Tưởng nhớ 10 năm(2010-2020) "màu tím hoa sim" rời cõi đời ô trọc,gian dối…

Đi tìm màu tím hoa sim –

Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ

18/03/2020 09:14 GMT+79313Lưu

TTO – 18-3 là ngày giỗ 10 năm thi sĩ Hữu Loan (1916-2010) giã từ cuộc thế. Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại những đồi sim ấy để tìm hồn thơ của ông và tình yêu bất tử với “nàng vá tấm áo cho chồng ngày xưa”…

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 1.

Ký họa về thi sĩ Hữu Lo an

“Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
Trước tin em lấy chồng”.

Đã 10 năm hương hồn nhà thơ Hữu Loan dạo chơi đồi hoa sim cùng cô gái bé nhỏ của mình, nhưng những dòng thơ tình của ông vẫn làm thổn thức biết bao trái tim.

Chiều cuối xuân nhạt nắng, từ TP Thanh Hóa, chúng tôi đi chừng 30km về trung tâm huyện Nga Sơn, từ xa đã dễ dàng nhận thấy ngọn núi Vân Hoàn sừng sững vươn lên giữa đồng bằng.

Đẻ rơi cửa chùa

Chùa Vân Lỗi nép bên sườn núi quay hướng ra sông Mã, nằm cách đường vào thôn Vân Hoàn chừng vài chục bước chân. Được xây dựng từ thế kỷ XIV thời nhà Trần, vách núi của ngôi chùa từng mang tên Sùng Nghiêm Tự này vẫn còn in dấu nhiều bài thơ do tiền nhân để lại. 

Nhưng không chỉ thế, 104 năm trước, nơi đây còn gắn liền với sự ra đời của một nhà thơ tên tuổi khá đặc biệt trong văn học Việt Nam: Hữu Loan.

Đứng trên những bậc đá cheo leo lên chùa, ông Nguyễn Hữu Dũng, người sãi giữ chùa, nở nụ cười thân thiện mời chào. 

Khi nghe chúng tôi hỏi thăm về thi nhân Hữu Loan, ông đã “khoe” ngay: “Tôi gọi nhà thơ là chú, bố tôi với nhà thơ là anh em chú bác ruột. Hồi xưa, ông ấy được đẻ loi (đẻ rơi) ngay cánh đồng trước chùa đây chứ đâu”.

Ông Dũng vừa nói vừa hướng ra đồng cói xanh xanh trước chùa, phía xa là con sông Mã hiền hòa uốn lượn. Câu chuyện ra đời của Hữu Loan được người sãi giữ chùa 76 tuổi kể đã lan truyền rất lâu ở làng. Ban đêm, sư trụ trì Sùng Nghiêm Tự bỗng thấy một vầng sáng vàng lóe lên phía trên núi Vân Hoàn.

Rạng sáng hôm sau, một người phụ nữ đang làm đồng phía trước chùa lên cơn đau đẻ bất ngờ. Bà lê vào tới thềm chùa thì sinh rớt người con ngay ở đó. Sư trụ trì ngày ấy đã nói với người phụ nữ rằng đứa bé con bà rất đặc biệt, hẳn sau này sẽ hơn người. Đứa bé đó chính là nhà thơ Hữu Loan.

Cậu bé lớn lên với trí thông minh học đâu nhớ đó càng khiến nhiều người làng tin vào “điềm trời”. Dù nhà nghèo Hữu Loan vẫn được cha mẹ cho theo con đường ăn học. Để rồi năm 1938, 22 tuổi, con đường học vấn của Hữu Loan đã tỏa sáng khi ông đỗ “tú tài Tây” tại Hà Nội, thời ấy rất hiếm người đạt tới được.

Chỉ cần có bằng cấp này là đủ để tìm việc trong một cơ quan hành chính đương thời. Nhưng cơ hội ấy chưa bao giờ nằm trong ý định của Hữu Loan. Sau khi có bằng tú tài Tây, ông hành nghề dạy học ngay trên quê hương mình.

Trong Địa chí Thanh Hóa (tập II, Nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, 2004) vẫn còn ghi tên Hữu Loan là một trong số các giáo viên cao đẳng tiểu học vốn khá hiếm hoi vào thời kỳ đất nước chưa giành được độc lập.

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 2.

Cổng chùa ven núi Vân Hoàn là nơi người mẹ đẻ rơi cậu bé Hữu Loan rạng ngày 2-4-1916 – Ảnh: THÁI LỘC

Bài thơ khóc vợ trên đường hành quân

Cũng trong thời kỳ làm giáo viên tại Thanh Hóa, Hữu Loan đã có cơ duyên gặp người vợ đầu tiên trong đời mình, để sau đó làng thi ca Việt Nam xuất hiện những vần thơ bất hủ. 

Trong suốt hành trình chúng tôi theo tìm hiểu về Hữu Loan, câu chuyện về xuất phát điểm của bài thơ được rất nhiều người kể lại gần như nhau.

Hồi đó ở số 48 Phố Lớn (Trần Phú, Thanh Hóa ngày nay), bà Tham Kỳ (tức Đái Thị Ngọc Chất, vợ ông Lê Đỗ Kỳ, chánh thanh tra Đông Dương về canh nông) mở cửa hiệu tạp hóa bán nhiều loại giấy bút, sách vở. 

Bà Tham Kỳ là con ông Đái Xuân Quảng (một cử nhân Hán học, từng làm tri huyện), nên giỏi Hán ngữ lẫn Pháp ngữ, đam mê thơ phú, thuộc nhiều tác phẩm văn học cổ như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc…

Thời gian ở Thanh Hóa học tú tài, Hữu Loan vẫn thường xuyên lui tới cửa hiệu của bà Chất để thỏa mãn niềm đam mê sách vở. Bà Chất rất quý mến chàng trai con nhà nghèo hiếu học, đã mời Hữu Loan về kèm dạy học cho ba người con trai của mình. 

Lần đầu tiên Hữu Loan về nhà bà Chất, con gái thứ tư của bà vẫn còn là một cô bé còn rất nhỏ.

Bẵng đi một thời gian, khi đã là thầy giáo đang dạy Trường Alexandre de Rhodes do nhà thờ Công giáo ở Thanh Hóa lập, Hữu Loan lại được bà Chất mời về nhà dạy cho chính người con gái này, lúc đó đã là cô bé Lê Đỗ Thị Ninh 8 tuổi. Một thời gian sau, Hữu Loan tham gia kháng chiến.

Ông Nguyễn Hữu Đán, con trai út Hữu Loan, tâm sự: “Bố tôi kể rằng sau ngày độc lập 2-9-1945, khi đang làm tuyên huấn, cụ đã diễn thuyết vận động nhân dân ủng hộ cách mạng trong Tuần lễ vàng ở Thanh Hóa. Mẹ Ninh lúc đó vô tình thấy cụ đang diễn thuyết; là con nhà giàu đeo nhiều nữ trang, đã tháo hết ủng hộ cách mạng.

Về nhà, mẹ giải thích chuyện không còn vàng bạc với người mẹ là bà Tham Kỳ, rằng: “Mẹ ơi, hôm nay con gặp anh Loan. Anh đọc diễn văn Tuần lễ vàng trước bao nhiêu người, anh thông minh, giỏi lắm mẹ ạ”. Là phụ nữ biết “bệnh” tương tư, người mẹ hiểu rõ tâm tình của cô con gái hay nhắc đến anh Loan”.

Cũng chính bà Chất đã kết duyên cho mối tình đầu đời của Hữu Loan. Sau tiêu thổ kháng chiến, khi bà Chất đưa những người con của mình về sơ tán ở ấp Thị Long, Nông Cống (cách TP Thanh Hóa chừng 30km), Hữu Loan đã xin về phép và có một đám cưới giản đơn nhưng đầy hạnh phúc. Một đám cưới chân thật như lời thơ của ông:

“Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi!”.

Để rồi ba tháng sau đó, người vợ qua đời trong đau đớn. 

Một trong những người ở cùng Hữu Loan trong kháng chiến lúc bấy giờ là nhà thơ Vũ Cao đã từng viết lại thời khắc đau thương nhất của Hữu Loan: “Trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, anh báo tôi biết cái tin đột ngột: Lê Đỗ Thị Ninh vừa mất. Bàn tay anh cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt anh tái xanh”. 

Và những đau đớn ấy theo suốt đường hành quân xa, những vần thơ bất hủ cứ thế theo dòng cảm xúc của nhà thơ tài ba ra đời.

Bài thơ sau thời gian “truyền tụng ngầm”, lần đầu tiên được Nguyễn Bính cho đăng trên báo Trăm Hoa. Không ít ý kiến “quy kết” bài thơ là “thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản”, được xem là nguyên cớ để Hữu Loan rời báo Văn Nghệ về quê lao động, thồ đá nuôi con. 

Ở miền Nam, tác phẩm Màu tím hoa sim được các nhạc sĩ tài hoa như Phạm Duy, Anh Bằng, Dzũng Chinh phổ nhạc, làm thổn thức biết bao trái tim. Đến năm 2004, Màu tím hoa sim được một công ty ở TP.HCM mua tác quyền với giá 100 triệu đồng…

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ - Ảnh 3.

Ảnh Hữu Loan và các bạn văn trưng bày tại Bảo tàng Văn học Việt Nam – Ảnh: THÁI LỘC chụp lại

Trích đoạn Màu tím hoa sim

 Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất/ trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu…

Người em trai “nàng thơ” kể suốt mấy chục năm trời gia đình không ai dám đọc dám nghe bài thơ Màu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự “rờn rợn”, đau đớn, tiếc thương.

Đi tìm màu tím hoa sim – Kỳ 2: Chị xoáy theo dòng nước

19/03/2020 10:21 GMT+7334Lưu

TTO – Người em trai ‘nàng thơ’ bảo rằng, suốt mấy chục năm trời gia đình không ai dám đọc dám nghe bài thơ Mầu tím hoa sim vì nó quá thật, gợi sự ‘rờn rợn’, đau đớn, tiếc thương.

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 2: Chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 1.

Lấy chồng thời chiến binh/ Mấy người đi trở lại/ Nhỡ khi mình không về/ thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê… Nhưng không chết người trai khói lửa/ Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Trích Mầu tím hoa sim

Tìm về “nàng thơ”

Từ TP Thanh Hóa, chúng tôi tìm về ấp Thị Long, huyện Nông Cống – nơi được ghi nằm lại của “người vợ chờ bé bỏng chiều quê”. Bất ngờ qua điện thoại, ông Nguyễn Hữu Đán bảo: “Mẹ già tôi không nằm ở Nông Cống. Mẹ đang nằm ở nghĩa trang làng Định Hòa ở TP Thanh Hóa, cũng là quê của bà”.

Làng Định Hòa thuộc phường Đông Cương, nằm cách cầu Hàm Rồng vắt qua sông Mã non ba cây số đường chim bay.

Tìm đến nhà thờ họ Lê Đỗ, ông thủ từ Lê Đỗ Dạng giới thiệu say sưa về ngôi nhà thờ cổ ba gian chạm trổ công phu được làm từ thời Khải Định, là nhà thờ cổ hiếm hoi, gần như duy nhất còn lại trong vùng.

Bên bảng phả hệ treo trên bức tường, ông diễn giải rằng ngài tổ Lê Thành đến đất Định Hòa lập ấp từ mấy trăm năm trước, vốn là công thần nhà Lê Trung hưng được ban quốc tính nên con cháu về sau lấy họ Lê Đỗ. Bảng phả hệ thể hiện người cha Lê Đỗ Kỳ đời thứ 17, bà Ninh đời 18.

Nằm cách khu dân cư Định Hòa một cánh đồng rộng trồng nhiều hoa hồng và rau màu tươi tốt, nghĩa trang họ Lê Đỗ với hàng trăm ngôi mộ xếp theo thế thứ.

Phần mộ “nàng thơ” nằm ở dãy thứ sáu, tấm bia ghi rõ: “Mộ chí bà Lê Thị Ninh, đời thứ 18, sinh năm 1932, tạ thế 29-4-1949”. Sau thắp hương, ông Dạng dẫn chúng tôi vào làng để tìm gặp ông Lê Đỗ Tùng, trưởng ban điều hành dòng họ.

Ông Tùng là cán bộ về hưu, không biết có người trong họ vốn là “nàng thơ” dù ông rất thích bài thơ Mầu tím hoa sim. Ông “hi vọng” nhiều thông tin sẽ nằm trong gia phả mà mình lưu giữ.

Chúng tôi lần giở bản gia phả trong sự hồi hộp, bỗng “bắt phải vàng” ở đời thứ 18, mục 238, ghi rõ rành: “Lê Thị Ninh, tức Lê Đỗ Thị Ninh (1932-1948, giỗ ngày 29-5), cha: Lê Đỗ Kỳ, mẹ: Đái Thị Ngọc Chất, chồng: Nguyễn Hữu Loan (nhà thơ, 1916-2010), mộ ở làng Định Hòa”.

Thông tin trong gia phả dù vài độ lệch về ngày tháng nhưng khẳng định rõ phần mộ kia chính xác là “người vợ chờ bé bỏng chiều quê” của thi sĩ tài hoa Hữu Loan.

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 2: Chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 3.

“Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương” vẫn đang được gia đình lưu giữ – Ảnh: NGUYỄN HỮU ĐÁN

Ám ảnh người chị xoáy theo dòng nước

Nhờ ông Tùng, chúng tôi liên lạc với ông Lê Đỗ Bình – em trai “nàng thơ” – và chốt cuộc hẹn tại Hà Nội. Ngồi trên phiến đá xanh trước đền Ngọc Sơn bên hồ Gươm, ông kể nhiều về một thời loạn lạc tứ tán.

Từ đầu năm 1947, tiêu thổ kháng chiến, ngôi nhà lớn ở Thanh Hóa bị giật sập, cả gia đình sơ tán lên ấp Thị Long sinh sống, nơi người bố có trang trại rộng chừng 5-7 mẫu.

Đến đoạn giọng ông chùng nghẹn xuống, nhắc hình ảnh người chị xoáy trôi theo dòng nước mấy chục năm nay vẫn mãi trong tâm trí mình.

“Sông Chuồng hôm ấy trong mùa nước dữ, chảy xiết, dâng cao. Mẹ tôi cùng chị Ninh đưa quần áo ra bến giặt, tôi và hai đứa em nữa cũng theo sau. Chị Ninh không may bị trượt chân, tôi nhìn thấy chị bị dòng nước xoáy cuốn vào và đưa đi. 

Mẹ tôi la hét gọi người đến cứu nhưng vì dân ở cách xa, không ai nghe thấy. Mãi lúc sau, một thanh niên xuống vớt chị lên, cách chỗ trượt chân khoảng chừng trăm mét. Mẹ tôi bất thần không biết gì nữa” – ông Bình kể.

Bà Đái Thị Ngọc Chất tang trùng tang, đau đớn tột cùng bởi người mẹ ruột sống cùng mình cũng qua đời trước đó không lâu. Bà cho an táng con gái cạnh người mẹ.

Mãi đến năm 1967, bà sai ông Bình về Thị Long tìm mộ mẹ và con gái đưa về cải táng đầu làng Định Hòa. Sau này khi Trường CĐ nghề Công nghiệp Thanh Hóa xây dựng, phần mộ bà Ninh tiếp tục được dời đến nghĩa trang gia đình.

Trong câu chuyện dài, ông nhớ mãi hình ảnh người chị gái có “khuôn mặt khá bầu, người hơi đậm, thấp và nhỏ nhắn” và ngậm ngùi vì di ảnh duy nhất bị thất lạc trong chiến tranh.

Sau đợt cải cách ruộng đất 1954, ông Bình tìm về Vân Hoàn ở cùng anh rể hơn 1 tháng mới ra Hà Nội.

Ông nhớ mãi Hữu Loan hồi đó “suốt ngày đọc sách, rồi đi ra đi vào, viết lách làm thơ. Thỉnh thoảng anh đưa tôi đi về mấy xóm chài xem họ xiếc tép, làm cá. Cái thời cơm gạo khó khăn, hai anh em ăn toàn khoai lang”.

Sau đó không lâu, khi Hữu Loan đang làm báo Văn Nghệ, ông Bình cũng tìm đến nhà anh rể gần Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở lại 2 tuần để chờ một người anh từ chiến khu trở về.

Năm 1985, ông Bình lại về thăm anh rể ở Vân Hoàn, giai đoạn bài thơ Mầu tím hoa sim “đã công khai, nổi tiếng như cồn”. Ông kể: “Anh Loan bảo tôi: “Người ta sẽ đến đây tìm mộ nàng thơ Mầu tím hoa sim. Tôi muốn đưa mộ bà Ninh về Vân Hoàn này”.

Tôi trả lời anh rằng chị gái đã bị di dời nhiều lần, nay đã mồ yên mả đẹp. Vả lại anh bây giờ đã yên bề gia thất, mười người con sum vầy, có người chăm sóc. Đưa chị về đây cũng cô quạnh lắm, chẳng nên chút nào”.

Đi tìm màu tím hoa sim - Kỳ 2: Chị xoáy theo dòng nước - Ảnh 4.

Mộ phần bà Lê Đỗ Thị Ninh ở làng Định Hòa, Đông Cương, Thanh Hóa – Ảnh: THÁI LỘC

Gia đình “nàng” không dám nghe bài thơ

Ông Bình kể khi còn sống, mẹ không bao giờ cho nghe bài thơ Mầu tím hoa sim. Hễ ai đọc lên là bà khóc. Mãi sau khi mẹ qua đời (1987), anh em trong gia đình mới đọc và nghe các bài hát phổ thơ, vậy mà không lần nào không rơi nước mắt.

“Bây giờ chúng tôi già rồi, “trơ” ra rồi, vậy mà đọc còn thấy đau xót lắm, bởi vì anh Hữu Loan viết tình cảnh rất thật. Ba người anh đi bộ đội, người em chưa biết nói đều có.

Còn đồi sim, trong trí nhớ tôi hồi ấy nơi trang trại ở vùng bán sơn địa Thị Long, màu tim tím cứ trải dài đến tận núi. Rồi những hình ảnh mẹ tôi “ngồi bên mộ con đầy bóng tối”, “bình hoa ngày cưới thành bình hương”… tất cả đều thật hết” – dừng kể, ông khẽ đọc những câu thơ trong nỗi buồn miên man.

Câu chuyện gia đình Hữu Loan lẫn gia đình “nàng thơ” Mầu tím hoa sim cho biết rằng Hữu Loan luôn thương, kính và biết ơn người mẹ vợ Đái Thị Ngọc Chất.

Tuy nhiên, theo ông Bình, có lẽ vì lý do hai bên có những điều khác nhau nên ít liên lạc. Đến khi người mẹ mất ở Hà Nội, gia đình ông cũng không báo.

Khi biết tin, Hữu Loan đã làm đôi câu đối vừa thể hiện dâng mẹ, vừa ẩn ý trách cứ: “Rể khôn đền, gái ngắn phận sao đền, ơn cứu, ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách/ Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc nguồn, khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương”.

Mà không buồn sao được, những đoạn trong Mầu tím hoa sim viết thật đến mức… rờn rợn về bối cảnh, về người mẹ và về ba người anh “biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng”.

Đó là anh đầu Lê Đỗ Khôi (liệt sĩ trong trận Điện Biên Phủ), anh kế Lê Đỗ Nguyên (tức trung tướng Phạm Hồng Cư, nay 94 tuổi, đang ở Hà Nội) và Lê Đỗ An (nguyên phó Ban Dân vận Trung ương Đảng).

Về “những em nàng” là Lê Đỗ Khang, Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ Thái và “em chưa biết nói” là Lê Thị Như Ý (lúc ấy chưa đầy 2 tuổi, đang là giáo viên về hưu ở Hà Nội)…

Hữu Loan từng làm “quan to” ở Thanh Hóa và “công việc sang trọng” ở báo Văn Nghệ, hội viên Hội Nhà văn VN, nhưng cả hai lần ông bỏ ngang về quê bởi cá tính bộc trực, quyết liệt của mình.

Kỳ tới: Khí phách sau những vần thơ tình mê đắmĐi tìm màu tím hoa sim – Kỳ 1: Đứa bé đẻ rơi và bài thơ tình thế kỷ

TTO – 18-3 là ngày giỗ 10 năm thi sĩ Hữu Loan (1916-2010) giã từ cuộc thế. Phóng viên Tuổi Trẻ trở lại những đồi sim ấy để tìm hồn thơ của ông và tình yêu bất tử với “nàng vá tấm áo cho chồng ngày xưa”…THÁI LỘC – SƠN LÂM


Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.