Những đoản văn(suy nghĩ vụn) của Tư(Nguyễn Ngọc)

Nguyễn Ngọc Tư

Trơ lòng

             Những hồi ức mỡ màng, phồn sinh của miền Tây trên các giai phẩm báo xuân còn chưa kịp nguội, dày đặc trên phương tiện truyền thông tháng ba này là thông tin về hạn mặn, là cánh đồng nứt nẻ, những liếp mía chết khô, là những người đàn bà đi nửa ngày đường chắt chiu từng can nước ngọt. Bao trắc ẩn, bao ái ngại, và cả giật mình đều dồn về vùng đồng bằng nức tiếng trù phú này. Động lòng cũng phải, nhưng người ta giật mình nhiều hơn bởi lẽ cái chuyện biến đổi khí hậu tưởng còn lâu bỗng hiện ngay đây, lúc này đây.

Nhưng Út Nhiều, bà chị họ của bạn, dân miền Tây chính hiệu Lung Phèn, chị nói chị không giật mình chút nào khi nhìn lòng kinh trước nhà khô đáy, “Đâu phải giờ mới bị hạn cháy da, cậu không nhớ có năm chị em mình đi bắt dế đáy kinh sao ?”. Cái nắng tháng Ba, dân miền Tây đâu có lạ, nắng đến giòn rễ cây, đến bạc xương, đến nước miếng trong miệng còn kẹo lại. Nắng giáp hạt. Hình như có ông nhà thơ xóm rẫy nào đó đã gọi vậy. Lạ gì nữa, nhất là người làm vườn, làm ruộng, vốn quen dùng mọi giác quan để thụ cảm nắng mưa.

Chị nói chục năm gần đây, dân miền Tây dù vô tư mấy cũng nhận ra triệu chứng của cơn bịnh ngặt. Những mùa lũ thất bát, những mương vườn tháng Ba lấm mặn, những liếp cây ăn trái đồng loạt đổ lá. Đâu phải mới năm nay những người đàn bà miền Tây phải đổ đường đi lấy nước ngọt, họ đã làm vậy nhiều năm trước đó, chỉ là hạn ngắn và mưa kịp tới giải vây trước khi các phương tiện truyền thông để mắt. Và còn triệu chứng nào rõ ràng hơn của một vùng đất đang hấp hối khi nhìn vào lớp lớp thanh niên lần lượt bỏ quê đi làm công nhân xứ người. Đất buông tay. Phải chịu hết xiết mới phải buông tay. Cưu mang gì nổi nữa. Bạn nghĩ làng xóm miền Tây đang trong cơn trơ lòng, và sẽ trơ lòng vậy, bất chấp mai đây gió Nam mang mưa về lại.

Nhà Út Nhiều giờ chỉ còn hai vợ chồng già với ba đứa con nít được cha mẹ nó gửi về từ khu công nghiệp. Tiếng trẻ nói cười làm nhà đỡ lạnh. Cả xóm cùng chung cảnh. Lần nào bạn ghé nhà chị cũng nhớ mấy đứa cháu trạc tuổi mình, cùng lặn ngụp bùn sình tuổi nhỏ. Giờ chỉ Tết mới gặp được tụi nó. Bữa rồi bạn tạt ngang thăm, chị Út mừng húm nói hổm rày muốn dời mấy lu nước mà chưa mượn được ai, cậu ghé thiệt may. Nhờ chục ngoài cái lu xi măng này mà năm nay không thiếu nước. Chị nói năm ngoái phải đi ra ngoài đập Giữa chở nước ngọt về, “lúc đó nhà còn đông”. Tết xong, tụi nó khăn gói đi ráo trọi.  

[09/02/2016 10:17:28] Trong nh?ng ngày qua, nhi?u xã thu?c th? xã Giá Rai (B?c Liêu) dang ph?i d?i m?t v?i tình tr?ng thi?u nu?c m?n cho nuôi tôm và khan hi?m nu?c ng?t ph?c v? s?n xu?t lúa dông xuân. Hi?n có 2000/3000 ha nuôi tôm c?a ngu?i dân xã Phong Th?nh (th? xã Giá Rai) dang b? thi?u nu?c. M?t s? kênh thu? l?i n?i d?ng c?n nu?c, nông dân không có nu?c m?n d? bom. Nu?c m?n không có, nu?c ng?t cung khan hi?m. T?i vùng tr?ng lúa ? các xã Phong Tân, Phong Th?nh Ðông, hon 2.600 ha lúa dang có nguy co b? thi?t h?i do thi?u nu?c. M?c nu?c trên kênh Vinh Phong – tr?c kênh chính c?a t?nh B?c Liêu cung c?p ngu?n nu?c ng?t cho s?n xu?t lúa, m?c nu?c hi?n ch? còn x?p x? 1m, th?p hon cùng k? hàng nam d?n 0,7m. Trong ?nh: M?t con kênh n?i d?ng ? xã Phong Tân (th? xã Giá Rai) s?p h?t nu?c, trong khi trên ru?ng lúa m?i s? du?c vài ngày. ?nh: Nguy?n Thanh Liêm-TTXVN

Một thằng vừa rồi có gọi, nói coi được bản tin trên truyền hình, hỏi có phải họ quay phim cái kinh trước nhà mình không, cảnh con nít đứng thả diều dưới lòng kinh quen quá. Chị cười, giờ kinh nào mà không vậy, cả miệt này đang bị hạn làm khó dễ. “Làm khó dễ dân xứ mình đâu chỉ hạn mặn thôi”, thằng con chị nói, rồi thở dài. Chắc nó đang ám chỉ những lần lúa được mùa mất giá, những đợt dưa hấu sắp cắt dây thì mưa sập xuống bất ngờ, đận đổ vốn nuôi cá chình gặp áp thấp gần bờ, đìa chìm sau những ngày trời trút nước.

Bạn nghĩ lời thằng cháu đúng thiệt, ít nhất là chục ngoài năm trở lại đây, đất quá sức nhạy cảm, dễ tổn thương. Con người, cũng vậy. Một nhà máy thuỷ điện xây tận đâu đâu, một tảng băng tan ở cực Bắc địa cầu, rừng nguyên sinh cháy rụi bên Nam Mỹ, hết thảy chúng đều gián tiếp làm khó dễ dân đồng bằng. Cả vùng đất trọng bịnh, những triệu chứng không còn âm thầm nữa, chúng phát tác ra những bề mặt.

Một mùa hạn mặn nghiệt ngã bày ra trên các phương tiện truyền thông chỉ mang tới cơn bàng hoàng cho người vùng miền khác. Dân miền Tây, đa số đoán được kết cuộc này. Ai đó lỡ một vụ lúa yểu mệnh khi chưa kịp nghén đòng đòng, ai đó lỡ một vụ rau dưa chết khát cũng chỉ muốn tự huyễn hoặc mình rằng trời còn chút xót thương. Họ gieo trồng không chỉ là hạt giống mà còn thêm mầm hy vọng rằng không phải đâu, không phải cái đất (đã từng) giàu có, trù phú này đang hấp hối.

Trong chợ trời của kỷ nguyên ngã giá

Bạn kể nhỏ tới giờ bạn bị đòn hai lần. Nhớ đời. Không hẳn vì ít đòn mà nhớ như khắc như khảm. Lần đầu là năm bạn mười bảy tuổi, quãng đó là mùa đầu của làn sóng lấy chồng ngoại quốc. Cô bạn bên xóm được gả tới Busan, năm sau về thăm nhà, đem theo ông chú chồng muốn tìm vợ. Bạn được rủ qua cho người ta coi mắt, cùng với mấy đứa con gái bên xóm. Hôm đó cả đám cũng không cần ưỡn ẹo tới lui, chỉ ngồi đó thôi, cắn hột bí, phát vào vai nhau cười. Chiều lại thì má bạn hay, bà bắt nằm dài trên ván ngựa, quất ba roi, thẳng tay.

‘Má đẻ con chớ không đẻ món hàng, sao tuỳ tiện cho người ta săm soi’, bạn nhớ lúc quăng cây thước thợ may gãy đôi đi, má khóc tức tưởi một hồi, khóc lớn hơn cả bạn, khi đó choáng váng vì trận đòn đầu đời, vì nhận ra mình hạnh phúc cỡ nào bởi được nuôi dạy tử tế mà không cần kinh qua những trận mưa roi.

Năm bạn hai mươi hai tuổi, thử việc ở công ty bảo hiểm. Một tối ba nhìn thấy bạn xỉn mèm trong quán nhậu, vì khách nói uống hết mấy chai này anh sẽ ký hợp đồng. Bạn tỉnh dậy thấy mình ở nhà, không nhớ về được bằng cách nào, nhưng nhớ được chỗ mình nằm đây đúng chỗ bị đòn lần trước, nhưng đợt này khác ở người cầm roi.

‘Con là ai mà muốn bán mình bằng mấy cái hợp đồng rẻ mạt ?’, ba nói trước khi quật bạn một roi duy nhất, rồi nghẹn giọng bỏ ra ngoài.

Bốn roi tất thảy đó thay đổi bạn. Cây roi chỉ chạm vào bề mặt thịt da, nhưng lời của ba má thì vào đến xương tuỷ. Rằng người ta thì không phải hàng hoá, ít nhất cũng không cho phép bản thân coi chính mình là thứ có thể bán mua.

Bạn không coi đó bài học đạo đức. Nó là ngón tự vệ. Hệt như bạn đi học mấy khoá aikido phòng thân. Đặt mình ra ngoài những cuộc mặc cả là một thứ kỹ năng sống, nhất là trong cái kỷ nguyên nhốn nháo bán mua này. Thứ gì cũng có thể là món hàng, thánh thần chung phận, điểm thi đại học giá cao, nội tạng đắt hàng, tới mấy bộ xương khô còn được nhiệt tình chào bán.   

Có quá nhiều thứ được nguỵ trang kỹ càng trong kỷ nguyên ngã giá. Những hợp đồng lao động không ghi điều khoản đi uống bia tiếp khách công ty vào cuối giờ và ký giao kèo làm ăn trong quán nhậu lúc nửa đêm. Những tiệm gội đầu mát xa treo bảng việc nhàn lương cao bao ăn ở. Những chị sếp hay bảo nhân viên chạy về nhà chị ấy gom quần áo đang phơi ngoài sào, hay ‘ghé chợ mua giùm chế chai dầu nước xanh’.

Phân biệt làm công ăn lương và nô lệ là hai chuyện khác nhau, bạn bị chê gàn, mỗi lần nhảy việc là để lại sau lưng một biển lườm, ‘thời buổi này mà còn làm cao’. Má bạn thấy con ngồi điền cả chục hồ sơ xin việc, có lần than với xóm giềng, nói sợ mình đã dạy con sai, rằng lấy tự trọng làm đầu, rằng một con người nên đặt mình ra ngoài mọi cuộc mặc cả.

‘Không sao đâu, con cũng không ưng mình bị dán hạn sử dụng’, bạn cà rỡn, an ủi người lớn trong nhà. Bạn thực sự thấy thoải mái khi chưa đánh mất mình, bởi tiền hoặc nhiều tiền. Quãng nào không có việc thì đi làm thiện nguyện. Có lần đi dạy tiếng Anh cho nhà mở của những phụ nữ bị bán qua biên giới, chiều nào về mắt cũng sưng  bởi chuyện cuộc đời. Mấy cô gái ở đó hồi nhỏ bị đòn như cơm bữa, nhưng không ai dạy họ như ba má dạy bạn, đừng để bản thân trở thành một món hàng. Họ bị bán bởi người thân, bạn bè, hoặc chính họ đứng ra bán mình, hết thảy đều bằng tiền mặt. Nhìn những người phụ nữ được cứu về từ địa ngục, bạn nhớ đứa cháu họ bỏ ngang đại học khi cuối năm ba, đi lao động chui ở nước ngoài. Chỉ chữ ‘chui’ đã nói hết thân phận đó rồi. Lần nào đi ngang nhà thằng nhỏ, cũng thấy bà nội nó ngồi lần tràng hạt, cầu an cho đứa cháu lâu chẳng tin gì. ‘Qua bên đó làm giàu siêu nhanh’, câu cuối cùng của thằng cháu khi từ giã bà con, đã chính thức khước từ những lời khuyên nhủ.

Bạn không kịp kể thằng cháu nghe chuyện anh Khoai bán vé số ở trạm xe buýt gần nhà. Lúc thằng nhỏ lên máy bay và biến mất như một làn khói, anh chưa xuất hiện. Bẩm sinh không tay nửa người trên trụi lẳn, đeo cái giá giắt vé số trước bụng, anh để người mua tự lấy, chính họ tự bỏ tiền vào miệng giỏ đeo trên ngực. Nhiều lần được bố thí nhưng anh đều từ chối, anh nói mình thu nhập vậy đủ rồi. ‘Người ta có hai tay, kiếm một ngày hai trăm, tui không tay thì bằng phân nửa họ, là phải’, anh nói. Rồi kể hồi mình bảy tuổi, có người tới gợi ý đưa bà nội anh ít tiền để đưa đứa nhỏ ra phố ăn xin. Nhưng bà nội anh cầm cả xô nước tạt vào người nọ, nói mời đi nơi khác, nhà này gì cũng bán, con cháu thì không.

Bà nội anh ngầu, nên anh cũng ngầu. Nhưng bạn thấy trong sự ung dung có gì đó như là chống đỡ, được chừng nào hay chừng ấy. Bạn biết đặt mình ra ngoài những cuộc bán mua điên dại buổi này, chỉ tự vệ tương đối. Bởi ta đâu biết trước chuyện leo lên chiếc xe đò nọ lại bị bán vài lượt mới đến nơi, hoặc đăng ký một chuyến nghỉ dưỡng ngắn ngày, là công ty du lịch đã kịp ngã giá bán khách cho mối khác kiếm lời. Và bạn biết làm gì đây, một khi Tổ Quốc bị đem ra mặc cả, phận con dân sao khỏi bị sang tay với giá rẻ như cho.

Phúc lành cũng tận

Dễ nhận ra mảnh đất nằm gần lộ tẻ xuống đình, bởi đang bạt ngàn nhà xưởng bãi xe bỗng chen vào một không gian hoang dã của lau sậy của những thứ dây leo chẳng theo một trật tự nào, nên cả khi chúng trổ bông, sắc tím bìm bìm và trắng ngọn lau, cũng nhợt. Người ta vẫn nhớ ở đó từng là khu vườn, tuy không xum xuê nhưng đủ cho vài cây lớn tàng cho hoa trái, bên thềm dập dờn bông dừa cạn. Người ta vẫn nhớ ở đó từng có hai căn nhà xây kiểu dáng y khuôn đúc, cho tới khi cây xoài giữa hai nhà bị đốn, và anh em họ cấu xé nhau, đúng nghĩa đen. Vì đất. Ngang năm tấc, dài chạy thẳng trăm hai chục thước. Ba người trọng thương, một phiên toà, hai án tù. Câu chuyện tương tàn được những con số kể bằng thứ chất giọng lạnh trơ của chúng.

Mảnh đất như vết sẹo, dân xóm ngoại ô coi đó để soi mình. Ngay sau vụ tranh giành chấn động, người già rủ nhau đi làm di chúc, ai có đất cho con cháu thì cắt sang tên, không để dư ra một tấc nào. Bà mẹ của hai anh em nọ, đã cố gắng công bằng khi cất cho con hai căn nhà sao chép in hệt nhau tới từng lam gió, từng khung cửa, màu gạch lót nền. Chút đất bà mẹ chừa ra, dành làm đường đi vào vườn sau. “Mai này gặp khó, tụi nhỏ có thể cất phòng cho thuê trọ, hay cắt đất nền bán lẻ”, hồi còn sống, bà hay nói vây với xóm giềng. Ai nghe cũng khen bà mẹ biết nhìn xa, nhưng có xa đến đâu cũng không nghĩ tới ngày hai núm ruột bà lao vào sát thương nhau không chút xót.

Tận thấy người bên xóm tương tàn, cậu tôi hơi chấn động, nhưng nghĩ nhà mình chắc không sao. Đề huề con cái hơn nửa chục, ông cho mỗi đứa miếng đất, đứa nào ra riêng cũng được gói tiền làm vốn. Chỉ hôm rồi thằng rễ nhậu ba sợi rượu bỗng buột miệng so đo, đất chị Hai nằm ngay ngã ba chợ nên có giá hơn của tụi còn lại. Cậu kể lúc đó ông ớn lạnh, nhìn vào đám con đang chén xình chén xang, tự hỏi còn tâm tư nào tụi nó chưa nói ra, còn những tỵ hiềm nào đang bão trong lòng chúng, còn bao ý nghĩ về nhau bắt đầu sắc nhọn ?

Hồi còn đương sức cậu lái xe tải nhỏ chở vật liệu xây dựng, ngõ ngách biết nhiều, nên thấy đâu đất rẻ là mua. Không chỗ nào giống chỗ nào. Lúc đó chỉ nghĩ chuyện đừng để tụi nhỏ đừng ở gần nhau quá, dễ va chạm. Cậu đâu nghĩ đất sau này nhảy múa trên nhiều bậc giá, mỗi bậc tương đương với những so sánh, chạnh lòng. Nghe có đứa còn lấy đất hồi môn đó ra mà quy đổi tình thương của ba má.

Tường vách là có thật. Hố sâu là có thật. Đời có quá nhiều thứ khiến kết cấu gia đình, quan hệ huyết thống lỏng lẻo : công việc, địa vị, thu nhập, tính cách. Nhưng cậu thực không mong khởi đầu của hố sâu là từ quà của cha mẹ.

“Phải trước đổi đất lấy vàng, rồi đem chia đều, cho khoẻ”, cậu thở dài nói với vợ, một khuya mất ngủ. Nhưng hồi đó cậu mợ đâu nghĩ ra gì khác để lại cho con, ngoài đất. Người già nhà dượng và của cả cái xứ sở này đều bảo nhau đất là phúc lành. Hơn một món hàng có thể bán mua, ở đất có gì đó linh thiêng, không thì dịp giỗ, tết người ta đâu dành riêng cho đất đai mâm cúng. Ẳm bé sơ sinh còn đỏ từ nhà bảo sanh về, dọc đường ai đó níu lại hỏi trai hay gái, giống ai trong nhà, rồi khi sắp đi khỏi, thể nào họ cũng vói một câu, “chuẩn bị kiếm tiền mua đất làm hồi môn cho đứa nhỏ là vừa”. Cũng vậy, cầm mớ thiệp hồng đi mời cưới, hay nhận được câu hỏi đã sẵn đất cho tụi nhỏ ra riêng chưa. Đất là nỗi ám ảnh hàng ngàn năm, của những linh hồn đói, những biển mồ hôi đổ trên đất của người, những xác thân lúc chết rồi không chỗ chôn, những người bỏ xứ sở đền đài đi tìm mảnh đất cho mình.

Nỗi mê tiền kiếp đó, sẵn đâu trong xương tuỷ. Sáu đứa con cậu thì hết năm bị đất bỏ bùa. Thằng mê nặng nhất làm cậu mợ rầu hết hơi. Vợ chồng nó lục đục hoài bởi mỗi lý do, có nhiêu tiền chồng lén đi tậu đất. “Con đâu phải mua đất để diện lên người”, có lần thằng con nói vậy. Nên có nhiêu tiền nó kiếm đất mua chơi. Có đất sinh lợi, có đất sang tên xong rớt vô khu quy hoạch. Vợ than trời, kêu đất nhiều chi mà không dám ăn một bữa ngon ở nhà hàng, đất nhiều chi mà chạy xe cà tàng cứ lên dốc cầu lại chết máy. Nhưng thằng chồng vẫn không thôi ngoái nhìn mỗi khi đi qua bảng rao bán đất bên đường, vẫn xao xuyến ghi số điện thoại người ta ghi  trên đó, dù là xó núi đó nó chỉ tình cờ đi qua một lần, không bao giờ quay lại. Nó không tin được khi nghe chuyện nhiều triệu phú của Mỹ sống nhà thuê. Nó cũng không chịu đựng nổi cái viễn cảnh mà những nhà khoa học vẽ ra khi vài chục năm tới nước biển nhấn chìm cả vùng miền trù phú này, đương nhiên là sứa tung tăng trên những miếng đất mang tên nó.

Sợ đám con không đủ trí tưởng tượng để hình dung ra cảnh ấy, cậu tìm cớ rủ tụi nó, chẳng thể cùng lúc thì từng đứa một, ghé lại chỗ mảnh đất hoang – vết sẹo xóm. Từ con đường của dự án dân cư phía sau chắn ngang, nước dâng ngập cả vườn. Chủ tan tác sau cuộc tranh giành vấy máu, không ai chăm sóc, chẳng người cơi nền, giờ đất là giang sơn của nước, chỉ nắng tháng ba mới đủ sức hong khô những chân sậy ướt mèm.

Ẩn ý xa xôi, tụi nhỏ coi bộ chẳng thẩm thấu nổi. Dịp thanh minh rồi, cậu kêu đám con lại, chỉ vô những nấm mộ mới quét vôi, “nhìn coi, đất đai của nả cỡ nào, cuối cùng cũng nằm gọn vô chỗ đó”. Nhìn vẻ mặt tỉnh trân của đám trẻ, cậu nhận ra bài giảng nọ cũng không ăn thua. Nó đã cũ nhàm. Ai cũng biết kết cuộc đó, hiển nhiên như cái thành phố đến gần cuối năm là ngập hơn một nửa trong triều cường. Nhưng lòng tham khiến cho mọi nhận thức đều mờ nhoè hết. Tham được mùa, đồng nghĩa với mọi giá trị khác đều thất bát, rụng rơi.

Nguyễn Ngọc Tư

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.