Huyền thoại làng :”quý ông bố mày đéo..!!”

Mai Thanh Sơn ‘s phê tê bốc

HUYỀN THOẠI LÀNG: QUÝ ÔNG “BỐ MÀY ĐÉO…”

Ông có tên tuổi đàng hoàng. Nhưng tôi thích cái hỗn danh “Bố mày đéo…” của ông hơn. Khi không hài lòng, không chấp nhận điều gì, ông chẳng bao giờ thèm nói năng từ tốn, mà luôn văng “Bố mày đéo…”. Bố mày đéo thích. Bố mày đéo thèm. Bố mày đéo cần. Bố mày đéo chơi. Bố mày đéo ngán… Đến lúc cái chết bò từ chân lên đến cổ, ông vẫn còn kịp nói với mấy người con đứng xung quanh giường “Bố sắp chết. Nhưng bố mày đéo sợ.” Nói xong, ông cười thanh thản. Và thăng.Ông không phải trai làng tôi, chỉ là rể. Nhưng có một chàng rể như ông, dân làng tôi cũng thấy có chút tự hào. Ông to cao, vạm vỡ, và giỏi việc. Nghe đồn hồi trẻ, ông nổi tiếng ngang tàng/nghĩa hiệp, từng hai tay hai đòn càn đuổi bọn cướp chạy văng mạng. Quê tôi phân biệt đòn xóc với đòn càn. Cả 2 dụng cụ này đều dùng để gánh củi, gánh các bó lúa hay rơm rạ từ đồng về, nhưng cấu tạo khác nhau chút chút. Đòn xóc là một bẹ tre vót nhọn hai đầu. Đòn càn là nguyên một đoạn tre tròn, vạt chéo hai đầu để dễ bề xóc vào bó lúa. Chỉ những tráng đinh khoẻ mạnh mới dùng đòn càn, người bình thường và phụ nữ chỉ dùng đòn xóc. Đó cũng là những loại vũ khí tự vệ của dân quê tôi mỗi khi hữu sự.Những năm giữa thế kỷ trước, quê tôi đất rộng người thưa. Trừ những thửa đất ven làng sớm có chủ, phía trong gần dãy Tam Điệp chiêm khê mùa thối, đất hoang bạt ngàn. Nhưng nếu khéo làm, cũng có thu nhập ít nhiều. Năng nhặt thì chặt bị. Nhờ có sức vóc, biết tính toán, không ngại khó/ngại khổ, từ những năm 1940-1950, ông đã tự xây dựng cho mình một ngôi nhà ngói 5 gian và mấy gian nhà ngang, vừa làm bếp, vừa lấy chỗ cho vợ chăn tằm dệt nái.

Ngày đó, một gia đình làm được nhà ngói, đào được ao thả cá đã được coi là có cơ ngơi bề thế. Nhưng ông không hưởng một mình. Gia đình còn cưu mang mấy nhà nghèo bên nội bên ngoại, và cả xóm giềng nữa. Người thì được nuôi trong nhà. Người thì hàng ngày đến làm lấy công. Bước sang tuổi trưởng thành, họ được ông đứng ra dựng vợ gả chồng và cho đất ra ở riêng.Đận năm Ất Dậu (1945), xã tôi hầu như không có người chết đói, phần vì cá tôm và rau đồng lủ khủ. Không có thóc gạo, khoai ngô thì vác đồ nghề đi kiếm các loại động vật thuỷ sinh và hái rau dại về cũng qua được bữa. Nhưng phần khác, cũng nhờ có sự chia sẻ, tương thân tương ái của những gia đình có của ăn của để như ông và dăm bẩy người khác nữa. Lá lành đùm lá rách là cái lề có từ xa xưa.Rồi cải cách ruộng đất càn qua làng xã như một cơn bão quét. Vợ chồng ông bị đưa ra đấu tố. Nhưng khi đạc lại đất đai, ông chỉ còn hơn 3 mẫu (mẫu Bắc bộ, 3.600m2). Một phần ruộng đất ông đã chia cho những người con nuôi con ở trong những năm trước đó. Không quy được vào địa chủ, “đội” bèn quy tội ông là Quốc dân đảng. Tội này còn nguy hiểm hơn địa chủ cường hào ác bá.Ngày xử án, bãi đất trống Lợi Hoà đông nghìn nghịt các ông bà bần cố nông. Trong số những người bị đấu tố/gán tội, ông là người duy nhất không nhận bất cứ tội gì. Không thèm thưa gửi với bất cứ ai. Bị đánh gãy răng, nhưng ông còn lưỡi. “Đội” luận tội đến đâu là ông cãi đến đó, và đòi phải đưa ra bằng chứng. Những đứa con nuôi con ở, một thời nhờ có vợ chồng ông mà sống được, nay được gọi lên để làm chứng. Nhìn thấy khuôn mặt ông đằng đằng giận dữ, đứa nào cũng run như giẽ, chưa kịp mở miệng đã bị ông chửi cho sấp mặt: “này con mẹ kia, không có bố mày đây, chúng mày đến cái mẻ sành cũng không có, giờ lại dám vác mặt ra đây à…. này thằng kia, mày có nhớ, lúc bố mày chết, nếu không có tao, đến cái chiếu cũng không có mà bó để chôn không…”. Các kịch bản mà “đội” soạn ra đều bị ông xé bỏ không thương tiếc. Không khuất phục được ông, “đội” cho đào hố chôn ông đến tận cổ rồi đe sẽ cho trâu kéo bừa qua. Ông vẫn ra rả chửi… Và luôn miệng đe doạ: “chúng mày đợi đấy, bố mày mà còn sống ra khỏi đây, đừng mong có đứa nào sống nổi với bố.

minh hoạ

Bố đéo ngán”.Đúng ngày dự tính sẽ hành quyết ông cùng mấy người khác nữa thì có chỉ thị sửa sai. Ông thoát tội chết, nhưng không thoát được tội sống. Những kẻ tham gia đấu tố và được chia “quả thực” từ tài sản nhà ông ăn không ngon, ngủ không yên khi nhớ lại những lời đe doạ của ông. Chúng biết ông là người đã nói là làm. Để tránh thêm đổ máu, bọn “đội” lập hồ sơ đưa ông đi cải tạo tập trung ở Đầm Đùn, Kim Bôi (tỉnh Hoà Bình). Ngày đó, dân quê tôi lưu truyền câu ca dao: “quý thì cho thịt cho xôi/ghét nhau đưa đến Kim Bôi, Đầm Đùn”. Họ muốn mượn rừng thiêng nước độc ở xứ sở này trừ hậu hoạ cho lũ ăn cháo đái bát ở quê. Nhưng ông không dễ chết. Không thể chết. Năm 1967, khi Mỹ tăng cường ném bom miền Bắc, trại cải tạo phải sơ tán. Để cho gọn nhẹ, ông được Ban Quản lý đưa vào diện thanh lọc, trả về địa phương. Ngày ông về, làng quê chộn rộn. Những kẻ từng đấu tố, chia chác tài sản nhà ông tìm cách lánh mặt hết. Các con lựa lời khuyên giải mãi ông mới nguôi ngoai. Từ đó, ông ít nói hẳn. Ông không tầm nã ai nữa, nhưng cứ mỗi lần uống rượu ngất ngây, lại mang cây mác ra mài đi mài lại. Nhìn ngắm cây mác một hồi, vẻ hài lòng, ông chém phập vào cây cột, hét “bố mày đéo ngán, nhé”.Những năm tôi học cấp I, ngày nào cũng cắp sách đi ngang nhà ông. Lần nào nhìn thấy tôi, ông cũng gọi vào nhà, khi thì cho quả ổi, khi thì cho quả na. Và lần nào ông cũng chỉ nói đúng một câu: “mày là con bố… đây mà. Giống lắm. Bố mày với bác ngày xưa quý nhau lắm đấy”.

Mai Thanh Sơn

(rút trong tập bản thảo “Muôn nẻo đường làng Việt”).

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.