc oe oe thì nhà anh bị cháy, chết cha, chết mẹ, chết vợ… gia tài sự nghiệp tan tành ra tro… em biết rồi mà.

– Em biết, nhưng không biết rõ. Kể từ ngày ấy, rồi gia đình em hồi cư về Huế với hai bàn tay không, mẹ góa con côi, lo cho có miếng ăn đã tối mặt tối mày, nên khi nghe tai nạn đến cho nhà cậu mà đâu có ai về được, khốn nạn quá đi thôi! Sau mười năm, nay em mới lại hồn để tìm về, ngờ đâu anh đã thay đổi quá. Mỗi lần nhắc lại thời gian gần một năm tản cư, gia đình em đã sống nhờ cửa cậu mợ mới có cơm mà ăn nhà mà ở, công ơn chưa đền đáp thì cậu mợ đã ra người thiên cổ! Anh Thơ, mẹ em nói nhà cửa cậu ra tro vì lệnh của Việt Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến, triệt để tiêu khổ kháng chiến, vườn không nhà trống, ai cũng bị hết, riêng chi nhà mình…

– A, cô muốn nói ai cũng bị hết, riêng chi nhà mình, vậy có chi mà oán hận phải không? Ha ha… nhưng nhà anh cháy không phải vì tiêu thổ kháng chiến. Nhà anh cháy vì bị kẻ thù đốt, nó đốt cho chết cha anh, mẹ anh, vợ anh như lời nguyền…

– Thật vậy sao? Ai thù ai vậy anh? Anh kể cho em nghe, còn hơn ôm lấy một mình nỗi bất hạnh, em van anh.

Con bé nằm trên giường nghe ớn lạnh rùng mình khi thấy cha nó đứng dậy, đi đi lại lại chung quanh chiếc bàn nhỏ. Câu chuyện này nó chưa bao giờ nghe nói tới, chưa hề biết một tí mảy may. Hình ảnh cha nó đêm hôm nay, trời đã về khuya, qua ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu, cũng là một hình ảnh hoàn toàn xa lạ đối với nó. Rất lâu, cha nó mới cất giọng, nói chậm rãi một hơi dài:

– Ừ, thế nào anh cũng phải nói ra một lần, trong đời. Anh không kể cho Châu nghe thì kể cho ai. Em nghe đây: Thật ra, câu chuyện đã bắt đầu từ thời Tây còn cai trị, vào năm 1943. Thuở đó, cha mẹ anh giàu có nhất làng, ruộng hàng trăm mẫu, nhà, như em biết đó, những ngày tản cư em đã về. Năm ấy, em gái út của anh tên Thao mới 15 tuổi xinh đẹp lạ kỳ, nó chỉ đi học mỗi buổi sáng rồi về nhà trửng giỡn, chớ không hề phải ra ngoài chợ lo chợ búa hay ra đồng trông nom thợ cấy thợ cày như các chị của nó. Một ngày kia, cha mẹ anh khám phá ra… nó đã chửa hoang! Trong lúc cha mẹ anh đang âm thầm tính liệu để cứu nó, cứu nó khỏi tai tiếng tủi nhục, chứ không hề la mắng… Ôi, em biết, Thao còn ngây thơ ngu dại biết chừng nào. Thế mà, không nói không rằng, không than không khóc, nó dám treo cổ lên xà nhà tự tử chết. Gia đình lo chôn cất trong âm thầm lặng lẽ, bí mật được giữ kín như bưng, không hề ai hay biết để xì xèo chi cả. Nhưng cha mẹ anh đau đớn quá, thương nhớ con đến độ khóc thầm điều tra để tìm cho ra đứa đã gây thảm họa tày trời này. Đàn ông con trai, có ai đâu ngoài mấy thằng tá điền lảng vảng ở nhà dưới, ở ngoài sân, những đêm trăng bày ra giã gạo hát hò chi đó. Nhưng không thấy có tên nào đáng nghi là đã có dịp lân la để mà quyến rũ con Thao, để rồi gây nên cái chết oan khốc cho đứa con gái cả nhà cưng như cưng trứng.

Câu chuyện tưởng chừng đã chìm trong lãng quên sau khi Thao chết được ba tháng. Ai ngờ…

Người đàn ông ngừng nói. Đứa bé không nghe rõ lắm cha nó nói gì, nhưng câu chuyện vô cùng hấp dẫn nó. Nó trở mình, xây mặt vào trong để mở to thao láo cặp mắt. Cô Châu rót một chén nước mời anh:

– Anh ngồi xuống với em, anh Thơ.

– Ừ, đã 14 năm qua mà anh không quên được buổi tối hôm ấy, buổi tối mà cha mẹ anh khám phá ra kẻ bị tình nghi. Hắn đứng chắp tay cúi đầu trước bàn thờ con Thao lúc 1 giờ đêm, cả nhà đang ngủ say. Cha mẹ anh ngủ trong buồng gần chỗ thờ, anh ngủ ở nhà ngang, hai chị nó cũng ngủ nhà ngang. Cửa đóng then cài kỹ lưỡng. Mẹ anh thức dậy tình cờ bước ra chẳng biết để làm chi, thì thấy một thằng đứng đó. Bà la lên, la lên thật to những tiếng thất thanh. Hắn vẫn đứng đó, vì biết chạy không thoát.

– Dậy mau, cả nhà ơi! Có thằng Sở Khanh đay rồi! Tui bắt được quả tang hắn đang vái lạy con Thao. Chính hắn đay rồi, hắn tới nộp mạng!

Cha anh vác gậy sắt đánh tới tấp vào lưng vào đầu hắn. Cả nhà thức dậy đứng nhìn cảnh hỗn loạn diễn ra trước bàn thờ. Cha anh cứ nện tới tấp những cú gậy sắt vào người hắn mà không cần nhận diện xem hắn là ai. Chỉ trong chốc lát, hắn ngã quỵ nằm bất tỉnh trên nền gạch bông. Anh thất kinh khi nhận ra hắn. Anh kêu mẹ:

– Mẹ ơi, thằng Liệt đay mà! Mới khi mơi hắn còn đi bắn chim với con. Thằng Liệt mà mẹ! Hắn mà dám làm chi bậy bạ, hắn là đứa hiền lành thật thà nhất trong làng ni, hắn đạp nước, gặt cấy cho nhà mình từ nhỏ tới lớn, mẹ biết mà!

Anh bước tới, đỡ hắn dậy. Hắn hé cặp mắt nhỏ, lờ đờ. Cha anh cầm gậy hét lớn trong đêm khuya:

– Thằng Liệt, phải rồi. Thử ngó lại cặp mắt mà coi. Mấy ông thầy tướng trong làng đều có biểu tui “coi chừng thằng Liệt, cặp mắt nhỏ rí, ti hí mắt lươn”. Ừ hử, tướng nói không sai “trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người!”. Phải mi, phải mi quyến rũ con tau không? Chừ mi giữa đêm hôm lẻn vô nhà tau. To gan thiệt. Đúng là gan ăn trộm. Rứa mà cả năm nay tau tìm không ra ai, chừ hồn oan bắt mi tới nạp mạng!

Rồi thằng Liệt ngồi dậy được, gò má sưng tấy lên, tay chân rã rời với trận đòn thù. Thằng Liệt, hắn là bạn bắn chim của anh cả chục năm trời, dù rằng hắn là người làm công của cha anh, hắn là tá điền. Anh nhớ, có nhiều lần đi bên cạnh anh hắn thường hay bị chọc ghẹo vì cặp mắt nhỏ. Người ta nói hắn gian xảo, có tướng đầu trộm đuôi cướp. Nhưng chưa có ai có dịp chứng minh điều này, thì bây giờ là cha anh!

Khi thằng Liệt kéo ống quần màu nâu lên, anh thấy máu tuôn xối xả từ đầu gối hắn đỏ loét. Hắn tựa thành ghế đứng dậy chỉ thẳng vào mặt cha anh, nói lộn xộn:

– Mấy người… bọn nhà giàu độc ác! Mi đánh tau què rồi, mi biết không? Tau không biết có sống nổi không hay là sẽ chết, nhưng cũng nói cho mấy người biết: tui biết o Thao chết rất tội nghiệp nên tui thương, thương tình anh em biết nhau lâu ngày… Tui thương quá nên lẻn vô thăm, lạy trước bàn thờ… Tui ăn ở có tình có nghĩa… rứa thôi… Nhưng tình ngay lý gian. Này ông, ngó lại cái mặt tui coi! Mắt tui trời sinh ra, cha mẹ sinh ra… Còn tui, tui lương thiện hơn mấy người nhiều lắm. Mấy người nói chi, tui không hiểu…

Cha anh sấn tới. Mẹ anh năn nỉ:

– Thôi ông, để cho hắn đi. Chuyện đã qua rồi làm ồn thêm tai tiếng.

Thằng Liệt lết ra phía cửa, nước mắt tuôn trào từ cặp mắt một mí nhỏ li ri.

Đến bây giờ anh còn nghe câu nói cuối cùng của hắn:

– Tau mà què, tau sẽ đốt nhà bây, tau sẽ đốt cháy cha con vợ chồng bây!

Hắn lết qua khỏi cửa, để lại vết máu dài trên đường tẩu thoát. Chỉ hai năm sau đó, hắn trở lại trả thù. Rứa đó.

Cô Châu khóc lên thành tiếng, nắm tay lại đập trên bàn:

– Vậy mà bao năm nay mẹ em cứ kể là nhà cậu mợ tan hoang vì Việt Minh tiêu thổ kháng chiến!

– Có. Có tiêu thổ kháng chiến, nhưng sau đó mấy tháng và có ai chết mô. Còn nhà tui cháy, cha tui cháy, mẹ tui cháy, vợ tui cháy là do thằng Liệt. Hắn đem hận thù riêng ra làm giấy chứng nhận gia nhập đảng Bạo Lực, hắn hướng dẫn giặc cộng đốt phá nhà tui, cha tui, mẹ tui, vợ con tui. May mà tui chạy thoát bồng theo được đứa con sống sót đó.

Cô Châu thổn thức, rung động cả hai vai:

– Có một đứa con sống sót đó, vậy mà anh đâu có thương cháu. Em bước vô nhà nghe anh kêu tên cháu Đị, Đị, em biết anh điên rồi! Mà này, anh có cho cháu học hành chi không?

– Cũng học lai rai ngày ba chữ với một ông đồ bình dân học vụ mà đã nghiện tiểu thuyết rồi. Thôi, con gái học nhiều làm chi!

– Sao anh không đích thân dạy cháu học? Sao anh không mở lớp dạy trẻ con nghèo trong làng? Ngày em về tản cư anh đã học xong năm thứ hai ban Thành Chung rồi mà.

– Học nữa cũng không làm chi, huống là cái bằng Ri-me thời Pháp thuộc! Buồn một nỗi là mình muốn quên đi dĩ vãng mà hàng ngày cứ phải trông thấy đứa con gái của hắn chơi với con gái của mình.

– Hắn mô? Anh nói ông Liệt hả? Ủa hắn đã theo tập kết ra Bắc từ sau vài năm cướp chính quyền rồi mà, sao lại có con gái để lại đây mà chừ chơi với con anh? Mà con nít chơi với nhau kệ hắn chớ!

– Thì hắn theo cộng sản từ 1943, người ta nói rứa. 1945 hắn về làm lớn, hắn cưới vợ đã rồi mới trả thù xưa, đốt nhà anh, cha anh, mẹ anh, vợ anh. Khi đi tập kết, bọn hắn đều để vợ con lại làng. Con nít chúng chơi với nhau kệ chúng, phải rồi. Nhưng vấn đề là anh không muốn nhớ tới thằng Liệt. Em biết không, ngày hắn bỏ làng ra đi, lết cái chân què, hắn mới có 17 tuổi, có biết chi mô. Mà… em Châu, anh biết hắn không phải là thủ phạm vụ con Thao!

– Thôi, thôi, đừng nói nữa! Như vậy là anh thương ông Liệt nớ quá rồi, chớ đâu phải là anh ghét! Anh không hiểu tình cảm của anh… Anh thù hận hắn nhưng vẫn thắc mắc lương tâm về hắn. Thử hỏi: khi hắn đốt cháy nhà anh, cả cha, cả mẹ, cả vợ con anh, hắn có hề nhớ chi đến chuyện ngày xưa đã từng được anh đối xử tử tế? Người ta chỉ đánh mình què thôi, mà mình đốt chết cả nhà người ta, thứ thù hận như thế không thể thông cảm được…

Cô Châu ngửng mặt lên, gò má cao khác thường. Và cô đưa lên đưa xuống trước mắt người anh hai bàn tay gầy thon hơi xương xẩu, như phân trần, như tranh luận với ai. Giọng nói trở nên mạnh mẽ và gay gắt:

– Anh Thơ à, lỗi lầm trầm trọng của phía bên kia vĩ tuyến là đã có nhiều người đến giờ này còn đọc, còn thích, còn tán thưởng cái truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao. Thật không có gì sai lầm cho bằng. Cha Liệt nó cũng chỉ là một thứ Chí Phèo của Nam Cao, thật quá khích, thật quá trớn! Những mẫu người quá khích ấy không có chỗ đứng trong lòng dân tộc đâu. Chẳng có gì đáng để cho anh giờ này còn thắc mắc lương tâm với hắn cả. Anh nghe không?

Phèo…phèo… phèo… Con Đị nghe tiếng được tiếng mất, những tiếng lạ tai khó hiểu quá. Rồi ánh đèn phụt tắt trên mặt con nhỏ lúc nào không hay. Nó ngủ thiếp đi, không biết câu chuyện giữa hai người còn kéo dài bao lâu nữa.

Ba hôm sau, cô Châu xếp hành lý trở lại thành phố Huế, lần này có cha con nó tiễn ra đường cái bên kia bờ sông, và con nhỏ đã tận mắt trông thấy chiếc ô tô chở người ta đi từ chỗ này qua chỗ khác thật xa xôi, chở người ta từ một thành phố sang trọng đẹp đẽ đến một làng quê xa xôi hẻo lánh như làng này.

Trước khi lên xe, cô Châu đã một tay xoa đầu nó, một tay nắm lấy tay người anh, căn dặn:

– Anh Thơ, em về thu xếp để cho anh và cháu rời khỏi làng này, nơi có quá nhiều kỷ niệm đau lòng cho anh. Còn tương lai của cháu nữa, nó không thể mãi mãi mang cái tên tội nghiệp đó. Mẹ em bây giờ vốn liếng khá rồi. Mẹ nói chúng ta phải đi vô “Sài Gòn ánh sáng” mà sống. Thời buổi loạn lạc này không thể ở làng quê, ngay cả Huế cũng không ở được. Anh nên sẵn sàng, nghe anh.

*

**

Bà bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ Trần Hồng Điệp ngồi thừ người trước tập hồ sơ cô y tá mới mang vào. Đã ngoài 30 năm qua, bà vẫn chưa quên được cái tên Sim của con bạn thuở lên 10, nơi cái làng quê xa xôi, sinh quán và chánh quán của bà. Vậy mà trưa hôm nay, lát nữa đây bà sẽ cắt mí mắt cho một người tên Sim sinh năm 1947, như đã ghi trong hồ sơ. Không những tên Sim mà còn họ Nguyễn, đúng là Nguyễn Thị Sim. Hôm nọ bà đã có xem qua mắt người này nhưng không để ý tên họ.

Có thể nào như vậy được chăng? Tôi nóng lòng sốt ruột quá trời, làm sao có thể bước ra để nhận diện khách hàng xem Sim có phải thật là Sim của tôi ngày xưa không. Thôi hãy ráng chờ, tôi làm nhiệm vụ với ba người đến trước, rồi chúng ta sẽ gặp nhau trong hoàn cảnh đặc biệt này, nơi căn phòng thẩm mỹ tối tân trên lầu hai một cao ốc trung tâm y tế của thành phố Hoa Kỳ lộng lẫy này, nghe Sim!

Khoảng hai giờ trưa, khi cô xẩm mặc áo sườn xám vừa đắp xong sống mũi bước ra, cô y tá mở cửa dẫn vào người đàn bà tên Sim: hơi đẫy người nhưng thấp, tóc ngắn uốn loăn quăn lùi xùi, khuôn mặt tròn ngơ ngác, và cặp mắt, cặp mắt nhỏ lim him nhướng lên một cách mệt mỏi và buồn bã. Trong các phim video của người Tàu gần gần đây có vài ba cặp mắt nhỏ với cái đuôi dài mở li ri như vậy đã được bọn làm phim khai thác triệt để trong những vai nịnh thần. Cặp mắt như thế thường cho đi đôi với cái miệng cười xun xoe hay nham nhở. Nhưng ở người đàn bà này thì không. Cái nhìn buồn, khóe miệng hơi trễ xuống trông cũng buồn, và bởi thế, chị giữ được một vẻ nghiêm trang đáng nể trong “bộ đồ đi ra” quá đơn sơ: quần tây nâu, áo sơ mi sọc, đôi dép nhựa màu xanh. Không, không chắc đã là Sim, vì con bé ấy ngày xưa hay cười, hàm răng có một chiếc khểnh, bây giờ thì không.

– Mời chị ngồi đây. Đằng nhà tới đây có xa không? Chị tới bằng phương tiện gì?

– Dạ, cậu con bà chủ lái xe chở tui tới đây. Nhà thì cũng không xa, nhưng tui làm răng lái xe được, thưa bà bác sĩ.

– À, chị người miền Trung, chị nói giọng Huế, ha. Chị cho tôi ghi thêm một chi tiết vào hồ sơ nha: chị sinh quán làng nào, chánh quán làng nào?

– Làm mắt mà khai làng khai xóm chi vậy, bác sĩ? Tui tưởng khai năm sinh là được rồi, cậu con bà chủ đã điền đơn cho tui đủ rồi mà.

– Dạ, dạ có. Nhưng tui muốn ghi thêm cho đầy đủ.

– Dạ, thì tui sanh tại làng U.Đ. huyện P.Đ. tỉnh Thừa Thiên.

– A, phải rồi! Chị chờ tôi tí nha!

Bà bác sĩ đưa ngón tay vào một nút điện trên tường, và cô y tá hồi nãy xuất hiện.

– Cô Li, sau ca này, hình như còn một người, đã tới chưa?

– Dạ, có bà Quí tới cắt chỉ, nhưng giờ này chưa thấy tới.

– Vậy càng hay. Cô phôn cho bả, nói nếu chưa đi thì xin mời mai hãy tới, giờ này bác sĩ quá bận, nghe. Ờ, tôi cần chăm sóc đặc biệt cho ca bà Sim này, đừng nhận thêm ai chiều nay nghe!

Bác sĩ Hồng Điệp đứng lên, gài lại nút áo choàng trắng, cặp mắt đẹp to tròn mở lớn thoáng ánh vui mừng hớn hở. Bước qua phía trái, bà nện gót giày kêu từng tiếng lốp cốp dòn tan trên nền nhà trắng bóng như lót toàn bằng sứ, mở tủ lấy ra những đồ nghề. Xây lại phía người khách, bà nói giọng thân mật như chưa bao giờ đã nói với ai như thế trong căn phòng giải phẫu mà từ 10 năm nay một mình bà cầm dao mổ bao nhiêu là mắt mũi cằm:

– Chị Sim, bây giờ thì tôi biết rồi, chị sinh trưởng tại làng U.Đ. huyện P.Đ. tỉnh Thừa Thiên. Tôi cũng có người bà con bên ngoại ở đó, rứa mình là bà con rồi ha. Chị bình tĩnh chuẩn bị tinh thần nghe. Nào, bây giờ mời chị lên nằm trên bàn mổ này. Rứa, rứa, chị kê đầu lên gối, chị cứ nằm thoải mái, đừng co rúm người lại chi.

– Tui lo quá, bà bác sĩ. Xin bà cẩn thận cho, tui ở đây có một thân một mình, lỡ mà có chuyện chi thì không ai chôn cất.

– Dữ khôông! Đừng nói tào lao, chị Sim. Có ai sửa mắt, sửa mũi mà đến nỗi bị thương đâu, chứ đừng nói chuyện chết. Mà sao chị sợ quá như vậy mà lại quyết định làm mắt chi, nè trời!

– Cả đời tui khổ vì cặp mắt. Đời cha tui cũng khổ vì cặp mắt, mạ tui nói rứa. Đau khổ, tủi nhục, bà không biết mô. Bà cẩn thận làm cho tui, tui lo lắm.

Bà Điệp thở hắt ra một hơi dài, trong khi chiếu ánh sáng gay gắt từ ngọn đèn xuống cặp mắt nhỏ của người khách tên Sim, từ đó đang long lanh bên khóe một giọt lệ chỉ chực lăn xuống má.

– Ấy bình tĩnh, đứng có khóc chứ, chị Sim. Có tui đây, tui đang đứng bên cạnh chị, đừng lo. Chị mà khóc thì tui làm không được. Chị biết không, không phải mắt xấu mới sửa mắt, mắt đẹp rồi người ta cũng sửa cho được tinh anh hơn, sáng sủa hơn. Nhiều cô đào Trung Hoa mắt một mí và vẫn tuyệt đẹp, họ nhất định giữ nguyên nét Á Đông đặc biệt của họ chứ không chịu cặp mắt Tây Phương, họ chê những cặp mắt sửa là giả tạo, chứ không ai cũng chịu sửa mắt đâu.

– Chết, răng bà bác sĩ lại nói rứa! Bộ bà muốn từ chối không mổ cho tui răng?

– Không, tui nói chuyện chị nghe cho biết vậy thôi. Chị đã nằm trên bàn mổ rồi mà. Giờ tôi bắt đầu, không nói chuyện nữa.

Chị Sim nằm thẳng ngay đơ, hai cánh tay đặt xuôi theo thân hình cứng ngắc. Chị mím chặt đôi môi như sẵn sàng chịu đựng bao gian nguy bất trắc trong cuộc mổ xẻ lần đầu tiên của cuộc đời. Bà ấy bảo chị mở mắt ra nhắm lại, mở mắt ra và nhắm lại vài chục lần chi đó dưới ngọn đèn chói chang. Chị chờ đợi, tập trung tinh thần chờ đợi mọi sự hành hạ của cơn mổ xẻ thay đổi cuộc đời này, nhưng chưa thấy bà ta ra tay cắt xẻ gì hết.

– Rồi, xong rồi đó, chị Sim.

Ngọn đèn được tắt đi, trả lại ánh sáng bình thường, từ ngoài cửa sổ chiếu vào qua lớp kính trong suốt. Trong phòng, tiếng máy lạnh chạy điều hòa. Bác sĩ lập lại:

– Rồi, xong rồi đó, chị Sim

Chị bàng hoàng, chưng hửng hỏi lại:

– Bà bác sĩ đã mổ xẻ chi cho tui mô, chỉ mới rọi đèn coi thôi mà!

– Rồi, tôi làm rồi đó chị. Xong rồi.

– Trời đất! Đã xong rồi sao? Tui tưởng… tui tưởng chưa bắt đầu. Ui chao, dễ dàng quá ha!

– Xong rồi, bây giờ có thể nói chuyện lại được rồi, chị. Nhưng chị khoan ngồi dậy, cứ nằm yên, ngồi dậy ngay có thể bị chóng mặt. Chị nhìn vào gương đây, tôi cầm cho chị soi. Chỉ có hai lớp băng trên hai mắt, tối nay về chị để yên mà ngủ, trưa mai chị gỡ băng ra. Uống thuốc này, thoa kem này, tôi đã ghi trong toa. Chị đọc được chớ!

– Dạ, có cậu con bà chủ đọc giùm tui. Tiếng Mỹ mà, tui đọc răng được, bà.

– Ừ há, cậu con bà chủ sẽ lo cho chị. Khi gỡ băng ra, chị sẽ thấy mắt sưng, rồi bầm, rồi tím. Chị sẽ sợ nữa, trong chừng một tuần. Cũng như hồi nãy chị sợ đó, nhưng không có chi: Sau một tháng chị sẽ thấy mắt đẹp, đẹp như mắt cô nào… xem nào, cô Hương Lan, thì thích không, chị Sim?

– Trời ơi, làm răng mà được như cô Hương Lan! Mắt người ta trời sinh ra, cha mẹ sinh ra, mỗi người có riêng một cái tướng một cái số, một cái phúc một cái phận. Tui chỉ mong có được một cặp mắt mấy ông thầy tướng đừng vu oan giá họa là đĩ điếm mà thôi, chớ đẹp răng được mà đẹp.

Người đàn bà nằm trên bàn mổ với cặp mắt băng trắng chỉ trông thấy tí xíu, vừa nói vừa nức lên nho nhỏ, như có một vết thương trầm trọng nào tự đáy sâu tâm hồn chỉ chực ứa máu ra khi bị chạm tới. Bác sĩ Điệp dịu dàng cầm lấy bàn tay chị:

– Được rồi, chị chỉ mong có một cặp mắt thường như mọi người. Nhưng tôi bảo đảm chị sẽ có một cặp mắt đẹp, như mắt tôi, chị ưng không?

– Trời đất, mắt bà bác sĩ, mắt trời cho, tướng phú quý trời cho! Tui không dám mong, chỉ mong sao nó được bình thường, xứng đáng để tui làm con ở trung thành của bà chủ này mãi thôi. Bà tốt quá, thương tui như con, chính bà cho tui tiền, biểu tui đi mổ mắt. Bà nói “cả đời goa nuôi mấy chục người làm rồi, chưa thấy có người nào sức lực, giỏi giang mà thiệt thà chơn chất như cô Sim này. Nhưng con phải đi sửa cặp mắt lại, cho nó được tinh anh sáng sủa, nghe con. Rẻ lắm, rẻ rề à”. Bà nói giọng Sề Gòn ỉu dỉu rứa thôi, chớ không có chê bai, xoi tì xoi tướng cặp mắt tui như người ta. Bà hối hoài nên tui mới cả gan mà tới đây, bà bác sĩ.

– Bà chủ của chị là ai đó?

– Bà chủ chợ Vàng Mười, chợ lớn nhứt của người Việt Nam ở đây đó. Bà giàu từ bên nhà giàu qua, năm 84 nhà bà đóng tàu vượt biên cho tui đi theo luôn.

– Hồi chưa đi, ở bên nhà chị làm nghề chi?

– Tui à? Tui cả đời đi ở thôi. Từ khi tui 15 tuổi mạ tui đã bán cho người ta làm con nuôi, rồi sau đó cũng đi ở đợ mãi, làm bếp, giữ em, giặt áo, chùi nhà, loanh quanh rứa thôi. Chừ thì cũng làm rứa đó cho bà Vàng Mười, làm thêm việc bán hàng nữa, nhưng bả trả cho một tháng 500 đồng Mỹ kim lận, cơm ăn nhà ở, còn tiền sửa mắt mi thì bả cho luôn.

Cô y tá mở cửa ló đầu vô, cắt ngang câu chuyện:

– Dạ thưa bác sĩ đã gần hết giờ rồi. Sao bà này lâu quá vậy, bác sĩ. Em đã nói với bà Quí mai mới tới, nhưng cái cậu chờ xe nhà này nói sao lâu quá vậy, cẩu chờ lâu sốt ruột quá.

– Ừ, được rồi. Bị gặp bà này bà con bên ngoại nên tôi mừng hỏi chuyện hơi lâu. Nói chờ năm phút. Thôi, chị Sim ngồi dậy được rồi. Tôi hay tới chợ Vàng Mười luôn, sẽ gặp chị nhiều. Chị đừng quên bên ngoại tôi cũng làng U.Đ. huyện P.Đ. với chị, còn tôi cũng 42 tuổi, cùng tuổi với chị nữa.

– Dạ, rứa đó chớ tui sánh với bà răng được, bà bác sĩ tử tế quá.

*

**

Còn lại một mình trong căn phòng, bác sĩ Trần Hồng Điệp cầm máy gọi điện thoại về nhà:

– Ba ơi, con có chuyện này hay lắm.

– Chuyện chi rứa con?

– Con mới vừa cắt mí cho một bà tên Nguyễn Thị Sim người làng U.Đ. huyện P.Đ., cũng năm mươi tuổi như con, ba ạ.

– Con nói sao? Nguyễn Thị Sim người làng U.Đ. huyện P.Đ.?

– Dạ, con ông Liệt bạn ba đó. Sim, bạn của con từ nhỏ cho tới năm lên 10 đó! Con vui lắm, ba ạ. Con đang thu xếp để đưa Sim về sống với gia đình mình.

– Không được đâu. Ba ở đây ba không muốn ai biết ba hết. Còn chồng con…

– Ba cứ để con lo. Sim không biết ba đâu, vì chỉ biết chú Thỏ, đâu có biết cụ Trần Thơ chủ tịch hội bên Hoa Kỳ! Cũng chỉ biết con là bác sĩ Hồng Điệp thôi. Thôi để con về sẽ kể dài dài. Bái bai ba!

1989.

__________

Chú thích: Các từ địa phương – chữ nghiêng – của miền Trung Việt Nam (thổ ngữ) dùng trên đây gồm có:

đị: đĩ

đay: đây

tau: tao

rứa nê hả: thế thôi à

noái: nói

bọ: cha

thu: giấu

cột chạc lưng: buộc dây lưng

cổi: cởi

khôông: không

dức: nhất

: nhà

trú: trấu

Nớ: đó

Râng: đang

: đâu

Dớ: nhớ

: kia

Răng: sao

mược: mặc kệ

diều: nhiều

làm đị: làm đĩ

cái ni: cái này

goa: tui

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.