Nỗi buồn chiến tranh :đọc lại chuyện “Người đàn bà đêm 29/4/75 tại Sàigòn”-BS Phạm Anh Dũng

THE WOMAN ON THE NIGHT OF 29TH APRIL 1975 / /NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG ĐÊM 29 THÁNG TƯ NĂM 1975

PHẠM ANH DŨNG

·WEDNESDAY, APRIL 29, 2020·

THE WOMAN ON THE NIGHT OF 29TH APRIL 1975

In my younger years, I did not believe in any particular religion whether it was Buddhism or Christianity. However, there was an incident that made me change my mind. This story takes place on the night of April 29, 1975. Since then, as April approaches each year, Minh Ha and I have been always reminded each other of the significance of this meaningful day.

I graduated from the Faculty of Medicine at University of Saigon and the 21st session of Active Military Medical Army Doctors in 1974. After graduation it was time for the army division to recruit its conscripts. In March 1975, I moved to central Vietnam to be an Army Medical Doctor for The Third Infantry Division. This was my first and last time serving in the army as a soldier. Approximately two weeks later, Da Nang was taken over by the Vietnamese communists on the 29th March 1975. Fortunately I was able to flee the city on a small boat before the communists took over.Looking back at Saigon, I could see a capital city of tension and confusion where everyone was desperate to find a way out of the country. After discussing it with Minh Ha, I asked for permission from our parents to get married and to flee together when the moment arose.After a very small and simple wedding, I went to Ba Ria in accordance with the redistribution of Division 3 Infantry. However, I couldn’t meet up with any other army dentist, pharmacist or medical doctor of the Medical Battalion of theThird Infantry Division. I then decided to return to Saigon and on the way met a number of soldiers from Division 18 from Xuan Loc who also happened to be traveling to Saigon. My last bit of hope was beginning to run out.On the evening of 29th April 1975, with nobody to guide us, I took Minh Ha to the bank of Bach Dang River. No other family members were courageous enough to go with us as the Navy Base was closed off with barbed wire. Night fall came shortly. It was then gunshots rang out putting everyone and everything into chaos – there was no way out.Later that night, Minh Ha and I came across a lady who we had never met. We had no idea where she came from but she called to us to inform us that the Navy Base gate had been opened. The three of us immediately walked faster and faster and eventually built up to a sprint towards the gate. We made it through the gate and gained access to the Navy Base.HQ-1 was the first ship we saw, however we were waiting in line for it with thousands of people in front of us. They were lined up in front of a ladder for boarding, and we were in the last row. At this stage we had no hope or chance. The lady who led us to the Navy Base then told Minh Ha that“at the back of the ship there were people climbing up via a rope.”The three of us headed to the back of the ship. But when we arrived at the location where people were climbing up, the lady was nowhere to be seen.I took a hold of the rope and pushed Minh Ha up with the help of a man on the ship. I proceeded to climb after Minh Ha. Just two minutes after we were on the ship, a naval soldier cut the rope connected to the ladder. On 30th April 1975, while drifting along the ocean, we couldn’t help but think about the fall of Saigon, our home. Until now I still have no idea who the lady that helped us was. Minh Ha believes (and I agree for sure) that the lady was Quan Yin Bodhisattva or Our Lady The Blessed Virgin Mary, mother of Jesus, who saved us during our desperate state of affairs.

Phạm Anh Dũng, April 2013

(translated by Mai Tuyết Ánh 20015edited by Phạm Anh Lê Bách 2016)====================

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG ĐÊM 29 THÁNG TƯ NĂM 1975

Tôi, ngày xưa vẫn không bao giờ tin vào tôn giáo, Phật hay Chúa. Nhưng rồi có một chuyện xảy ra trong đời làm thay đổi cả ý đó. Chuyện xảy ra vào đêm 29 tháng Tư năm 1975 và sau đó năm nào đến những ngày tháng Tư, tôi và Minh Hà vẫn nhắc lại cho nhạu.Năm 1974, ra trường Y Khoa Sài Gòn và khóa 21 Quân Y Hiện Dịch, sau khi học khóa huấn luyện sau cùng ở Tổng Y Viện Cộng Hòa, đến lúc chọn đơn vị. Tháng Ba năm 1975, tôi ra miền Trung làm y sĩ cho Sư Đoàn 3 Bộ Binh, đơn vị đầu tiên và cũng là cuối cùng trong đời quân đội. Chỉ khoảng hai tuần sau, ngày 29 tháng 3, 1975 Đà Nẵng mất và may mắn tôi thoát được bằng đường biển.Về đến Sài Gòn, tình hình căng thẳng, thành phố rối loạn, dân chúng tìm đường đi. Tôi bàn với Minh Hà và xin phép bố mẹ hai bên làm một đám cưới, để khi cần, có thể cùng chạy với nhau.Sau đám cưới, thật nhỏ và thật đơn giản, tôi trở ra Bà Rịa để theo lệnh “tái phối trí” Sư Đoàn 3 Bộ Binh, nhưng không gặp một quân y dược hay nha sĩ nào trong Tiểu Đoàn Quân Y. Đành quay về lại Sài Gòn và trên đường về, tôi gặp một số quân lính của Sư Đoàn 18, từ Xuân Lộc cũng đang thoái lưu về hướng Sài Gòn. Niềm hy vọng cuối cùng coi như sắp chấm dứt.Chiều ngày 29 tháng Tư năm 1975, không có phương tiện và cũng chẳng có quen ai, tôi dẫn Minh Hà ra bến sông Bạch Đằng ở Sài Gòn. Không ai trong gia đình hai bên có can đảm đi theo. Căn cứ Hải Quân đóng kín bằng hàng rào kẽm gai. Chẳng mấy chốc đêm tối đổ xuống, vài tiếng súng nổ đâu đó và dân chúng hỗn loạn, không có đường thoát.Trong đêm lúc tôi và Minh Hà vẫn đi loay hoay quanh bến tàu, có một người đàn bà không hiểu ở đâu ra, gọi với tôi cho biết cổng vào của Hải Quân đã mở. Cả ba chúng tôi cố đi thật nhanh như chạy và len thoát qua được cổng, vào trong căn cứ Hải Quân.Tàu đầu tiên gặp là HQ-1 nhưng hàng ngàn người đã đứng xếp hàng đợi lên tàu ở chỗ thang lên tàu và chúng tôi những người ở hàng cuối cùng, đứng đợi không có hy vọng đến lượt. Tự nhiên người đàn bà đã dẫn dắt chúng tôi nói với Minh Hà, cho biết đằng sau tàu có người đang leo dây lên tàu.Thế là cả ba người đi ra phía sau của tàu. Nhưng khi đến chỗ có người leo dây lên tàu thì tôi và Minh Hà không còn thấy người đàn bà đó nữa.Tôi nắm dây, từ dưới đẩy Minh Hà, nhờ người ở trên kéo lên trước và chính mình leo dây theo sau. Lên được tàu thì chỉ độ hai phút đồng hồ sau lính Hải Quân chặt dây ở thang lên tàu để tàu ra khơi.Ngày 30 tháng Tư năm 1975, lênh đênh trên biển chúng tôi được tin Sài Gòn đã mất.Đến bây giờ tôi vẫn không biết người đàn bà dẫn dắt chúng tôi là ai. Minh Hà tin và tôi đồng ý, chắc chắn là Phật Bà Quan Âm hay Đức Mẹ, đã đến với chúng tôi trong lúc tuyệt vong.

Phạm Anh Dũng, tháng Tư 2013

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.