Đọc chuyện “Mình ơi ” bắt chước Nguyễn Vỹ ngày xưa của Kha Tiệm Ly :Tính cách người Miền Tây

MÌNH ƠI 19

TÍNH CÁCH NGƯỜI MIỀN TÂY

* Trước khi vào chuyện

a. “Mình ơi” là một mục trong tạp chí Phổ Thông của Miền Nam trước năm 1975 do nhà văn Nguyễn Vỹ phụ trách. Câu chuyện “hỏi đáp” xoay quanh hai vợ chồng Thầy Tú, Cô Tú. Tôi không biết là “ăn cắp” cái mục “Mình Ơi” có vi phạm bản quyền gì không; nhưng từ bài đầu (MÌNH ƠI 1), tôi cũng đã có vài lơi xin lỗi về vụ mượn cái mục tựa “Mình Ơi” của nhà văn quá cố mà tôi rất ngưỡng mộ nầy.

.

b. Với 19 bài viết (và còn tiếp nữa) , thường là loại sưu khảo; chúng tôi có mạo muội góp quan điểm riêng của mình vao bài viết khi thấy quan điểm những người đi trước không phù hợp (với chúng tôi). Tất nhiên với sự hiểu biết nông cạn, quan điểm chúng tôi chưa chắc đã đúng. Kính mong quý vị chỉ bảo thêm.

Kha Tiệm Ly

*****

– Mình ơi! Cho em hỏi chút nè!

– Tiểu thư có điều chi dạy bảo!

– Ngoan! Hihi… Mình ơi! Hồi đi học, thầy dạy, thời Minh Mạng, Nam Kỳ có 6 tỉnh. Miền Tây gồm 3 tỉnh: Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên; miền Đông gồm 3 tỉnh: Gia Định, Định Tường và Biên Hòa; gọi là “Nam Kỳ Lục Tỉnh”. Sao bi giờ em thấy khác hồi xưa vậy mình?

– Theo sự biến chuyển của lịch sử, bất kỳ một quốc gia nào, khi thay đổi một chánh quyền, một chế độ, thì ít nhiều từ nền cai trị, đến văn hóa, địa danh, tên đường, sự phân chia khu vực lãnh thổ đều được thay đổi theo cho phù hợp với nền hành chính mới, nền cai trị mới; thậm chí tên nước cũng còn thay đổi nữa kìa (từ thời lập quốc đến nay, tên nước đã nhiều lần thay đổi). Đất Nam Kỳ cũng không tránh khỏi “tai kiếp” đó. Có chi là lạ? Hỏi cái gì cho trí tuệ chút đi tiểu thư!

– Thấy ghét! Không biết mới hỏi; hỏi thì bị chê là thiếu trí tuệ! Không thèm hỏi nữa!

Im lặng một lát thì phu nhân vào đặt nhẹ ly sữa trước mặt thám hoa; cười toe toét:

– Hi hi! “Thủ tục đầu tiên” cho hợp với thời đại nè!

Thám hoa nhìn phu nhân, rồi bẹo má:

– Hối lộ cho mệnh quan triều đình là trọng tội, biết chưa?

– Tội gì thảo dân cũng nhận lãnh. Bi giờ ngài nói cho thảo dân biết phong tục tập quán, cá tánh, sinh hoạt của người miền Tây đi!

– Trời! Bao nhiêu đó nói một năm chưa hết!

Phu nhân xụ mặt:

– Cái gì dữ vậy? Hưm… m… . Không muốn trả lời rồi bày chuyện. Ghét!

– Anh nói thật đó chớ không bày chuyện đâu. Thôi, bi giờ mình muốn biết khía cạnh nào, mình hỏi, anh trả lời cho gọn! Miền Tây có thành ngữ “Rành sáu câu”; Vậy cho phép hỏi 6 câu thôi nhe! Bản phủ còn làm việc!

– Hào! Hào! Vậy mới phải là mình yêu của em chớ? Câu một nè: Tại sao người miền Tây hiếu khách, chân tình, trọng nghĩa khinh tài, phóng khoáng “xả láng sáng về sớm?”

– Hi! Khôn ghê, hỏi một câu thành bốn câu luôn! E hèm! Như mình biết, khi chưa được đồng bào miền Bắc và đặc biệt là đồng bào Ngũ Quảng vào khai phá, thì miền Tây Nam Bộ là vùng đất hoang vu. Rừng ngập mặn vắng dấu chân người, tha hồ cho tràm, đước, bần, giá, mấm, dừa nước chen chúc, có nơi che cả ánh mặt trời; dưới nước thì đầy nghẹt cá sấu, đỉa vắt; trên bờ thì hùm beo muỗi mòng rắn rít; phong thổ thì “rừng thiêng nước độc”. Nói chung là mọi nguy hiểm luôn rình rập sinh mạng họ từng giờ. “Tới đây xứ sở lạ lùng. Chim kêu cũng sợ, cá vùng cũng ghê!” / “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn. Xuống sông sợ đỉa, lên rừng sợ ma” đã nói lên tâm trạng sợ hãi của những người khai phá.

– Em thường nghe “Ngũ Quảng”, nhưng kẻ nói vầy, người nói khác. Vậy thực ra Ngũ Quảng là 5 Quảng nào vậy mình?

– Sao hỏi lạc đề vậy? Ngũ Quảng là Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Năm 1801 (1802?) vua Gia Long lấy ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang thuộc phủ Triệu Phong đặt làm DINH Quảng Đức, đến năm 1821(1822?) Minh Mạng đổi Dinh Quảng Đức thành PHỦ Thừa Thiên. Mình thấy không? Minh Mạng là con Gia Long, cùng một thể chế mà địa danh còn thay đổi kia; giờ mình hết thắc mắc tại sao địa danh tại Nam Kỳ thay đổi rồi chớ? Từ khi mang địa danh Thừa Thiên, thì vùng này không còn được kể trong “Ngũ Quảng” nữa; nhưng từ “Ngũ Quảng” đến nay vẫn còn người nhắc tới trong nghiên cứu văn học! Nói tới đâu rồi?

– Tới chỗ “sợ ma”!

– Đất mênh mông mà hoang vu, người lại thưa thớt. Hiểm nguy đe dọa bất kì như nói trên, nên lưu dân họ thấy cần phải gắn bó với nhau, cần phải sống nương tựa vào nhau. Ở một mình buồn, tối lại sợ cọp rình nhà, nếu có ai ghé thăm, họ vui và thấy cần thiết. Một thí dụ dễ hiểu: khi đi qua một nghĩa trang âm u, người ta cảm thấy sợ, và họ ước ao nếu có một người bạn đi cùng! Ban đầu người miền Tây họ hiếu khách, cần khách, chân tình với khách vì lẽ đó; sau nầy thành thói quen!
Họ thấy đoàn kết, giúp đỡ nhau là điều cần thiết, lâu dần, bản tánh hào hiệp phát sinh: “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”; “Giữa đường gặp chuyện bất bình chẳng tha”


.
– Thế sao tánh tình họ lại hào phóng, không câu nệ những lễ nghi tiểu tiết?

– Đầu tiên có thể nói là do địa dư: Sông ngòi bao la, kinh rạch chằng chịt, đồng lúa mênh mông mút mắt tầm nhìn, lại mưa thuận gió hòa; lúa oằn bông, trái trĩu cành; những điều nầy đã làm cho cõi lòng người ta thư thái hơn, tâm hồn rộng mở hơn; khác với miền Trung, quây bên nây núi, quây bên kia núi, tầm mắt bao giờ cũng bị cây rừng che chắn; đất thì cày lên sỏi đá; mưa nắng thất thường, gió bão liên miên, làm cái đói luôn đe dọa. Có người nhận xét, chính điều nầy đã làm cho gương mặt đồng bào miền Trung nhăn nhó, khắc khổ; mà như vậy làm sao phóng khoáng cho được? “Địa dư ảnh hưởng đến con người (cả thể xác lẫn tâm hồn)”; lời nói nầy không phải là không căn cứ!

Muốn “phóng khoáng” thì ngoài bản tính thì cũng phải dư ăn dư để một chút! Một người Pháp nhận xét “đất Nam Kỳ chỉ cần cắm cây dù xuống cũng có trái ăn”; và “chỉ cần lấy… bàn chân tát một vũng nước thì mặc tình bắt cá!”. Dù phóng đại, nhưng nó diễn tả được sự no ấm của đất Phương Nam.
“Bắt con cá lóc nướng trui,
Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa”.

Người miền ngoài ngạc nhiên khi thấy người Miền Tây họ tiếp đãi chu đáo với người lạ mới gặp lần đầu bị lỡ đường lỡ chợ: đãi ăn nhậu, cơm nước, ngủ nghỉ; khi khách về còn nhét tay “tiền xe” và một chút quà “lấy thảo” (thường là khô, mắm).

Học giả Nguyễn Hiến Lê nói: “Tính cách nổi bật của người Nam Bộ chính là chất hào sảng”. Không sai!

– Tại sao họ quý khách và trọng tình chòm xóm như vậy?

– Mình nhớ rằng những lưu dân đầu tiên vào khai phá là những người tù bị đày vào đây, sau đó là những người lạc chợ trôi sông, ở quê nhà đói quá, giờ rủ nhau đi, may ra được khấm khá hơn; đám người phạm pháp, tù vượt ngục, kẻ trốn “lệnh truy nã”, kẻ sĩ thất chí, trai tứ chiếng gái giang hồ, những kẻ thích phiêu lưu,… và cũng không ít thành phần khá giả muốn lập nghiệp trên vùng đất mới.

Họ đi, ngày về không hẹn. Nhìn bốn bên chẳng thấy người thân; nếu có hoạn nạn, yếu đau, họ phải nhờ ai ngoài những người cùng cảnh ngộ? Câu “Bán bà con xa, mua láng giềng gần” (hay “bà con xa không bằng láng giềng gần”). đã nói lên suy nghĩ của họ. Họ quý chòm xóm là vậy! Một đứa trẻ bị tía nó đánh đòn, cầu cứu “Mẹ ơi!” thì không xi nhê gì, nhưng nếu nó réo người hàng xóm: “Cứu con chú Tám… ơi!”, thì dù chú Tám nầy đang và cơm cũng vội chạy qua: “Thôi cho em xin anh Hai, cháu nó biết lỗi rồi, tha cho cháu lần nầy!” – “Chú làm vậy nó dễ ngươi!”.- “Em bảo lãnh mà!”. Thế là huề cả làng.

– Tại sao họ lại không chấp tiểu tiết, xí xóa những lỗi lầm không đáng?

– Thời đó ờ Miền Bắc, Trung có nhiều tục lệ phong kiến còn hơn cả Trung Quốc. Làng xã miền Bắc có thể coi là một quốc gia riêng với những điều lệ khác nhau, gọi là “Hương Ước”. Thực ra những điều khoản trong “Hương Ước” chủ yếu nhằm xây dựng đời sống vật chất tinh thần làng xã tốt đẹp hơn; nhưng bên cạnh đó lại có những tục lệ kỳ khôi, lảng xẹt, và nhất là… “vi phạm nhân quyền” làm cho người dân khó thở. Thí dụ, tắm trên bãi biển, xem hội hè đình đám, trai gái phải có khu vực riêng; con gái mà có chửa hoang sẽ bị cạo đầu bôi vôi hay thả bè trôi sông; hoặc bị “đấu tố”! Trong gia đình, một người vi phạm pháp luật thì cả nhà hay người gia trưởng phải chịu tội! Khi vào Nam, họ thoải mái về vật chất, âm ấp tình người; họ thoát được những luật lệ trời ơi đất hỡi của những ông Lý trưởng ho ra lửa, mửa ra khói, họ mừng thấy ông bà ông vải, lấy gì câu nệ?

Đất đai mầu mỡ, cái ăn thừa thãi, tình người chan hòa, đoàn kết giúp đỡ nhau là yếu tố chánh đã tôi luyện cho người Miền Tây trọng nghĩa khinh tài, khí phách hiên ngang, tấm lòng hào hiệp: “Dấn mình vô chốn chông gai, Kề lưng cõng bạn ra ngoài thoát thân./ Lao xao sóng bủa dưới lùm. Thò tay vớt bạn chết cùng cũng ưng”.

Cũng có thể nói vì được thoát khỏi những ràng buộc khắt khe về những lệ làng miền ngoài, cho nên người Miền Tây, có những ý tưởng “thoáng” hơn về mọi mặt: không hương ước, không lệ làng; nói như vậy không phải là những thành viên trong làng muốn làm gì thì làm, mà có những điều lệ bất thành văn hợp tình hợp lý từ bao đời bắt mọi người phải tuân theo một cách TỰ GIÁC.

Trong nhà có con gái không chồng mà chửa, thì bị mẹ cha “đuổi” về… chú bác cô dì một thời gian; sau khi nhét vào tay một mớ tiền khá khá, vài năm bồng còn trở về, thì xóm làng cũng “quên” đi, không ai nhắc tới. Cái “quên” của người Miền Tây dễ thương như vậy đó! Chuyện thả bè trôi sông , hay cạo đầu bôi vôi dẫn rêu khắp xóm là chưa bao giờ có!

– Cũng vì muốn bỏ hết hủ tục, và những gì dính dáng tới đàng ngoài, nên đứa con đầu lòng họ không thèm kêu “anh Cả”, mà kêu là “thằng Hai”, phải không?

– Sai rồi! Lòng người lưu dân đâu có đoạn tình đoạn nghĩa như vậy? Họ đi lâp nghiệp, chớ không phải là đi đoạn tuyệt với cội nguồn tiên tổ? Họ chỉ bớt hay bỏ hẳn những tục lệ không phù hợp với “quê hương mới” mà thôi. Ai có ý nghĩ nầy thật đáng trách! “Nước chảy ra thương cha nhớ mẹ. Nước chảy vào thương mẹ nhớ cha” mà!

Có người lại nói, khi những gia đình lưu dân vào Nam khai phá thì người con cả luôn ở nhà để chăm sóc cha mẹ và hương khói ông bà; chỉ có người con thứ Hai trở về sau mới đi mà thôi. Sau nầy sanh con đầu lòng, lưu dân gọi là “Hai”, để thầm bảo “ nó còn thằng anh cả ở ngoài kia”! Ý ngầm rằng đây và ngoài ấy cũng cùng một nhà! Cách giải thích nầy khá gượng ép, bởi có tính tự tôn của người miền ngoài, vả lại, có nhiều gia đình đem cả nhà đi thì giải thích sao đây?

Lại có ngưởi bảo, gọi “Hai” chẳng qua là kiêng kỵ tiếng “Cả” trong “Hương Cả”, là vị có chức sắc lớn nhứt trong ban hội tề; hoặc là “Ông Cả” là tôn danh của … “Ông Cọp” mà lưu dân dành cho! Lối giải thích nầy cũng không ổn, bởi “Ông Hương Cả”, người đứng đầu trong làng của Miền Tây là người thân thiện với dân, không gì ghê gớm lắm đâu; họ kính “Ông Hương Cả” là vì tuổi tác chớ không phải vì chức sắc! hơn nữa tục kỵ húy của người Miền Tây không bị đặt nặng. “Hương Cả” là Hương Cả; “Thằng Cả con tôi” là Thằng Cả con tôi, hai cái không giống nhau. “TÊN CỮ, CHỮ ĐỌC” mà! Còn “Ông Cả”… cọp, thì “tụi tui kính ông, tụi tui tôn ông là “Ông Cả”, xem như vị tiền bối trưởng thượng trong làng; nhưng nếu ông quen thói “bắt người ăn thịt đem về non cao” thì tụi tui không nhịn đâu nghe!”. Tính khí người Miền Tây là vậy mà!

– Vậy chớ sao gọi là “Hai”?

– Anh đã đem chuyện nầy hỏi vô số các bậc lão bối khắp vùng (từ Tiền Giang đến Cà Mau), thì đều được trả lời nội dung tương tự: “Có gì đâu, khi mới khai phá thì bao hiểm nguy đe dọa tính mạng: thú dữ, rắn độc, chướng khi sơn lam; nhất là trẻ sơ sinh, trẻ em rất dễ phát bịnh (và bị cọp tha, rắn cắn, té mương, té sông). Với điều kiện chữa trị chỉ trông cậy vào vài nắm lả rừng thì tỉ lệ tử vong phải rất cao, nên đứa con đầu lòng thường bị “bỏ”! Họ gọi con đầu lòng là “Thằng Hai”, ngầm ý “báo cáo” với ma rừng quỷ núi, hay các đấng thiêng liêng nào đó rằng “đây là con thứ hai của tụi tui, thằng Cả bị mấy ông “bắt” rồi, đừng “bắt” nữa!”. Đó là một lối trấn an của con người khi biết mình khó chống lại thiên nhiên!

Mới hay, suy luận thường không giống thực tế là vậy!

– Cớ sao người Miền Tây lại “dốt” hơn người miền ngoài? Nói theo văn chương là “vũng trũng văn hóa” đó. Xin lỗi nha!

– Bàn về vụ nầy thì cần phải đi sâu, nói lan man không đủ thuyết phục. Anh hỏi mình, từ hồi khai phá tức khoảng 300 năm nay thì miền Tây là rừng, chánh quyền chưa tổ chức qui củ; trường lớp đâu mà học? Kế đến là pháp đô hộ gần 100 năm, thì mỗi làng chỉ có được một trường Sơ Đẳng với hai lớp: lớp Năm và lớp Tư (lớp 1 và lớp hai bây giờ), cho đến năm 1960 cũng vậy; muốn học hết Tiểu Học thì phải lên quận; muốn học Trung Học thì Nam Kỳ Lục Tỉnh lúc bấy giờ chỉ có hai trường Trung Học mà thôi; một là Tống Phước Hiệp ở Vĩnh Long; hai là Nguyễn Đình Chiểu ở Mỹ Tho (Định Tường). Miền Tây là văn hóa sông nước, phương tiện di chuyển ở nông thôn chủ yếu là ghe xuồng CHÈO TAY (sau nầy mới gắn máy)! Vì chiến tranh khốc liệt kéo dài mà mãi đến năm 1970, có những nhà trong hóc bà tó, trẻ em còn chưa biết chiếc xe đạp là thế nào thì nói chi là trường học!

Đường bộ chưa có, chèo xuồng đi về cả vài chục cây số (có khi nước ngược) để học 5 năm tiểu học là một kỳ công! Những chỗ có đường bộ thì lầy lội khi trời mưa, phải dậy sớm cuốc bộ hơn 10 cây số mới đến trường, đối vơi tuổi thơ là trăm bề vất vả! Cho nên, lúc đó cha mẹ chỉ cho con học hết Sơ Đẳng là … “đụng la phông”! Hơn nữa, họ quan niệm đơn giản “học cho biết chữ, chớ không phải học để kiếm cơm áo gạo tiền”, bởi với phù sa mầu mỡ “cắm cây dù xuống cũng có trái ăn”, thì học làm chi cho mệt!

Ngày nay thì xã hội tiến bộ hơn, nhiều xã cũng có trường Trung Học, rất nhiều tỉnh có trường Đại Học, Cao Đẳng, người dân cũng đã ý thức đươc tầm quan trọng của tri thức trong mọi lãnh vực. Giờ mà nói “Miền Tây giàu lúa (tiền của) nhưng nghèo chữ” thì chỉ đúng một phần. Vấn đề cần quan tâm là người giỏi có được sử dụng hay không mà thôi!

– Người Miền Tây hồi xưa hào hiệp, hào sảng, ngang tàng, trọng nghĩa khinh tài, bi giờ còn không mình?

– Vào khoảng năm 1955 đến năm 1960 có thể nói là thời gian yên bình nhất ở Nam Kỳ Lục Tỉnh. Đêm ngủ có nhà không thèm đóng cửa. Tình người không khác nãy giờ kể là mấy: khách lỡ đường xin tá túc, chủ nhà sẵn sàng cho chỗ ăn chỗ ngủ chu đáo; nhưng khi chiến tranh dần dần ác liệt thì họ không dám chứa khách ban đêm vì sợ phiền phức!

Sau năm 1975, xã hội nhiều phức tạp, xuống cấp nghiêm trọng, khách xin ngủ ở hàng ba còn không dám cho, huống chi ở trong nhà? Tuy vậy, cái gì đã đi vào xương tủy thì thì dù có muốn cũng khó gột rửa! Tính cách nầy đến tận ngày nay còn thấy qua những bình nước miễn phí ven đường ở mọi nơi; những “quán cơm 2000” ở nhiều tỉnh; những chỗ làm nghề vá xe, bôm xe, nhưng lại miễn phí cho học sinh và người tật nguyền!

Không ít gia đình vì nhìn thấy một người bươi thùng rác nhà mình; họ bèn sắm một thùng (bao) riêng, bỏ những gì bán được “để dành” cho người ấy!

Có người giàu, muốn giúp người bạn nối khố của mình, bèn cho làm công việc hết sức nhẹ nhàng nhưng lương rất hậu; sau một tháng làm việc, người bạn nghèo chỉ nhận tiền lương bằng với người có lương thấp nhất (còn bao nhiêu trả lại), rồi từ giã vì ông ta không thể nhận thù lao quá cao với công việc quá nhẹ nhàng của mình!

Đi đòi nợ mà thấy cửa nhà con nợ te tua, con cái đói rách thì lại móc tiền túi “lì xì” cho mấy nhỏ!

Người ăn trộm bị phát hiện trên tầng lầu, luýnh quýnh định nhảy xuống thì mọi người… đem thang lại cho hắn xuống cho an toàn!

Những chuyện như vậy cứ tưởng trong phim, mà rất thật; và không phải với vài người cá biệt! Còn nhiều lắm.

Xã hội ngày nay xuống cấp trầm trọng: Mọi người không tin tưởng nhau, giúp đỡ nhau; mà nghi ngờ nhau, lường gạt nhau. Điều nầy thiết tưởng không cần kể ra vì ai cũng biết! Để khỏi lụy vào thân, để khỏi “ách giữa đàng mang vào cổ”, nên câu “kiến nghĩa bất vi… ” phần nào đã giảm sút trong cá tánh người Nam Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thôi mệt rồi, nói hoài không hết đâu!

Phu nhân xề lại, chìa gò má ra, cười chúm chím, dễ thương vô cùng:

– Cho mình mượn cái nầy coi bớt mệt không? Hử?

– Biết hết hè! (Chụt! Chut!). Phẻ liền! Cái nữa coi! (chụt) Hi hi! … Mình phải nhớ rằng: Dân Miền Tây hay Miền Đông Nam Bộ thì gốc gác cũng là người miền ngoài, tức là người Việt Nam, cùng giống giòng Hồng Lạc. Nói khác đi, là người Nam Bộ là một tế bào của thân thể Việt Nam, không thể tách rời. Do điều kiện địa lý, văn hóa từng miền mà tánh khí khác nhau. Đừng nên so bì sao tánh người Nam như vầy, tánh người Bắc thế kia, là sai, bởi miền nào cũng có mỗi ưu, khuyết nhất định.

Lời cuối anh muốn nói, chúng ta may mắn được sống trên một vùng đất phì nhiêu, mưa thuận gió hòa, cây lành trái ngọt ; thì chúng ta phải biết ơn; đầu tiên là công lao vô bờ, mưu trí vô song của các vì vua và các đại thần, cùng binh lính triều Nguyễn; sau đó là không quên công lao của những người khai sơn phá thạch, họ đã đổ mồ hôi, nước mắt; và dưới bờ ruộng nầy, trên mảnh vuờn kia, nơi nơi đều có nắm xương của người xưa để lại. Từng bờ cây, từng bụi cỏ, từng hột cát đều là công lao vô biên của tiền nhân; ta phải cương quyết xả thân gìn giữ. Mệt rồi. Bãi đường!

Phu nhân lại cười chúm chím:

– Bộ… bộ… muốn gì nữa sao mà mệt hoài vậy? Em đố cái nầy hay lắm; mình biết, em thưởng!

– Gì mà trọng đại vậy?

– Em đố mình. Tại sao cái áo bà ba luôn có năm nút, mà không là bốn hay sáu? (lấy tay vừa vẽ vòng tròn trước mặt thám hoa, vừa “thổi bùa”). Ếm xì phù! Bí! Bí!.. Hi hi…

Thám hoa cười hạnh phúc vì nét duyên dáng ngây thơ của phu nhân; nghĩ, nếu mình trả lời đúng theo bài bản dân gian (nhưng sai bét ) là vì người ta dựa theo “ngũ luân”, “ngũ thường”, “ngũ hành” thì sẽ làm vợ mất hứng tội nghiệp; bèn làm bộ suy nghĩ lung lắm, rồi nói:

– Thợ may đơm mấy nút là tùy theo ý người đạt may, chớ mắc mớ gì phải 5 nút?

Quả thật, phu nhân cười ngất, nụ cười sảng khoái của kẻ chiến thắng:

– Mình nói huề vốn không hà! Vậy mà bảo “phúc tàng kinh luân”! Nè nhe: 5 nút là tượng trưng cho “ngũ thường”; còn nữa, hồi sơ khai, áo bà ba có ba túi, tượng trưng cho “tam cang”. Sau nầy thấy 3 túi thiếu mỹ quan, người ta bỏ bớt túi trên đó!

Thám cười ngất, vội bồng vợ lên hun lia lịa:

– Giỏi quá, anh thưởng nè! (Chụt! Chụt!… Chụt!…)

Phu nhân vừa giẫy nẩy, vừa cười nắc nẻ như trẻ em:

– Nhột! Nhột! Chỗ đó đâu phải cái gò má!

Kha Tiệm Ly

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.