nhà thơ Nguyễn Đức Sơn :vừa đi về một cõi !

Nguyễn Đức Sơn và Tuệ Sỹ

Khuya dậy hỏi đàn con nheo nhóc

Ở đâu mà lóc thóc tới đây

Thằng nào thằng ấy ngây ngây

Ngó mông ra phía rừng cây mịt mùng

Đầu ta đụng phải vô cùng

Phút giây đời sống hãi hùng xiết bao !

Nhưng mà dầu làm sao cũng sống

Cựa quậy hoài một đống bên nhau

Vợ nằm nước mắt chảy mau

Bỗng dưng thấy được cái đau ngàn đời

Hỏi ai xương cốt rã rời

Nằm trong xa vắng trả lời ta đi

Nửa đời chẳng hiểu gì tất cả

Vợ con rồi càng lạ lùng hơn

Chiêm bao lớp lớp chập chùng

Về đâu cỏ mộ xanh rờn chân mây.

Nguyễn Đức Sơn.

NGUYỄN ĐỨC SƠN – NGÔI SAO VỪA TẮT

Được biết tin nhà thơ Nguyễn Đức Sơn, tự là Sơn Núi vừa từ giã cõi tạm lúc 3. 15h ngày 11/6 trên đồi thông Phương Bối thuộc tỉnh Lâm Đồng VN.

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn được coi như một hiện tượng văn học như các nhà thơ Bùi Giáng, Phạm Công Thiện và ni sư Thích Nữ Trí Hải cùng thời.

Xin cung kính tiễn đưa một nhà thơ tiền bối tài danh và thành kính chia buồn cùng gia đình của ông.

nhukhong Quang Trung Dinh

18/11/1937-11/6/2020

Nguyễn Đức Sơn sinh ngày 18/11/1937 tại làng Dư Khánh, huyện Thanh Hải tỉnh Ninh Thuận, quê gốc ở Thừa Thiên Huế.

Ông bắt đầu làm thơ rất sớm với với bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông được coi là một người có cá tính đặc biệt. Từ khi tuổi trẻ thơ ông đã chớm hoài nghi, đã thắc mắc về những câu hỏi đầy tính siêu hình.

Nguyễn Đức Sơn cùng với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện được coi là ba kỳ nhân nổi danh về tài năng và sự quái dị trong làng văn nghệ miền Nam trước 1975.

Ông cũng được xem là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam, ba người còn lại là Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên.

Nguyễn Đức Sơn đã từng theo học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học.

Trong lý lịch trích ngang trong tập thơ Những Bài Tình Đầu, ông viết:

“Sống vô gia cư, chết vô địa táng” và tuyên bố: “Nếu trường Đại học Văn khoa Sài Gòn sản sinh ra được một nhà văn nhà thơ nổi tiếng tôi xin chịu chặt đầu.”

Ông ở nhiều nơi Phan Rang, Sài Gòn, Bình Dương – Thủ Dầu Một, Blao – Lâm Đồng và sinh sống bằng nghề dạy học ngoại ngữ.

Năm 1967 ông lấy bà Nguyễn Thị Phượng. Đám cưới được tổ chức tại chùa Tây Tạng, Thủ Dầu Một – Bình Dương.

Ông bà sinh được 9 người con. Năm 1979, ông đưa gia đình rời bỏ chốn phồn hoa đô thị chuyển lên ngọn núi Phương Bối, Lâm Đồng để sống một cuộc sống thanh tịnh.

Đến nay gia đình ông vẫn sống ở đó.

Nguyễn Đức Sơn nổi tiếng là lão thi sĩ vạn thông do ông đã trồng tới hàng vạn cây thông trên ngọn đồi Phương Bối rộng tới hàng chục hec-ta. Ông còn có biệt danh Sơn Núi.

Một số tác phẩm tiêu biểu:

– Bọt nước (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965)-

Hoa cô độc (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1965)

– Lời ru (Thơ, Mặt Đất xuất bản, Sài Gòn 1966)

– Đêm nguyệt động (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1967)

– Cát bụi mệt mỏi (Truyện ngắn, 1968)

– Cái chuồng khỉ (Truyện ngắn, 1969

)- Xóm chuồng ngựa (Truyện ngắn, 1971)

– Vọng (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1971)

– Tịnh Khẩu (Thơ, An Tiêm xuất bản, Sài Gòn 1973)

( Nguồn: Wikipedia )

Lão Thi sĩ NGUYỄN ĐỨC SƠN

Hư vô một cõi phiêu bồng

NGUYỄN MIÊN THẢO

Trước năm 1975,giới văn học miền Nam xếp thi sĩ Nguyễn Đức Sơn là một trong 4 quái kiệt của làng văn thời đó: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn,Thế Phong, Phạm Công Thiện, vừa tài năng vừa …quậy. Xin hiểu quậy ở đây có nghĩa là khác người đại để như N Đ Sơn ra biển nằm vọc c…, Bùi Giáng chui xuống gầm cầu Trương Minh Giảng (sát bên Viện Đại học Vạn Hạnh, nay là trường Đại học Sư phạm) để ngửi …

Cũng có một sắp xếp khác thuần văn học hơn mà thi sĩ Nguyễn Đức Sơn cũng là một trong tứ trụ thi ca của miền Nam : Bùi Giáng, Nguỵễn Đức Sơn, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên. Với sư sắp xếp của làng văn miền Nam thời đó hoàn toàn vô tư, trong sáng, không dựa trên quyền uy, chức tước, bè phái, điếu đóm như bây giờ mới thấy chỗ ngồi của Nguyễn Đức Sơn trên chiếu văn sáng như Sao Trên Rừng.

Thi sĩ Nguyễn Đức Sơn, bút hiệu Sao Trên Rừng, gốc Thừa Thiên Huế. Sinh năm 1937 tại Ninh Chữ, Ninh Thuận (Phan Rang). Ông từng theo học tại Đại học Văn khoa Sài Gòn nhưng nửa chừng bỏ học. Trong lý lịch trích ngang trong tập thơ Những Bài Tình Đầu, ông viết :Sống vô gia cư, chết vô địa táng, và tuyên bố: Nếu trường Đại học Văn khoa Sài Gòn sản sinh ra được một nhà văn nhà thơ nổi tiếng tôi xin chịu chặt đầu.

Trước năm 1975, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn nổi tiếng: Những Bài Tình Đầu, Đêm Nguyệt Động, Mộng Du, Cái Chuồng Khỉ, Cát Bụi Mệt Mỏi…Các tác phẩm của ông đều do Nhà xuất bản An Tiêm (Tỳ kheo Thích Thanh Tuệ) in ấn và phát hành.

Ông ở nhiều nơi Phan Rang, Sài Gòn, Bình Dương-Thủ Dầu Một, Blao-Lâm Đồng và sinh sống bằng nghề dạy học.Sau năm 1975, ông về ở hẳn tại Phương Bối Am, Blao-Lâm Đồng, cách ly với sinh hoạt văn học. Ông nổi tiếng là lão thi sĩ vạn thông (vì ông trồng một vạn cây thông) với biệt danh Sơn Núi.

Nhà văn Võ Phiến, một nhà văn nổi tiếng đứng đắn và cực đoan đã có nhận xét độc đáo và thú vị về Nguyễn Đức Sơn:”Hầu hết những ai bắt đầu xun xoe vào làng văn đều muốn tỏ ra khác người, nghĩa là ngông nghênh. Để có thể tha thứ những bậy bạ hư hỏng ở một kẻ nào, ta tắc lưỡi kêu: hắn trót có tí “máu văn nghệ” trong người. Trong đám văn nghệ với nhau thì nhố nhăng nhất phải thú thật là những chàng thi sĩ. Một nhà nho như ông Tản Đà mà để xứng danh thi sĩ ông cũng làm trò con nít: gửi thư lên chị Hằng, gánh thơ đi bán chợ trời v.v..Còn Chế Lan Viên thì thấy trăng sáng vội kêu: “Ta cởi truồng ra, ta cởi truồng ra ” Nguyễn Đức Sơn không cần phải làm như thế. Hãy xem cốt cách của ông: điềm nhiên giản dị hơn biết bao:

đầu tiên tôi thở cái phào

bao nhiêu phiền não như trào ra theo

nín hơi tôi thở cái phèobao nhiêu mộng ảo bay vèo hư không…

(Một mình nằm thở đủ kiểu trên bờ biển )

Cứ thế ông thở “đủ kiểu. Rồi qua một bài thơ khác ông lại “khoái trí nằm thở nữa”. Một đằng cố gắng làm ra lạ đời nên phải cởi truồng, phải chọc trời ghẹo trăng cho to chuyện; một đằng vốn có bản lĩnh tự nhiên, nên chỉ nằm mà thở thong thả cũng đủ độc đáo chán. Trong thơ, ta đã mấy ai nghe những tiếng thở cái phào cái phèo ngang tàng như vậy? (Nhất là đọc cho đến hết bài “thở đủ kiểu” ta giật mình thấy không phải đó là cái ngông vô cớ, ta không ngờ những hơi thở ấy lại đưa ta đi xa đến thế.) Khi Chế lan Viên muốn cho khác thường, ông đòi: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh”, còn Nguyễn Đức Sơn thì chẳng xin một tinh cầu nào, cứ việc nằm ngay trên bờ biển mà vọc c… Khi Chế Lan Viên muốn tỏ ra ngông, ông đòi cởi truồng để tắm trăng; còn Nguyễn đức Sơn thì lại lăn cù trên bờ biển, rồi ngủ quên trên bờ biển, nửa khuya bị mưa ướt, thức dậy tự hỏi mình: “đã đời chưa con?”

(Trích “Văn học miền Nam” của Võ Phiến.)

GIỚI THIỆU LAI RAI Thơ Nguyễn Đức Sơn

HÀNH ĐỘNG

các em hãy cùng công kênh trái đất

dang chân dài lấy thế trước hư vô

anh núp rình sợ thần thánh về xô

dành tác phẩm muôn đời to lớn nhất.

BẮT ĐẦU THỞ

bắt đầu thở là bắt đầu hạnh phúc

không bao giờ anh nói dối em đâu

ôi bất động ngàn năm thân gỗ mục

cửa tồn sinh em hãy mở cho lâu.

THI SĨ

khi ý thức mặt đất này dang dở

ta vội chìm trong bóng nguyệt mang mang

khi chấp nhận một ngàn lần đổ vỡ

ta một hồn đắm đuối giữa tan hoang.

TÔI THẤY MÂY RỪNG

một ngày đau khổ chín trong tôi

tôi đến bên cây lẳng lặng ngồi

cây thả trái sầu trên nước lắng

mặt hồ tan vỡ ánh sao trôi

thôi nhé ngàn năm em đã qua

hồn tôi cô tịch bóng trăng tà

trời sinh ra để chiều hôm đó

tôi thấy mây rừng bay rất xa

QUÊ HƯƠNG

tháng bảy dì về đơm nhãn

nhớ mang ra ít giạ chiêm

ruộng xưa cò bay thẳng cánh

gặt hái vừa độ trăng liềm

mười mấy năm rồi dì nhỉ

lạc loài xa mãi cố hương

lòng dạ ai người không thương

quê mình ai còn ai mất

đi rồi gươm súng mùa thu

khóc mãi từng đêm lưu lạc

nói ra thêm oán thêm thù

ngỏ về làm sao ngài ngại

xe cộ có dễ dàng không

kháng chiến người đi chưa lạ

ilúa khô héo cả ruộng đồng

ông ngoại chắc già ghê lắm

mấy người dì nữa nhưng thôi

đất cằn quê hương nứt rạn

kể thêm đau lòng dì ơi

dù sao cũng là xứ sở

đói nghèo đừng lạt tình thương

mười năm không cúng không giỗ

dì về ấm lại khói hương

tháng bảy dì về đơm nhãn

nhớ mang ra ít giạ chiêm

ở đây làm gì có bán

thấy người ta ăn bắt thèm.

MAI KIA

Mai kia tan biến hận thù

Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông

Cha về ôm cả biển sông

Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời

Cho con cha hứa một lời

Đuổi mây thiên cổ rong chơi suốt ngày

Thu nào tóc bạc òa bay

Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già

Cúi hôn trời đất đậm đà

Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên

ĐỐT CỎ NGOÀI RỪNG

Xem cha đốt cỏ ngoài rừng

Nâng niu mẹ ẵm theo mừng không con

Có vài chiếc lá còn non

Gió xua lửa khói nổ giòn trên không

Nắng tà trãi xuống mênh mông

Bước theo chân mẹ cha bồng hư vô

NHÌN CON LẬP TẬT

Nắm tay lật úp đi con

Co thân tròn trịa như hòn đá lăn

Muốn cho đời sống không cằn

Tập cho quen mất thăng bằng từ đây

TRÊN BỜ HƯ KHÔNG

một đêm sao ở trên rừng

đua nhau rụng xuống chào mừng nhân gian

hồn tôi cây cối liên hoan

rưng rưng tôi thấy trăm ngàn ước mơ

tuổi vàng suối mộng trời thơ

lớn lên tôi chết trên bờ hư không.

ĐÊM KHƠI

lênh đênh thuyền giạt xa miền

nửa đêm bừng tỉnh man thiên một trời

trông lên thượng đế đi rồi

hỏi mây thái cổ con người vân vi

lối mòn cỏ mộ xanh rì

ngoài ra kìa chẳng có gì nữa sao

đảo buồn thổi gió lao xao

ngàn xưa còn tiếng thì thào biển khuya

NGHE TIẾNG GÀ RỪNG GÁY

chợt nghe tiếng gáy rụng rơi

khóc lên tang hải giữa trời tha ma

từ sương mai đến ác tà

khuất trong thiên cổ dấu gà hiển linh

MỘT TÂM ẢO TƯỢNG

xe chênh bánh giữa luân hồi

ưu bi chở ngập bên trời bao la

ngày chưa sụp bóng ta bà

đã nghe chừng Hội Long Hoa đến rồi

một ngài Di Lặc xa xôi

một tâm ảo tượng tôi ngồi thâu đêm

.NGÀN SAU

về đây say với trăng ngàn

phiêu diêu hồn ngập giấc vàng đó em

trăm năm bóng lửng qua thềm

nhớ nhung gì buổi chiều êm biến rồi

mai kia tắt lửa mặt trời

chuyện linh hồn với luân hồi có không

thái hư chừng sắp chuyển vòng

đại dương tràn kéo núi đồng tan đi

chúng ta chờ ước mong gì

văn minh gửi cát bụi về mai sau..

(Từ bài Trên Bờ Hư Không đến bài Ngàn Sautrích trong Những Bài Tình Đầu, tập 3: Lời Ru).Thơ Nguyễn Đức Sơn(Đăng trên Tạp chí ĐỐI DIỆN,tháng 5.1971)

NHỮNG BUỔI TRƯA CÂM

từ hôm lính trói anh về

chuông tù réo gọi não nề thân tâm

bịt bùng những buổi trưa câm

anh thường náo nức được đâm mặt trời

(kỷ niệm Tổng nha,trại B phòng 17,ngày 28.5.1968)

CHÚT LỜI THỞ THAN

mỗi ngày cúi xuống hạt cơm

anh nghe thấu một mùi thơm lạ lùng

cắn đôi hạt muối thường dùng

biết ơn trời đất vô cùng em ơi

trăm năm ta sống một đời

ngàn năm gửi lại chút lời thơ than

(kỷ niệm Tổng nha,trại c,phòng 36,5.6.1968)

NÓI VỚI QUÁN THẾ ÂM

Kính gửi hương linh Sư Bác,nhà sư Việt Nam đầu tiên

Đi Tây Tạng về và là một trong những nhà sư

kháng chiến nổi danh của miền Nam

cho con xin một chút trăng

đêm nay mười bốn phải chăng khởi đầu

trên cao toả sáng nhiệm mầu

sao con chỉ thấy địa cầu tối om

bốn bên súng chĩa đen ngòm

thiết tha tâm Phật con dòm vô trong

(kỷ niệm trại c quên phòng quên ngày)

SỰ THẬT

năm thằng ngột thở trong phòng

năm thằng tù nữa muốn thòng cổ ra

căn phòng thước sáu nhân ba

thầy chú bắt được chết cha chúng mày

(kỷ niệm Tổng nha,trại B,phòng17,26.5.1968)

KỶ NIỆM BÌNH DƯƠNG

những chiều sẩm tối anh về

em ra lớp dạy đi kề vai anh

một thân áo cánh mong manh

hôn nhau lệ nhỏ trung thành cho nhau

cầm tay ta bước đi mau

hình như bố ráp đằng sau xóm này

nhìn nhau bụng trống một ngày

mà sao hạnh phúc giăng đầy nhà thôi

nửa khuya sao chiếu xa vời

ở trong thiên cổ anh ngồi bên em

(Kỷ niệm Tổng nha,trạiB,phòng 17,24.5.1968)

LẠI CHUYỆN THẬT

người tù thổ huyết chết tươi

tên y tá đến đứng cười nhe răng

một mình y nói rất hăng

mười lăm phút nữa có băng ca rồi

(kỷ niêm Tổng nha trại B,phòng 17,26.5.1968)

CHUYỆN NGÀY XƯA

nửa đêm thức dậy nấu chè

lim dim hai mắt ai dè rất ngon

gọi em giấc mộng vuông tròn

trăm năm bếp lửa chưa bòn đâu em

(kỷ niệm Tổng nha trại B , phòng 17,24.5.1968)

BẦU TRỜI NGÀY MAI

giờ đây ngồi mà suy nghĩ

trời sinh ta có tay chân

đẹp hơn đôi cánh thiên thần biết bao

phi thuyền tăm tắp trăng sao

ta cùng đứng dậy nghiêm chào hư không

bơi trong thế giới đại đồng(!?)

tay ôm trời rộng tay bồng thân em

(kỷ niệm Tổng nha trại C ,phòng 36,5.6.1968)

NHỚ CHÙA XƯA

Thân kính tặng cô Sáu,Tây Tạng Tự Bình Dương,

một trong những người đàn bà hiếm hoi và lạ lùng nhất

tôi đã gặp trên cõi ta bà này

bao giờ trở lại chùa xưa

viếng thăm cây cỏ cho vừa lòng nhau

trưa nằm nghe chút thương đau

tan theo mây trắng phau phau trên đồi

…………………………………………….

.Nguyễn Miên Thảo

(nguyenmienthao.blogspot.com)

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.