"Còm men"(comment) về "Tàu trong thơ Tố Hữu"-một ông tên Tuấn nào đó

Tố Hữu trước hết là nhà chính trị nên đọc thơ,hiểu thơ Tố Hữu cần hiểu về tính lịch sử khi bài thơ ra đời. Nay ca tụng nhưng khi tình hình chính trị thay đổi thì lại có bài thơ phê phán.Như bài Đườngvề là khi Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắ VN, Liên xô (thời Khơ Rút Sốp) chỉ cho Thông Tấn Xã ra tuyên bố trong khi Trung Quốc là cấp cao hơn (bộ ngoại giao )ra tuyên bố phản đối Mỹ.Đến năm 1971-72 TQ bắt tay với Mỹ hạn chế và thỏa thuận sau lưng hại VN nên Tố Hữu có bài thơ Tâm Sự :”thù bạn đòi nay có khác xưa ,Nghĩa tình.e sớm nắng chiều mưa “…
TUẤN (?)

Tâm sự

(Trả lời một bạn văn nước ngoài)

– Bạn hỏi vì sao đất nước này
Ngày đêm khói lửa vẫn hăng say
Tóc tang lòng vẫn không cay đắng
Gánh nặng đường xa chẳng chuyển lay?

Có lẽ nghìn năm đã dạn dày
Anh hùng xưa để giống hôm nay
Khổ đau nhiều mới yêu thương lắm
Quen vượt trùng dương lái vững tay.

– Thù bạn đời nay có khác xưa,
Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?
Chợ trời thật giả đâu chân lý?
Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu…

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu
Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù:
“Mỹ hại trăm nhà, lo diệt trước
Rắn, mình em chịu, có sao đâu!”

Chân lý, mặt trời soi sáng mãi
Lỗi lầm âu cũng bóng mây qua
Lương tâm đều vẫn trong như ngọc
Tình nghĩa anh em lại một nhà.
(2-1967)

Vụ án Nhân Văn Giai Phẩm

Tố Hữu

Phụ đính

TÀU TRONG THƠ TỐ HỬU

06/11/2015 · Kontumquetoi.com

TÀI LIỆU VĂN HỌC

TRUNG QUỐC TRONG THƠ TỐ HỮU

tố hửu

.Lê Mai.
pvd.net 1.7.2012


Ngày ấy, các nước  “XHCN anh em” đi vào thơ Tố Hữu khá là đậm nét và đầy thi vị. Trước tiên, có lẽ  chúng ta phải nói đến Ba Lan. Mấy câu thơ của Tố Hữu trong Em ơi…Ba Lan thật khó mà  hay hơn được, dù người ta có “chê” thơ ông ta đi chăng nữa, cũng phải công nhận,  nó quá hay:Em ơi, Ba Lan mùa  tuyết tanĐường bạch dương  sương trắng nắng trànAnh đi, nghe tiếng  người xưa vọngMột giọng thơ ngâm,  một giọng đànNếu tôi không nhầm,  bài thơ này Tố Hữu viết trong chuyến đi dự Đại hội đảng công nhân thống nhất Ba  Lan, ông ta là Phó trưởng đoàn, còn Trưởng đoàn là Võ Nguyên Giáp. Cả hai ông  lúc bấy giờ đều rất nổi tiếng. Tên tuổi tướng Giáp, sau trận Điện Biên, vang dội  trên toàn thế giới và lần ấy, ông được hoan hô nhiệt liệt tại Ba Lan. Nghe Tố  Hữu kể lại, trong chuyến đi ấy, hầu như việc gì ông Giáp cũng bàn bạc, trao đổi  với ông ta.Để tránh lạc đề,  chúng ta quay lại với Trung Quốc. Người láng giềng khổng lồ phương Bắc – tất  nhiên, được Tố Hữu ca ngợi hết lời. Đây, hai câu thơ cực kỳ quen thuộc về mối  quan hệ Việt – Trung:Bên ni biên giới là  mìnhBên kia biên giới  cũng tình quê hương…Thật là thắm thiết,  như anh em một nhà, bên ni hay bên kia thì cũng là quê hương mình cả! Vậy sao?  Chúng ta đừng quên hai câu thơ trước đó:Đồng Đăng đây, nọ  Bằng TườngSong song đôi mặt như  gương với hìnhNhưng tháng 2 năm  1979, Tố Hữu là một nhà lãnh đạo cao cấp, đã chứng kiến cuộc xâm lược của những  người anh em “bên kia biên giới”. Hai câu thơ ấy bỗng nhiên sụp đổ, cũng như mối  quan hệ Việt – Trung vậy. Ông ta nhắc đến Đồng Đăng, lập tức ký ức đưa tôi về  những trận đánh ác liệt ngày ấy còn lưu lại trong sử sách, dù bây giờ người ta  muốn xóa nó đi. Nhưng điều đó là không thể được, tuyệt đối không thể  được!

Đồng Đăng1

Đồng Đăng – thị trấn  có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung – Việt, là một trong những nơi  chiến sự diễn ra ác liệt nhất. Quân VN bảo vệ Đồng Đăng chỉ có khoảng 200 người,  trong khi đó quân TQ tấn công vào Đồng Đăng có tới 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung  đoàn xe tăng, 6 trung đoàn pháo binh. Lực lượng phòng thủ VN chiến đấu hết sức  ngoan cường dù không được chi viện. Họ hy sinh gần hết nhưng đã giữ vững trận  địa cho đến ngày 22.2. 1979, góp phần ngăn chặn bước tiến của quân TQ. Ngày cuối  cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối  phương đầu hàng, quân TQ chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa,  thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi giết hết tất cả. Quân TQ  tàn ác hơn cả thời Trung cổ, đó là lời lên án của cả thế giới văn  minh.Thập kỷ sáu mươi, có  lẽ nhà thơ không còn bất ngờ ở “lòng tốt” của người anh em nữa:Thù bạn ngày nay có  khác xưa,Nghĩa tình e sớm nắng  chiều mưa?Chợ trời thật giả đâu  chân lý,Hàng hoá lương tâm  cũng thiếu thừa?Tố Hữu đã nhận thấy  sự đối xử giữa người và người với nhau qua cái gọi là “cách mạng văn hóa”  TQ:Trung Hoa ơi Trung  Hoa!Người đi đâu? chiều  tàNghe Lỗ Tấn gào  thétĂn thịt người, còn  a?Cách mạng văn hoá TQ  mà Mao gọi là “Một trận gió  mưa kinh thế giới” – thật khủng khiếp. Họ đối xử như thế với người  dân nước họ, ngay trong hàng ngũ lãnh tụ của họ có thể hôm nay “lên voi” thế  này, ngày mai đã “xuống chó”. Thế thì, họ đối xử với VN ta ra sao, có lạ gì?  Nghe nói khi Lê Duẩn thăm TQ, có người khuyên nên đến chào Lâm Bưu, song ông từ  chối. Lê Duẩn nói, hôm nay ông ta (Lâm Bưu) đang lên, nhưng biết đâu ngày mai  lại thất sủng. Nếu tôi đến chào, sau này sẽ khó xử. Quả nhiên, sau đó, “người  bạn chiến đấu thân thiết” của Mao Chủ tịch bất ngờ lên máy bay chạy trốn bị rơi  để đến nỗi phải tan thây trên sa mạc Mông Cổ!Trở lại với Đường sang nước bạn của Tố  Hữu. Một bài thơ đầy sảng khoái, ca ngợi đất nước TQ và Mao Trạch Đông, ca ngợi  mối quan hệ anh em hai nước Trung – Việt. Như thường lệ, bao giờ lời thơ Tố Hữu  cũng bắt đầu nói về những ngày cơ cực, lầm than, đói khổ khi chưa có đảng, chưa  có cách mạng, chưa có lãnh tụ. Rồi bỗng nhiên ta vươn vai đứng dậy, cuộc đời từ  đây thay đổi khi đảng đưa ánh sáng về. Có lẽ lời thơ ấy khó có thể gây cho chúng  ta cảm xúc gì đặc biệt cả.Nhưng phải nói hình  ảnh một nước TQ mới đẹp lạ thường:Ôi, buổi bình minh  dậy dọc đườngMướt xanh bờ liễu,  vút hàng dươngTrắng phau nội cỏ cừu  phơi tuyếtNgào ngạt đồng xuân  mịn phấn hườngVui nhỉ tiếng cười  quanh giếng máyHoa đào đôi bím nở  trong sươngLàng hay phố đó,  tường vôi mớiBăng đã tan trên dòng  Trường Giang…Những câu thơ đầy màu  sắc, hình ảnh và âm thanh. Chúng ta hãy ngắm “Hoa đào đôi bím nở trong  sương” – một hình ảnh đẹp, rất TQ mà cũng có thể rất VN! Thế thì, ai  có thể xoá được hình ảnh ấy, quan hệ ấy, tình cảm ấy?

La gare de Dong Dang, dernière station de chemin de fer avant la frontière sino-annamite.

La gare de Dong Dang, dernière station de chemin de fer avant la frontière sino-annamite.

Phần  2:

Ngày 1.10.1949, trên  lễ đài quảng trường Thiên An Môn, Mao vung tay tuyên bố: “Nước Cộng hòa nhân dân  Trung Hoa từ đây được thành lập”. Người ta khấp khởi hy vọng một nước TQ mới ra  đời sẽ hứa hẹn đưa lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân TQ bao đời cực khổ.  “Băng đã tan trên dòng  Trường Giang…” – một trong những hình ảnh ẩn dụ mà Tố Hữu thường sử  dụng.

Nhà thơ vui sướng  thốt lên:
Mặt trời lên nắng  chói lưng đồi

Hết khổ rồi em nhỉ, 

 Hỉ Nhi ơi !Em mặc áo hoa, em đi  hài ấm

Em nói em cười, má em  đỏ thắm

Em đẹp em thơm như  quả táo đầu cành

Phơi phới đời em cao  vút như dương xanh

Trung Quốc đó. Sức  thanh xuân bừng dậy

Quả là Tố Hữu có tài  ca ngợi. Đọc những dòng thơ ấy, chúng ta không thể không cảm thấy một sức sống  mới, một cuộc đời mới, một ánh sáng mới chiếu rọi vào tâm hồn mỗi con người, cả  TQ lẫn VN.Nhưng liệu Hỉ Nhi đã  hết khổ chưa? Người dân TQ đã hết khổ chưa? Còn lâu, hãy đợi đấy, cho đến tận  bây giờ. Vào thời gian ấy, khi thăm TQ, không lẽ Tố Hữu không biết các phong  trào “Đại nhảy vọt” và “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, “công xã nhân dân”  do Mao phát động? Chúng ta không thấy hình ảnh của nó trong Đường sang nước bạn. Tất  nhiên, chúng ta không đòi hỏi, bất cứ một sự kiện nào cũng phải đi vào thi ca,  nhưng có lẽ sẽ có ích nếu điểm lại một vài sự kiện lịch sử ấy.Tố Hữu ca ngợi Mao,  chắc là dựa vào bài viết của Mao Một đốm lửa nhỏ có thể đốt cháy cánh  đồng:Một tia lửa  nhỏ
Trong xóm Tương  Đàm
Cháy lan  dần, đỏ khắp Hồ Nam

Sau ngày lập nước,  rất nhanh chóng, những “Hỉ Nhi” và người dân TQ bị cuốn vào dòng xoáy của các  phong trào nói trên. Toàn dân làm gang thép nhằm đuổi kịp và vượt Anh, Mỹ. Khẩu  hiệu, người muốn bao nhiêu, đất sẽ cho sản lượng bấy nhiêu. Cả nước ăn chung một  nồi cơm to bằng các nhà ăn tập thể. Rồi đến lúc tại các nhà ăn tập thể cháo  loãng cũng không có mà ăn nữa.Chu Đức phát biểu  trong một cuộc họp, “nhà ăn tập thể có tan rã hết cũng chẳng sao” làm Mao rất  tức giận, ông ta luôn ghim câu nói ấy trong bụng.Mao:– Tổng tư lệnh, tôi  tán thành cách nói của ông, nhưng lại có chỗ khác với ông: không cần thì không  tan rã, không thể tan rã nhiều, tôi thuộc phái trung gian.Ấy thế mà khi  Khơrútsốp thăm TQ lần thứ hai, sau Tố Hữu một thời gian ngắn, Mao và Lưu Thiếu  Kỳ đón Khơrútsốp, vừa đi vừa nói chuyện, vào phòng khách sân bay.Mao:– Hiện nay, tại TQ  quả thực đã xuất hiện đại nhảy vọt, tình hình nông thôn khá tốt.Lưu Thiếu Kỳ tiếp  lời:– Hiện nay, điều  chúng tôi lo không phải là vì lương thực không đủ ăn mà là lương thực đã nhiều,  chưa biết làm thế nào.Khơrútsốp mỉm cười  khó hiểu nói:– Dễ thôi. Lương thực  nhiều, các đồng chí chưa biết làm thế nào thì có thể cho chúng  tôi!?Trên thưc tế, mấy  chục triệu người dân TQ bị chết đói bởi sự lãnh đạo “sáng suốt” của ĐCS TQ và  “Người cầm lái vĩ đại”. Phải chăng, đó là “sức thanh xuân bừng dậy”  của TQ?Trở lại với hội nghị  Lư Sơn, Nguyên soái Bành Đức Hoài – người đã từng là Tổng tư lệnh Chí nguyện  quân TQ tại chiến trường Triều Tiên, trong khi khảo sát tình hình trong nước,  chứng kiến nhiều gia đình TQ năm người mặc chung một cái quần, rất đau lòng.  Trong khi đó, Mao say sưa vào các báo cáo láo, thổi phồng thành tích, lại còn  chìm đắm trong hoan lạc. Nhiều lần ông tìm gặp Mao để nói hết các vấn đề, song  không thể gặp được. Cuối cùng, ông quyết định viết thư cho Mao.Nhận được thư Bành  Đức Hoài, khối óc sáng suốt và nhạy bén của Mao bắt đầu hoạt động. Ông ta suy  xét giữa lịch sử và hiện thực, giữa hiện tượng và bản chất, giữa lý tưởng và ảo  mộng, giữa sự nghiệp và uy quyền. Ông ta vận dụng thành thạo chủ nghĩa Mác, các  quy luật lịch sử mà ông ta nhìn xuyên suốt được trong các bộ sách lịch sử TQ,  đưa đến một nhận định: đây là một cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt! Và kể từ đó,  Bành Đức Hoài phải rút khỏi hạt nhân lãnh đạo, biến mất trên vũ đài chính trị  TQ.Đó là “đại nhảy vọt”,  còn “đại cách mạng văn hóa” thì sao? Hơn mười năm sau, trong Qua biên giới, Tố Hữu đã  thấy rõ, cái gọi là “cách mạng văn hóa”:Máy bay qua biên  giớiGhé tạm xuống Nam  Ninh“Cách mạng văn hóa”  mớiNhí nhố hồng vệ  binhẢnh to và ảnh  nhỏNghìn triệu còn một  ÔngMấy chú giơ sách  đỏMuôn năm Mao Trạch  Đông !

cách mạng văn hoá1

Có vẻ như cách nhìn  của Tố Hữu về Mao đã có chỗ khác trước, không phải theo kiểu một tia lửa nhỏ lan  dần khắp TQ nữa.Cách mạng văn hóa do  Mao phát động và lãnh đạo. Luận điểm chủ yếu của ông ta là: một nhóm đông những  người đại diện cho giai cấp tư sản và những phần tử theo chủ nghĩa xét lại phản  cách mạng đã lọt vào đảng, chính phủ, quân đội. Phái chạy theo tư bản hiện đang  nắm quyền trong đảng. Những cách đấu tranh trong thời gian qua đều không thể  giải quyết vấn đề. Chỉ có thực hiện Đại cách mạng văn hóa, phát động quần chúng  một cách công khai, toàn diện thì mới có thể đoạt lại quyền lực. Đó chính là  luận điểm “tiếp tục làm cách mạng trong điều kiện chuyên chính vô sản” nổi tiếng  của Mao.

Lần này, nhà thơ đã  hiểu rõ nội tình TQ, đã chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện vừa lạ lùng, vừa  khó hiểu, vừa đau lòng:
Phố lặng không tiếng  cườiTường dài đen chữ  báoĐăm đăm những mặt  ngườiGiặc đâu mà nã pháo  ?

Phần  3:Nhìn tổng quát,  Qua biên giới là  một tiếng thở dài, một sự thất vọng não nề với cuộc “cách mạng văn hóa” của  “người anh em” TQ, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm tâm hồn nhà thơ. Một cách gián  tiếp, Tố Hữu cho chúng ta thấy, ông hiểu mặt trái của “cách mạng văn hóa”, không  tán thành cách làm ấy của TQ; đồng thời, qua bài thơ, Tố Hữu cũng nêu lên nhiều  sự kiện trái tai gai mắt, không thể chấp nhận được ở TQ.TQ luôn luôn gây bất  ngờ cho VN và thế giới, không phải chỉ thời Tố Hữu. Mới đây nhất, không cần che  đậy những mỹ từ ca ngợi quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, TQ trả đũa việc VN thông  qua Luật Biển bằng cách triệu đại sứ VN tại TQ lên phản đối, tuyên bố thông qua  việc lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” ở cấp vùng nhằm quản lý các quần đảo trên  Biển Đông, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa của VN. Sự kiện nghiêm trọng nhất,  Tổng công ty dầu khí hải dương TQ – tất nhiên, với sự cho phép của Chính phủ TQ,  đã bất ngờ và ngang ngược thông báo chào thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm hoàn  toàn trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt  Nam, là vùng hoàn toàn không có tranh chấp. Chưa hết, Cảnh Nhạn Sinh tuyên bố TQ  “sẵn sàng chiến đấu” trên các vùng nước mà họ cho là thuộc chủ quyền của TQ trên  Biển Đông. Và, TQ có thể sẽ thành lập Bộ tư lệnh quân sự của cái gọi là “thành  phố Tam Sa”. Chắc chắn, sự đe dọa của TQ không dừng lại ở đó.Vậy thì cái nhìn  “biện chứng” đối với TQ là cái nhìn như thế nào? Hãy nói với họ, các anh giống  như những kẻ ăn cướp – đó mới thật sự là cái nhìn biện chứng.Cho nên, ngay từ  những năm sáu mươi, phải công nhận Tố Hữu đã có một cái nhìn khá sáng suốt khi  theo dõi và chứng kiến cuộc “cách mạng văn hóa” TQ. Làm sao lại có thể mơ hồ về  TQ được?Không chỉ là Tố Hữu,  ngay cả Chu Ân Lai cũng không dự đoán nổi điều gì sẽ xẩy ra tiếp theo trong  “cách mạng văn hóa”. Ông ta nói, “cục diện lớn như thế, quả trong cơn mộng mị  cũng không thể ngờ tới”.Đối với Hồng vệ binh,  Tố Hữu dùng từ “nhí nhố” để chỉ họ: “Nhí nhố Hồng vệ binh”, có  ý châm biếm, tỏ ra không ưa họ, coi thường họ. Nhưng, Hồng vệ binh TQ ghê gớm  hơn nhiều, đâu phải “nhí nhố” không thôi.Chỉ trong một tháng,  Hồng vệ binh Bắc Kinh đã nổi lên phong trào phá bỏ “tứ cựu”, đánh chết trên một  ngàn người, trên mười ngàn gia đình bị lục soát, càn quét, đuổi khỏi nội thành.  Lại cho rằng, các cửa hàng cắt tóc đều là giai cấp tư sản, không cần nữa. Tài  sản của giai cấp tư sản không được sử dụng, phải đốt hết. Các nhà lão thành cách  mạng, các giáo sư Đại học… bị đấu đến chết. Không khí khủng bố bao trùm cả nước  TQ.“Cách mạng văn hóa  Trung ương” gọi Hồng vệ binh là “Đội tiên phong cách mạng của giai cấp vô sản”,  chiến quả là đã đánh cho thế giới cũ tan nát, tơi bời, đánh cho giai cấp tư sản  uy phong xuống bùn đen, diệt trừ mê tín, tiêu diệt chủ nghĩa tư  bản…Tố Hữu kết thúc bài  thơ Qua biên  giới với câu hỏi lớn:

Trung Hoa ơi Trung  Hoa!
Người đi đâu? chiều  tà
Nghe Lỗ Tấn gào  thét
Ăn thịt người, còn  a?

Ả Q Lỗ Tấn

Ở đây, chúng ta chú ý  chi tiết “ăn thịt người” mà Tố Hữu nhắc đến trong tiểu thuyết Nhật ký người điên  của Lỗ Tấn, trùng hợp với suy nghĩ của Lê Duẩn trong ghi chép của ông. Lê Duẩn  viết: “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải  giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không  thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra  khỏi cuộc sống người ăn thịt  người”.Bài học lớn đối với  chúng ta, kết bạn với một nước mà “nước đó chưa ra khỏi  cuộc sống người ăn thịt  người”, cần phải có đối sách ra sao?Trong Qua biên giới, Tố Hữu nói  về người TQ, còn Qua Liễu  Châu, Tố Hữu lại nhớ về một người VN:

Tàu qua ga Liễu  Châu
Bác xưa tù nơi đâu  ?
Đêm rét, tê xiềng  xích
Thương Nước, dài tóc  râu.
Tháng 8.1942, Hồ Chí  Minh qua TQ, bị bọn Quốc dân đảng bắt giam, bị trói và bị giải đi suốt 18 ngày,  từ trại giam này đến trại giam khác, sau đó về giam ở Liễu Châu. Chính thời gian  này, tập thơ Ngục trung nhật  ký nổi tiếng của Hồ Chí Minh ra đời.Qua Liễu  Châu, Tố Hữu cảm khái về  lãnh tụ của mình, song ông lại không nhắc đến một sự kiện đặc biệt tại Liễu Châu  – tháng 7.1954, Hội nghị Liễu Châu giữa VN và TQ nhằm khai thông bế tắc cho Hội  nghị Genève về Đông Dương. Trưởng đoàn đàm phán của VN ở Genève là Phạm Văn  Đồng. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Phạm Văn Đồng vạch ra ý tưởng táo bạo, giới  tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam Bắc VN là vĩ tuyến 13. Các nước phương  Tây phản đối dữ dội phương án này, còn TQ cảm thấy vô cùng tế nhị nhưng không  tiện nói.Từ Genève, Chu Ân Lai  gửi điện cho Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Trung ương, nhân dịp Ngoại trưởng  các nước rời Hội nghị Genève, “tôi cần phải, sau khi thăm Ấn Độ và trên đường về  nước, giữa đường cùng đoàn đi Nam Ninh, Quảng Tây, mời mấy vị phụ trách Trung  ương ĐLĐ VN để tôi báo cáo tình hình với họ, thuyết minh trọng điểm phương châm  chia vùng”. Nhận thấy Nam Ninh tương đối gần VN, khó bảo mật, Chu lại chỉ thị  dời hội nghị về Liễu Châu.Tham dự Hội nghị Liễu  Châu, phía VN có Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Hoan. Trên đường đi Liễu  Châu, các địa phương TQ chiêu đãi, ăn thịt gà rất nhiều. Người ta thấy Võ Nguyên  Giáp thường gắp thức ăn cho Hồ Chí Minh, đủ thấy quan hệ thân thiết của họ. Còn  phía TQ có Chu Ân Lai, các trợ thủ là Kiều Quán Hoa, Chương Văn Tấn, phiên dịch  Trương Dực, thư ký đối ngoại Mã Liệt, các cố vấn trở về từ VN. Có thể thấy, nhân  tài TQ tại Hội nghị Liễu Châu rất đông.Phiên họp đầu tiên,  Hồ Chí Minh mời Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình quân sự trên bản đồ. Lúc này,  cả miền Bắc và miền Trung VN hầu như một màu đỏ, màu giải phóng. Quân Pháp chỉ  còn giữ được hai khu vực: trên miền Bắc, Hà Nội và một số tỉnh chung quanh, vùng  ven biển từ Hải Phòng đến Móng Cái; ở miền Trung, một số thành phố thị xã ven  biển nam Quảng Bình, qua Huế, Đà Nẵng, Hội An.Chu Ân Lai nói,  “chúng ta nên tranh thủ hoà bình, mở rộng lực lượng hoà bình. Phải phát triển  hoà bình khiến Mỹ không thể tìm được cớ gây chiến. Phải đề phòng Mỹ can thiệp vũ  trang vào ba nước Đông Dương. Ông ta chỉ ra, áp dụng mô hình Triều Tiên vào vấn  đề VN, vạch ra một giới tuyến tạm thời, xem ra phải cắt miền Nam, miền Nam tạm  thời không có lợi. Nhưng có thể chờ đợi bầu cử, và có thể giành thắng lợi trong  bầu cử. Vấn đề là phải nhìn về lâu dài, nếu Mỹ tiến hành can thiệp thì có khả  năng mọi cái đều mất hết”.Ông ta nói, Pháp  khăng khăng đòi lấy vĩ tuyến 18 làm ranh giới tạm thời, nhưng trước sự đấu tranh  kiên quyết của ta, Anh, Pháp, Mỹ đã đồng ý rút xuống vĩ tuyến 17.Cả Hồ Chí Minh và Võ  Nguyên Giáp đều ngỡ ngàng. Hai người phải chăm chú nhìn trên bản đồ mới thấy  dòng sông Bến Hải nhỏ ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị.Hồ Chí Minh nói, so  sánh lực lượng hiện nay cho thấy, VN đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 là  không thể chấp nhận, chí ít phải vĩ tuyến 16.Trước khi đoàn VN về  nước, Chu nói với Hồ Chí Minh, “cố gắng hết sức thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ  tịch. Vì ở xa không có điều kiện trao đổi, nếu việc đấu tranh xác định ranh giới  tạm thời gặp khó khăn, vạn bất dắc dĩ phải chọn vĩ tuyến 17, mong Hồ Chủ tịch  chú ý vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tranh thù cho được hòa bình và những  điều kiện để hòa bình thống nhất VN”.Lịch sử cho thấy,  việc chia cắt VN đã diễn ra đúng như dự tính của Chu Ân Lai.Rồi người Mỹ đổ quân  vào VN. Thơ Tố Hữu bừng bừng cổ vũ mọi người VN Ra trận. Trong khi LX –  thành trì của cách mạng thế giới còn im lặng, chưa tỏ thái độ ủng hộ VN thì TQ  khác hẳn:

Sáng rồi ! Rộn rã  trong tim
Đường về phơi phới,  cánh chim tung hoành
Cờ bay Vạn lý trường  thành
Bắc Kinh tay chị tay  anh triệu vòng
Bạn mừng ta những  chiến công
Vui như tiền tuyến  giữa lòng hậu phương
(Nhật ký đường  về)
Mao tuyên bố ủng hộ  VN: “Bảy trăm triệu nhân dân TQ là hậu thuẫn vững chắc của nhân dân VN, đất nước  TQ bao la rộng lớn là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân VN”.Nhưng sự việc không  đơn giản như vậy. TQ làm gì đều có tính toán sâu xa. Hãy nghe Tố Hữu Tâm  sự:

mychau

Tôi kể ngày xưa  chuyện Mỵ Châu
Trái tim lầm chỗ để  trên đầu
Nỏ thần vô ý trao tay  giặc
Nên nỗi cơ đồ đắm  biển sâu
Chuyện cô du kích xóm  Lai Vu
Rắn quấn bên chân vẫn  diệt thù
Mỹ hại trăm nhà lo  diệt trước
Rắn mình em chịu có  sao đâu
Rồi Tố Hữu tiễn người  bạn chí thân Nguyễn Chí Thanh lên đường vào Nam:
Dẫu một cây chông trừ  giặc Mỹ
Hơn nghìn trang giấy  luận văn chương
(Tiễn  đưa)
Hoài Thanh không  hiểu, hỏi Tố Hữu: “Sao anh lại “đả” văn chương như vậy?”. Số là, lúc bấy giờ, TQ  hay dùng văn chương lý luận, luận đi luận lại rằng họ mới cách mạng, mới  Mác-Lênin, còn VN không cách mạng bằng. Tố Hữu đáp lại, đánh Mỹ mới là cách  mạng, mới là Mác-Lênin, chớ không phải lý luận suông bằng giấy, bằng mồm như  TQ.Nhưng hiên nay, trong  bối cảnh TQ đang trở thành một siêu cường, một “đế quốc” mới, chắc rằng họ sẽ  không “lý luận suông bằng mồm” nữa. Chính vì lẽ đó, tìm hiểu một chút về TQ  trong thơ Tố Hữu cũng đưa đến cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Đó là đôi điều tôi  muốn nói thêm khi kết thúc bài viết này.

( Nguồn: Blog Lê  Mai  và Blog Lê Xuân Quang)

lê Xuân Quang

Đời đời nhớ Ông

Bữa trước mẹ cho con xem ảnh 
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng 
Áo Ông trắng giữa mây hồng 
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười 
Stalin! Stalin! 
Yêu biết mấy, nghe con tập nói 
Tiếng đầu lòng con gọi Stalin! 
Hôm qua loa gọi ngoài đồng 
Tiếng loa xé ruột xé lòng biết bao 
Làng trên xóm dưới xôn xao 
Làm sao, Ông đã… làm sao, mất rồi! 
Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi! 
Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? 
Thương cha, thương mẹ, thương chồng 
Thương mình thương một, thương Ông thương mười 
Yêu con yêu nước yêu nòi 
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu! 
Ngày xưa khô héo quạnh hiu 
Có người mới có ít nhiều vui tươi 
Ngày xưa đói rách tơi bời 
Có người mới có được nồi cơm no 
Ngày xưa cùm kẹp dày vò 
Có người mới có tự do tháng ngày 
Ngày mai dân có ruộng cày 
Ngày mai độc lập ơn này nhớ ai 
Ơn này nhớ để hai vai 
Một vai ơn Bác một vai ơn Người 
Con còn bé dại con ơi 
Mai sau con nhé trọn đời nhớ Ông! 
Thương Ông mẹ nguyện trong lòng 
Yêu làng, yêu nước, yêu chồng, yêu con 
Ông dù đã khuất không còn 
Chân Ông còn mãi dấu son trên đường 
Trên đường quê sáng tinh sương 
Hôm nay nghi ngút khói hương xóm làng 
Ngàn tay trắng những băng tang 
Nối liền khúc ruột nhớ thương đời đời.
(5-1953)

Stalin và con gái


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.