Câu chuyện về Coronavirus(Covid -19 Vũ Hán)-Francisco Rodríguez Criado/Trần C Trí dịch từ tiếng Tây Ban Nha-

câu chuyện về coronavirus

clip_image002

Francisco Rodríguez Criado
♦ Chuyển ngữ: Trần C. Trí

Francisco Rodríguez Criado là nhà văn Tây Ban Nha, sinh trưởng tại thành phố Cáceres vào năm 1967. Là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện thật ngắn và kịch phẩm, các tác phẩm của ông đã xuất hiện trên nhiều cuốn hợp tuyển truyện ngắn Tây Ban Nha. Ông giữ một chuyên mục của tờ Nhật Báo Extremadura và từng giảng dạy các lớp viết văn.

clip_image004

siêu vi khuẩn corona bị đổ tội là đã làm mất đi sự êm đềm trong mọi gia đình. Thoạt đầu, như nhiều người khác, chúng ta đã cố làm giảm đi tầm quan trọng của nó. Chúng ta cho rằng con siêu vi khuẩn này, bắt nguồn từ Trung Cộng, chắc sẽ chỉ hoành hành trong một thời gian ngắn, và sẽ biến mất trước khi chúng ta kịp để ý đến nó. Tuy nhiên, qua nhiều tuần lễ với cơ man những trường hợp lây nhiễm và con số tử vong, chúng ta đã bắt đầu chìm ngập trong hoảng loạn. Trong khi còn chưa có thuốc chích ngừa, phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất, theo các nhà dịch học, chính là sự cách ly. Con siêu vi khuẩn corona này đã không còn là một câu chuyện bên Tàu mà đã trở thành một mối đe doạ thật sự.

Về phần mẹ tôi thì bà chẳng giúp cho tình trạng này đỡ tệ hại hơn chút nào cả. Bà làm trong một bệnh viện. Mỗi lần đi làm về sau một ngày dài cực nhọc, bà lại cung cấp cho cả nhà một bản tường trình y học. Một bên là mẹ tôi, còn một bên là truyền thông, thật khó mà tổng kết được bầu không khí hoảng loạn ngay lúc này. siêu vi khuẩn corona đang trên đường tiến đến chỗ trở thành một đại dịch, theo như Tổ Chức Y Tế Thế Giới.

“Mẹ không sợ nhiễm con siêu vi khuẩn corona này. Thường thì nó không gây tổn hại gì mấy cho những người khoẻ mạnh. Cứ uống Paracetamol là xong. Người mà mẹ lo là ông ngoại đó. Ông mà dính vào nó thì chỉ có nước đi đoong,” mẹ tôi bảo. “Đi đoong,” trong thứ tiếng lóng của một người con gái đang hoảng sợ, có nghĩa là “chết không kịp ngáp, như một con chó.” “Chúng ta phải làm sao cho ông ngoại chịu tự ý cách ly mới được,” mẹ tôi tuyên bố.

Nói những chuyện kiểu “tự ý cách ly” với ông ngoại quả là việc hết sức rắc rối. Ông ngoại tôi, dù đang ở vào buổi hoàng hôn của cuộc đời, hãy còn tràn trề năng lực bằng tất cả chúng tôi cộng lại. Động từ “chịu” không có trong triết lý sống của ông. Vì thế lúc nào ông cũng nhìn chúng tôi bằng nửa con mắt. Mỗi khi có ai đó hỏi thăm về gia đình mình, ông phải ráng lắm mới không buông ra một lời phê bình gay gắt. “Lũ phản loạn!” ông thường bảo. “Chúng chẳng có gì hay ho cả!”

Ông ngoại tôi ngày trước là một doanh nhân thành đạt, táo bạo và xông xáo, một người đàn ông cao lớn, thân hình vạm vỡ, tư chất quý phái tuy có phần quá đáng. Giờ đây, ở cái tuổi 84, việc đầu tiên mà ông làm mỗi buổi sáng, sau khi ăn mặc thật chải chuốt trong bộ đồ lớn có thắt cà-vạt (lúc mặc quần áo trông ông bao giờ cũng thật bảnh bao), đó là đi ra công viên chơi đánh bi sắt với một nhóm bạn, những cụ cao niên mà rắn rỏi, thách thức với thời gian. Tôi phục lăn những ông cụ này, dù tuổi đời chồng chất, vẫn còn thì giờ và ham muốn cúi lưng xuống để chơi môn bi sắt. Tưởng chừng như tuổi già đang bắt tay với tuổi thanh xuân để khép lại vòng xoay của cuộc sống.

Ông ngoại tôi là người cao niên nhất trong nhóm, dạo sau này chỉ còn được đứng xem. Đôi chân của ông đã bắt đầu yếu đi. Ông không còn ném được những hòn bi sắt nữa, nhưng vẫn làm tất cả những chuyện khác: bàn cãi, cổ võ, bông đùa, cười cợt, ôm ấp, hăm doạ (mỗi khi có cơ hội). Tóm lại, ông sống hết mình với trò chơi như bao nhiêu người khác. Đối với những ông cụ đó, môn bi sắt là một ẩn dụ về cuộc đời: chơi cũng đồng nghĩa với sống còn.

Và đây là toàn cảnh của sự việc: chúng tôi phải cho vào khuôn phép, hay nói khác đi, bắt buộc việc cách ly tự nguyện (nghe thật trái khoáy) đối với nhân vật tràn đầy sinh lực nhất trong nhà. Chúng tôi, những kẻ chẳng có gì hay ho cả, theo như lời của vị gia trưởng kiêm con tin trong những ngày sắp tới. Và cũng có thể rằng mẹ tôi, như mọi người, cũng chẳng có gì hay ho cả, nhưng nếu có chút gì còn sót lại trong bà thì đó chính là tính bướng bỉnh. Bướng bỉnh và hay sợ hãi.

Một ngày nọ, chúng tôi triệu tập một cuộc họp gia đình. Chúng tôi muốn quyết định một lần cho xong xem có nên giữ ông ngoại trong nhà cho đến khi con corona đã trở thành một chuyện của quá khứ không. Nếu vậy, chúng tôi phải bỏ phiếu. Sau một hồi bàn thảo sôi nổi, chúng tôi phải giơ tay cho ý kiến. Ai đồng ý giữ ông ngoại trong nhà? Ai ủng hộ chuyện cứ để nước chảy bèo trôi? Kết quả là có ba người thuận và ba người chống. Phải làm sao để huỷ bỏ tỷ số ngang ngửa này. Lúc đó tôi chợt nhớ tới cuốn phim Mười Hai Người Giận Dữ. Như được giao phó một tinh thần công lý, tôi đóng vai của Henry Fonda, giơ tay biểu quyết một cách hùng hồn nhất.

Nhưng mẹ tôi, hết sức hoảng sợ, cảm thấy phải làm chuyện cấp thiết, cũng hùng hồn không kém khi tranh luận rằng con siêu vi khuẩn này vô cùng nguy hiểm, đặc biệt là đối với người lớn tuổi, những bệnh nhân có nguy cơ cao: “Ông ngoại mà bị nhiễm corona là chỉ có nước chết mà thôi.”

“Cũng có thể,” tôi bắt đầu phản bác. “Nhưng cấm ông ngoại đi ra ngoài cũng chẳng khác nào kết cho ông cái án tử hình.”

“Nói vớ vẩn!”

Sau cuộc tranh luận gay go, tôi hỏi mẹ tôi tại sao bà không để chính ông ngoại tự quyết định.

“Con có điên chưa chứ? Ông ngoại sẽ không đời nào chấp nhận chuyện ở nhà, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào. Ông cứ tưởng là mình mới mười lăm tuổi đầu thôi.”

“Chính vì thế mà chúng ta mới nên tự kiềm chế. Ông ngoại có cuộc sống của mình. Ông nên tha hồ hưởng, không nhiều thì ít, tất cả những gì cuộc đời còn dành cho mình. Nếu ông có phải chết thì cũng mong ông chết trong sự hưởng thụ ‘tuổi trẻ’ của mình.”

“Ông ngoại không phải như bọn mình, vì bọn mình chỉ là một gia đình phản loạn.” Điều đó tôi không nói ra, mà chỉ dám nghĩ thầm.

Rốt cục, hẳn là tôi phải có sức thuyết phục lắm nên cuối cùng ba tôi (ai mà ngờ tới, một người vốn không thích cho mình là nhân vật quan trọng!) đã chạy sang nhóm mà tôi đang dẫn đầu. Vậy là có bốn phiếu thuận, hai phiếu chống. Ông ngoại sẽ được tiếp tục ra đường và vẫn nhìn chúng tôi bằng nửa con mắt.

Đây chỉ mới là phần đầu của câu chuyện.

Phần thứ nhì, như độc giả hẳn đã đoán được, là ông ngoại cuối cùng cũng đã bị nhiễm corona. Thế là cái vai chính Hollywood mà tôi đóng trong buổi họp gia đình đã trở thành một cảm giác tội lỗi khi ông ngoại phải vào nhà thương cấp cứu.

Mẹ tôi chẳng buồn nói với tôi nửa lời mà chỉ ném cho tôi một cái nhìn giận dữ. Đối với tôi, điều đó còn đau gấp bội. Tôi chứ còn ai nữa: một anh Henry Fonda trong những giây phút huy hoàng, và một người đã nhiễm dịch khi mọi việc đã ngã ngũ.

May sao, ông ngoại quả là mình đồng da sắt hay sao mà đã được xuất viện để kể lại ngọn ngành. Và ông đã kể ra hết! Cả đời ông ngoại đã từng kể lại biết bao nhiêu trận đánh mà thực sự chưa hề xảy ra (đồng thời phủ nhận những trận có thật). Ông đã lợi dụng kinh nghiệm mới này để bắt mọi người lắng nghe mình. Ông thủ vai một kẻ sống sót, và mặc dầu sau cơn bạo bệnh ông đã yếu đi nhiều về mặt thể chất, tinh thần của ông lại khoẻ khoắn hơn bao giờ hết.

Ông ngoại kể lại những ngày nằm trong bệnh viện cho tất cả những ai muốn nghe, và ông đã kể chuyện một cách ly kỳ không kém gì một pho tiểu thuyết lịch sử của nhà văn Benito Pérez Galdós hay một lời cước chú về thảm kịch Chernobyl.

Phần vì như để trừng phạt tôi đã tiếp tay cho ông ngoại bị nhiễm corona, phần vì muốn ông ngoại đỡ sợ, mẹ tôi cắt cho tôi việc đi đón ông ngoại lúc ông xuất viện. Tôi cố gắng viện cớ bận bịu với công việc, nhưng bà nhấn mạnh rằng công việc ở hãng dược phẩm tôi đang làm lúc nào cũng dễ dàng cho phép tôi có thì giờ trống đi đón ông ngoại.

Chuyện này thì tôi thường làm một tuần hai ba lần rồi. Khỏi nói cũng biết rằng ông ngoại, vốn là người bon vivant, chẳng cần đến ai đi hộ tống, càng không cần người nào trong nhà, người mà “không biết giá trị là gì,” người mà ông ngoại chắc chắn chẳng nể nang gì cả.

Nhưng tôi vẫn thấy mặc cảm tội lỗi, cho nên có nhiều buổi sáng tôi nghĩ mình đã làm ông ngoại khó chịu về sự có mặt của mình.

Một hôm, tôi thu hết can đảm để xin lỗi ông, “Ông ngoại ơi, mẹ con đã nói đúng. Đáng lẽ ra ông nên ở nh…”

“Cháu câm mồm lại đi, lỗi với phải gì! Ông không muốn nghe ai lải nhải về chuyện này nữa!” ông làu bàu, chẳng cần giấu diếm thái độ coi tôi không ra gì cả.

“Ông ngoại…”

“Mẹ kiếp, đã bảo câm mồm lại rồi mà!”

“Lỡ ông có mệnh hệ gì thì…”

“Đó chính là điều mà mẹ cháu muốn đó: giết ông ngay trong cuộc sống này mà.”

Đoạn ông quay về phía tôi đứng, trên môi điểm một nụ cười, đặt tay lên vai tôi. Đó là cách ông tỏ lời cám ơn của mình.

Từ lúc ở bệnh viện trở về, ông ngoại phải dùng gậy. Ông trở nên uể oải hơn, đi đứng khó khăn, có lúc nói ấp a ấp úng. Mặc dầu trông tướng tá của ông vẫn còn cao lớn, tôi thấy như ông đã thấp đi mấy phân chỉ trong một thời gian ngắn. Ông đã trở thành một phiên bản rối loạn của chính mình, mặc dầu, như tôi đã nói, ông vẫn duy trì được tinh thần luôn phấn đấu như bao giờ.

Đi bộ trong vài phút, chúng tôi đã tới sân chơi bi, nhưng ông ngoại lại muốn đi qua luôn không dừng lại.

“Hôm nay ông không muốn gặp mấy lão bạn già kia. Ông có chuyện cần làm. Cháu đi với ông nhé, ông muốn đi thăm bà bạn gái của ông.” Tôi định trả lời ông thì những người bạn của ông đã thấy chúng tôi. Từ xa xa, họ bắt đầu xì xào bình phẩm ra vẻ giễu cợt, nhưng ông ngoại chỉ đáp lại bằng thái độ khiêu khích. Trong không khí ồn ào đó, tôi không có cơ hội mà cũng không muốn mở miệng ra làm gì nữa. Khi đã đến gần một cái ao nước, ông ngoại mới bắt đầu nói chuyện thêm với tôi, ông coi giờ bằng cái đồng hồ quả quýt thật đỏm dáng mà ông luôn bỏ trong túi của cái áo vét bằng nỉ của mình.

Như hai con kiến tí hon, ông cháu tôi tiếp tục đi dần về cái ao nằm cuối công viên, một cái góc vắng vẻ, ẩn mình dưới những tàng cây xinh đẹp (vài cây du và mấy cây keo), những chứng nhân câm lặng của những cuộc gặp gỡ thường xuyên của những đôi tình nhân trẻ. Nói một cách nào đó, đây chính là chỗ nổi tiếng nhất trong công viên này.

Tôi kín đáo quan sát ông ngoại, trông ông có vẻ mệt mỏi nhưng đồng thời cũng phấn chấn không kém. Tôi nghĩ rằng ông đã lẩn thẩn mất rồi nên rất lấy làm lo lắng. Hai chúng tôi đã đến chỗ bờ ao mà chẳng thấy có ai ở đó cả; hoặc ít nhất cũng không thấy bà “bạn gái” nào. Tôi cho rằng tinh thần của ông ngoại đã bắt đầu sa sút thấy rõ.

“Nhìn kìa cháu, bà ấy đến rồi!” Ông ngoại vui mừng thốt lên, cầm cây gậy chỉ trỏ.

Tôi quay theo hướng đó, và ngạc nhiên làm sao khi thấy một người đàn bà cao niên ngồi dưới tàng cây bạch dương, cũng điệu đà không kém gì ông ngoại. Nhác thấy chúng tôi, bà đứng lên từ chiếc ghế đá, vừa có vẻ rán sức, vừa trông thật cao sang. Bà đứng thẳng người, vui vẻ nhưng không ồn ào. Tất nhiên bà phải là một người đàn bà quý phái.

“Cháu thấy chưa? Ông đã nói mà! Chắc cháu tưởng rằng ông đã điên rồi phải không? À, thật ra thì ông điên thật rồi. Điên vì mê bà ấy đó cháu ạ. Bà là một người đàn bà đáng ngưỡng mộ! Bà tên là María .”Đoạn ông thấp giọng nói tiếp, “Ông mong là vong linh của bà ngoại cháu sẽ tha thứ cho ông. Cuộc sống ngắn ngủi quá…”

Tôi nghe ông ngoại từ tai này lọt qua tai kia, bởi vì cũng như ông, tôi không thể rời mắt khỏi người đàn bà ấy. Ánh mắt của bà ngời sáng, không khác gì ánh mắt rạng rỡ của ông ngoại. Trông bà trẻ hơn ông ngoại chừng năm, sáu tuổi. Nhìn từ xa xa, trông bà đúng là một người đáng ngưỡng mộ, y như ông ngoại đã giới thiệu trước. Cũng như ông ngoại, thân hình mỏng mảnh của bà như gói ghém một cuộc đời không thể cưỡng lại chặng cuối cùng của nó. Bà bẽn lẽn, còn ông thì bạo dạn, hai người như hai đứa trẻ nhắc nhau đến những ngày nghỉ hè để cùng nhau chạy suốt trong công viên.

Tôi thoáng thấy một niềm ghen tị với hai người trẻ trên dưới tám mươi cái xuân xanh đang cùng nhau hẹn hò trong một góc vườn riêng tư của tình yêu, thách đố những lề luật của Thiên Nhiên.

Ông ngoại, có lẽ vì đang yêu hoặc vì cảm thấy vẫn còn một món nợ đối với tôi, tỏ ra trìu mến một cách đặc biệt. Ông không tỏ ra cảm xúc này qua lời nói mà bằng cử chỉ.

Thế rồi tôi để mặc ông ngoại ở đó, để ông đi từng bước chậm mà chắc về phía María, trong lúc bà vẫn đang đứng chờ, âu yếm tặng ông một nụ cười.

Trên đường về nhà, tôi vẫn không ngừng nghĩ đến chuyện vừa xảy ra. Ông ngoại đã vượt qua một cách xuất sắc cái mà rõ ràng là một trong những bài thi cuối cùng của đời ông. Còn tôi, với cả một cuộc sống còn đang trước mặt, chẳng khác gì là một kẻ hỏng thi, như một con corona, không gây chết người nhưng cũng chẳng chịu biến mất.

Tôi không thể rời bỏ mái ấm gia đình (dù đã để dành đủ tiền để mua một căn phòng chung cư), không thể thú thật với Rosa là từ lâu tôi vẫn thầm yêu trộm nhớ nàng, không thể bỏ việc làm mà chưa bao giờ làm tôi hạnh phúc, không thể công khai thú nhận rằng mình đã sai lầm trong hầu hết mọi việc…

Trong trường hợp của tôi, tính từ phản loạn mà ông ngoại vẫn thường dùng chắc cũng đồng nghĩa với vô tài bất tướng.

Đang tự dằn vặt mình với hết chuyện này qua chuyện nọ, tôi đã đi đến sân chơi bi lúc nào không biết. Vì mải mê suy tư nghiền ngẫm, tôi không buồn nhìn đến những người đang chơi. Chợt tôi nghe một giọng nói cất lên:

“Này, chú mày thả ngài Hầu Tước ở chỗ nào vậy?!”

“Ngài Hầu Tước” chính là ông ngoại tôi. Mọi người gọi ông như thế vì dáng điệu oai phong lẫm liệt của ông, và phải nói là ông trông đúng y như vậy.

Người vừa hỏi là một trong những ông bạn của ông ngoại, hẳn là một trong những người thường được ông thổ lộ tâm tình nhiều nhất.

“Cháu để ông ngồi nghỉ ngơi cạnh bờ ao đấy ạ.”

“À, nghỉ ngơi… Thế chú mày có muốn chơi với với các ông một ván bi không nào?” ông ta hỏi.

Câu hỏi khá bất ngờ đối với tôi. Tôi toan nói là mình không biết chơi, rằng tôi không thích môn chơi này, rằng môn bi sắt đối với tôi là một thú giải trí nhạt nhẽo, rằng tôi không định phải khom lưng một cách vô ích, rằng những đứa phản loạn như chúng tôi chẳng bao giờ mất thì giờ vào những trò vô thưởng vô phạt ấy. Tuy thế, vì một lý do gì không rõ, tôi lại nhận lời.

“Tất nhiên rồi ạ! Không ngần ngại gì nữa, tôi cởi cái áo vét và tháo cái cà-vạt mà tôi vốn rất ghét ra (chỉ do công việc đòi hỏi) và vắt phăng chúng lên một cái băng ghế. “Chúng ta bắt đầu thôi chứ ạ?” tôi vừa xắn tay áo lên vừa hỏi.

Các ông bạn của ông ngoại lập tức tán thưởng quyết định của tôi, như thể tôi là một người trẻ tuổi nữa mới vào trong nhóm vậy.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.