Chu Mộng Long lý giải việc kiến tạo ngôn ngữ và chữ viết(nhân chuyện Rốt/Rác của 12 "học giả Huế)

Chu Mộng Long

LÝ GIẢI VIỆC KIẾN TẠO NGÔN NGỮ VÀ CHỮ VIẾT

Một số bạn hỏi, 1) Vì sao chữ Nôm chết? 2) Vì sao người Hoa, người Nhật, người Hàn không dùng ký tự Latin, họ vẫn tiến bộ, văn minh?

Câu hỏi này cũng đang là đề tài nóng dễ gây tranh cãi triền miên. Nhóm Lê Cung, Nguyễn Đắc Xuân, dù có nhận thức tăm tối vấn đề chữ quốc ngữ, nhưng điều họ đưa ra cũng là một thách thức nghiêm túc cần giải đáp. Trước khi có bài trực tiếp về hai vấn đề trên, tôi xin trích dẫn một phần trong công trình Giải huyền thoại, Lý thuyết và ứng dụng của tôi để các bạn có nhu cầu tham khảo trước. Công trình học thuật, khá dài và không dễ hiểu, các bạn chịu khó đọc.

Chu Mộng Long
——————

Ngôn ngữ có thể xem là kiến tạo phức tạp nhất trong kiến tạo văn hóa của nhân loại. Nếu như kiến tạo nghệ thuật dừng lại ở quan hệ tương đương: các hình tượng trong sáng tạo với những khuynh hướng khác biệt vẫn luôn giữ quan hệ tương đương với hiện thực, thì ngôn ngữ lại có khuynh hướng dịch chuyển liên tục đến khác biệt, khác đến mức mất luôn dấu tích ban đầu. Có nghĩa là âm và chữ đang sử dụng trong hiện tại bị cắt đứt hẳn quan hệ với quá khứ sinh thành ra nó, tức cái sự thực mà nó đại diện thông qua quan hệ tương đương. Các nhà ngôn ngữ học cấu trúc gọi quan hệ giữa âm hoặc chữ với sự thực mà nó ám chỉ là quan hệ “võ đoán”, “không lý do”. Chính điều này làm cho ngôn ngữ trở thành một thứ huyền thoại mù tối hơn mọi huyền thoại.

J. Lacan có một gợi ý cực kỳ quan trọng: Ngôn ngữ là một chiều kích khác của Biểu trưng. Có nghĩa là sự phát triển của hình họa, trong chiều hướng biểu trưng hóa để đi đến trừu tượng hóa, biểu trưng tự nó trở thành ngôn ngữ, bắt đầu từ chữ viết chứ không phải âm thanh.

Trong kho tàng huyền thoại của các dân tộc, ngôn ngữ là vấn đề gần như bị giấu kín nhất. Chỉ biết rằng, khi dùng Thượng Đế như là Đấng Toàn năng, huyền thoại đẩy luôn việc kiến tạo ngôn ngữ vào đầu Thượng Đế. Thượng Đế tạo ra thế giới, vạn vật và con người, Ngài ban luôn cho con người ngôn ngữ. Thế là hết chuyện.

Với cách dựng chuyện mang tính mặc khải của huyền thoại thì gần như không có thần ngôn nào có thể giải thích được hiện tượng ngôn ngữ, rằng bằng cách nào Thượng Đế đã tạo ra ngôn ngữ với một cấu trúc và hệ thống ký hiệu kỳ lạ như loài người đang sử dụng. Ngôn ngữ ảo hơn mọi thứ ảo, rắc rối hơn mọi thứ rắc rối chứ không hề giống với việc đơn giản là Thượng Đế dùng đất nặn nên loài người giống như thân thể của Ngài.

Đó là lý do đề tài về nguồn gốc và bản chất của ngôn ngữ lại được mang ra thảo luận xuyên suốt nhiều thế kỷ. Một số vấn đề được các triết gia Hy Lạp cổ như Plato, Aristotle đưa ra nhưng lại nấp bóng siêu hình học và huyền thoại; các bản Phúc âm thời đế chế La Mã quy hết về Thượng Đế với niềm tin về khải huyền. Huyền thoại về ngôn ngữ chỉ tan rã từ sau tiến hóa luận của Darwin, nhưng lại khó có thể chứng minh rõ ràng, rằng ngôn ngữ sinh ra từ các loài linh trưởng theo các học thuyết di truyền hay học thuyết lao động và ý thức của chủ nghĩa Marx.

Năm 1866, chính Hiệp hội ngôn ngữ học Paris cấm mọi cuộc tranh luận về vấn đề lịch sử ngôn ngữ bởi sự vô bổ của những giả thiết vô bằng chứng. Tư tưởng này có lẽ được F.Saussure hưởng ứng khi đề xuất chỉ nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách là cái-đang-sử-dụng. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ của công trình Ngôn ngữ học đại cương (1916) của Saussure gần như bịt lối đi về cội nguồn của ngôn ngữ.

Cho đến nay, giới ngôn ngữ học vẫn tranh cãi về quan hệ võ đoán hay có lý do giữa cái biểu đạt (signifier) và cái được biểu đạt (signified), giữa âm và chữ, hoặc nếu có đặt ra một giả thiết nào đó được số đông chấp nhận cũng khó trình bày thông suốt mọi vấn đề. F.M. Müller khi tổng kết về nghiên cứu nguồn gốc và bản chất của ngôn ngữ, cho rằng, tình hình càng rắc rối, phức tạp và khó đi đến đồng thuận hơn ngay ở chính giai đoạn niềm tin dựa vào lý thuyết về sự sàng lọc tự nhiên của Charles Darwin. Chính Darwin đã gây nên một loạt những suy đoán “trong phòng kính” về chủ đề này hơn là đi đến những thực chứng khoa học.[34, tr. 7-41].

Khi hậu cấu trúc và giải cấu trúc ra đời, lại xuất hiện càng nhiều giả thuyết về “thế nào, tại sao, khi nào, nơi nào” ngôn ngữ có thể đã xuất hiện. [42].

Theo M. H. Christiansen và S. Kirby, kể từ những năm 1990 các nhà ngôn ngữ học, khảo cổ học, tâm lý học, nhân chủng học, đã cố gắng tìm cách giải quyết “vấn đề khó khăn nhất trong khoa học” này với các phương pháp mới. Tựu trung có các phương pháp:

a) Lý thuyết liên tục” xây dựng trên ý tưởng rằng ngôn ngữ thể hiện rất nhiều sự phức tạp mà người ta không thể tưởng tượng nó chỉ đơn giản là xuất hiện từ hư không. Nó đã phải phát triển từ hệ thống tiền ngôn ngữ trước đó ở tổ tiên là loài linh trưởng.

b) “Lý thuyết gián đoạn” đi theo cách tiếp cận ngược lại – rằng ngôn ngữ là một đặc điểm độc đáo không thể so sánh với bất cứ thứ gì tìm thấy trong số những loài “phi con người”, và do đó phải đã xuất hiện khá bất ngờ trong quá trình tiến hóa của con người.

c) Một số lý thuyết nhìn nhận ngôn ngữ chủ yếu như là một khả năng bẩm sinh, phần lớn được mã hóa ở gen.

d) Các giả thuyết khác coi ngôn ngữ như một hệ thống chủ yếu là văn hóa, con người học được thông qua sự tương tác xã hội.
[9, tr.. 77–93].

Không có phương pháp giải huyền thoại vì huyền thoại được xem là nơi tăm tối nhất, đặc biệt đối với hiện tượng ngôn ngữ. Tuy nhiên, nếu tinh tế thì cũng sẽ phát hiện ra, dưới tầng chìm của huyền thoại mà phổ biến là Cựu ước, những câu hỏi khó nhất về ngôn ngữ có thể được giải đáp. Huyền thoại che mờ sự thật, nhưng huyền thoại lại gần với sự thật nhất, bởi huyền thoại gắn liền với những kiến tạo văn hóa đầu tiên của nhân loại.

Trong Cựu ước có hai tiểu đoạn liên quan đến ngôn ngữ, dù rất mờ nhạt. Tiểu đoạn 1, Chúa Trời giao cho Adam đặt tên cho các con vật. Tiểu đoạn 2 thuộc về huyền thoại tháp Babel.

“Loài người ở một mình thì không tốt; ta sẽ làm nên kẻ giúp đỡ giống như nó. Jehova Đức Chúa Trời lấy đất nắn nên các loài thú đồng, các loài chim trên trời, rồi dẫn đến trước mặt Adam đặng thử xem người đặt tên chúng nó làm sao, hầu cho tên nào Adam đặt cho mỗi vật sống đều thành tên riêng của nó. Adam đặt tên cho các loài súc vật, các loài chim trời cùng các loài thú đồng; nhưng về phần Adam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết. Jehova Đức Chúa Trời làm cho Adam ngủ mê, bèn lấy một xương sườn đã lấy nơi Adam làm nên một người nữ, vì nó do nơi người nam mà có. Bởi vậy cho nên người nam lìa cha mẹ mà dính díu cùng vợ mình, và cả hai sẽ nên ruột thịt. Vả, Adam và vợ, cả hai đều trần truồng, mà chẳng hổ thẹn.”

“Vả, cả thiên hạ đều có một giọng nói và một thứ tiếng. Nhưng khi ở Đông phương dời đi, người ta gặp một đồng bằng trong xứ Sinea, rồi ở lại đó. Người này nói với người kia rằng: Hè, chúng ta hãy làm gạch và hầm trong lửa – Lúc đó, gạch thế có đá, còn chai thế cho hồ – Lại nói rằng: Nào chúng ta hãy xây một cái thành và dựng lên một cái tháp, chót cao đến tận trời; ta hãy lo làm cho rạng danh, e khi phải tản lạc khắp trên mặt đất. Đức Jehova bèn ngự xuống đặng xem cái thành và tháp của con cái loài người xây nên. Đức Jehova phán rằng: Này chỉ có một thứ dân, cùng đồng một thứ tiếng; và kia kìa công việc của chúng nó được khởi làm; bây giờ chẳng còn chi ngăn chúng nó làm các điều đã quyết định được. Thôi, chúng ta hãy xuống làm lộn xộn tiếng nói của chúng nó, cho họ nghe không được tiếng nói của người này với người kia.. Rồi, từ đó Đức Jehova làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ thôi công việc xây cất thành. Bởi cớ đó đặt tên thành là Babel, vì nơi đó Đức Jehova làm lộn xộn tiếng nói của cả thế gian, và từ đây Ngài làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất”.

Tiểu đoạn 1 tiết lộ bí mật về sự ra đời của ngôn ngữ mà ở điểm khởi nguồn rõ ràng không phải do Thượng Đế tạo ra mà do người đàn ông là Adam tạo ra. Bởi 7 ngày sáng thế trước đó, Cựu ước chỉ nói Thượng Đế tạo ra đất trời và vạn vật, không hề nói Thượng Đế sinh ra ngôn ngữ hay dạy con người sử dụng ngôn ngữ. Điều này thông thái hơn Plato khi ông này cho rằng từ ngữ là cái bản thể siêu hình có trước sự vật, hiện tượng. Cựu ước còn hé lộ điều sâu xa hơn các nhà ngôn ngữ học hiện đại khi mặc nhiên chân lý không cần bàn cãi, rằng thông qua hoạt động giao tiếp hay qua lao động, ngôn ngữ hình thành như một khế ước cộng đồng. Sự thật, chính sự tồn tại đa dạng và khác biệt của sự vật, hiện tượng đã tác động vào con người, từ đó hình thành ý thức phân biệt sự tồn tại của sự vật, hiện tượng để nhận thức thế giới. Saussure nói ngôn ngữ tách lọc đám tinh vân hỗn độn của sự sống thành một thế giới có trật tự, điều ấy có ý nghĩa sâu xa hơn là một “khế ước xã hội” hay “thông qua giao tiếp” mà ông và các triết gia và nhà ngôn ngữ từng xem là quan trọng hơn tất cả. Cựu ước giúp ta hình dung ngôn ngữ bước đầu là những ký hiệu đơn giản thay thế cho sự vật, hiện tượng, là công cụ để phân biệt sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác trong sự đa dạng sau này của nó.

Tên gọi mà Adam “đặt tên cho mỗi vật sống thành tên riêng của nó” có thể là một ký hiệu âm thanh hay dấu hiệu nào đó. Nhưng điều có thể xác định là hệ thống ký hiệu đó phải thật giới hạn và đơn giản nhất để dễ nhận diện nhất. Quan trọng hơn, hệ thống cái biểu đạt ấy phải sát sao với cái được biểu đạt, tức rất trực quan, nếu không, cái tưởng để khu biệt lại rơi vào nhầm lẫn phức tạp hơn.

Đối chiếu với tiểu đoạn 2, điều nói trên hoàn toàn ăn khớp. Thứ ngôn ngữ mà con người sở hữu rõ ràng nằm ngoài tinh thần Thượng Đế, vì chính huyền thoại thừa nhận Thượng Đế không kiểm soát được. Sức mạnh làm nên tháp Babel chính là sức mạnh của ngôn ngữ, nó là sản phẩm của ý chí con người muốn sánh ngang tầm Đấng Sáng tạo vĩ đại mà Thượng Đế đã phải ganh tị và tìm cách phá hoại hay hủy diệt. Tham vọng sánh ngang tầm Thượng Đế cũng là cái giới hạn cuối cùng của loài người khi ngôn ngữ càng sinh sôi càng phức tạp, dẫn đến sự phân hóa cộng đồng. Gạt bỏ cái lý do về một Thượng Đế làm sụp đổ tháp Babel, rất dễ nhìn thấy huyền thoại mang bản chất hai mặt của ngôn ngữ. Một mặt, ngôn ngữ giúp con người thông hiểu nhau để tạo nên sức mạnh của cộng đồng, nhưng mặt khác, cũng chính ngôn ngữ, trong điều kiện càng phát triển và sinh sôi, càng trở thành phức tạp, trừu tượng và khó hiểu, dẫn đến xung đột và làm tan rã cộng đồng. Điều này các nhà giải cấu trúc như Lacan, Foucault, Derrida đã mơ hồ nhận ra khi đặt hoài nghi về tính chân thực, tính khả tín của ngôn ngữ: “Ngôn ngữ là một chiều kích của biểu trưng và quyền lực” (Lacan), “Hãy cảnh giác với trò chơi của ngôn ngữ” (Foucault), “Bản thân ngôn ngữ đã là huyền thoại, cho nên chỉ là trò chơi ảo.” (Derrida)…

Cái làm cho tháp Babel sụp đổ không đơn thuần là “sự tản mác của loài người trên khắp mặt đất” như giải thích của huyền thoại, mà đằng sau đó, câu chuyện để lộ ra một biến động ngay bên trong kiến tạo ngôn ngữ. Chắc chắn ở thời điểm mà con người dễ thông hiểu nhau phải là thứ ngôn ngữ mà cái biểu đạt phải sát sao với cái được biểu đạt. Nếu là âm thanh thì phải là một thứ âm thanh rất đơn giản như tiếng hú, tiếng gọi bầy hay tiếng gọi tình của bầy đàn nguyên thủy chứ không thể là một âm thanh với cấu trúc phức tạp và đa dạng như hiện nay. Và như vậy, phải có một hỗ trợ khác cho âm thanh. Chắc chắn phải là hệ thống hình ảnh. Việc xây tháp Babel hay bất cứ một tòa kiến trúc nào cũng phải được hình dung trước và được thống nhất trong cả cộng đồng. Điều này Engels có lý khi phân biệt công việc của loài người với việc xây tổ của con ong hay việc tha mồi của con kiến. Và Derrida có lý khi phê phán giới ngôn ngữ học, từ Aristotle đến Saussure, khi các nhà siêu hình học này khăng khăng duy nhất một chân lý “chữ viết chỉ là ký sinh của âm thanh”. Do chỉ dựa vào chữ viết ký âm mà siêu hình học gần như bị mù lòa không biết rằng, đối với chữ tượng hình (của người Trung Hoa chẳng hạn), giữa âm và chữ gần như chẳng liên quan gì với nhau mà chỉ gán ghép cho nhau khi nối kết hai cái khác biệt lại với nhau. Chữ viết tồn tại độc lập với âm thanh, và như vậy, không có lý do gì nói âm thanh có trước chữ viết mà có khi ngược lại. Điều này cũng giống như đứa trẻ con biết vẽ sớm hơn biết nói, nó vẽ ra được những điều nó nhìn thấy trước khi nó học tiếng nói của người khác.

Tính chất đối sánh trực tiếp giữa “vật thật” với “vật thay thế”, ở cái thời điểm khải huyền đó, chắc chắn không thể võ đoán, như Derrida đặt ra trong các công trình của mình. Đó phải là một quan hệ tương đương, tức hoàn toàn có lý do. Trong một khảo cổ tại hang động Lascaux (Pháp), người ta phát hiện hơn 16 ngàn năm trước, ở vách các hang động vẫn còn lưu giữ những hình ảnh về các loài vật vừa giống thật vừa rất sơ giản về đường nét. Các dấu hiệu này nguyên thủy hơn những hình ảnh vừa thật vừa trừu tượng trong các Kim Tự Tháp ở Ai Cập. Điều lạ là trong các đền đài xa xưa như Kim Tự Tháp hay các ngôi đền Ấn Độ cổ tuyệt nhiên không thấy một chữ viết ký âm nào. Có nghĩa là chữ viết ký âm phải là một sáng tạo ra đời khá muộn khi có một chế biến mang tính đột biến nào đó. Một điều có thể hình dung được, đó là khi tiếng nói của con người phát triển đến mức cần ghi lại. Kết quả là sự tương tác giữa âm và hình chính là nguyên nhân sinh ra chữ ký âm, một loại chữ viết mà tính tương đương giữa hình ảo và vật thật đã bị biên tập, bị bóp méo (được cho là thẩm mỹ hóa) và bị chế biến thành một sản phẩm mà hiện nay gọi là võ đoán hay không có lý do.

Những hình ảnh trong các hang động cổ sơ có ý nghĩa gì? Đó vừa là những bức ký họa vừa là những ký hiệu đầu tiên để một đứa bé ra đời từ trong cái hang động đó có thể nhận biết được thế giới xung quanh. Hình họa là cha đẻ của chữ viết. Ban đầu, con người dùng hình vẽ tả thực để biểu thị thế giới, sau chuyển sang ký hiệu, tức một loạt các thao tác kiến tạo đi từ tương đương đến khác biệt. Sự tương đương làm cho cái biểu đạt ngay từ đầu gắn liền với cái được biểu đạt như hình với bóng, tức ký hiệu luôn quy chiếu với sự thực, trong khi để hội nhập với phần tiếng nói, tức âm thanh, nó buộc phải vươn đến chiều hướng khác biệt giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt ban đầu.
Nhưng động lực sâu xa nào đi đến quá trình kiến tạo như vậy? Nếu xem bản thân ngôn ngữ là một huyền thoại, một kiến tạo văn hóa, thì ắt nó nằm trong quy luật của trò chơi quyền lực.

Lacan chỉ ra, tính trật tự, tính quy ước của ngôn ngữ tự nó vạch trần bản chất của ngôn ngữ là trò chơi của quyền lực. Hạt nhân của quyền lực là cấm kỵ. Ngôn ngữ phản ánh sự thực nhưng lại che mờ sự thực, bởi nó luôn kích thích tưởng tượng và trượt vào chuỗi biểu đạt đẩy ảo tưởng đã được quy định sẵn bằng cái gọi là ngữ pháp. Ngôn ngữ không phải là tự nhiên mà là một kiến tạo đầy những cấm kỵ: cấm tục, cấm sai chính tả, cấm sai ngữ pháp, cấm diễn đạt sai logic và hệ thống… Những điều cấm đó mạnh mẽ hơn là cấm nói dối, dẫn đến con người ngày càng vô minh với chính tiếng nói của mình. Tất nhiên, theo Derrida, với khao khát biểu đạt hiện thực, càng cấm kỵ càng sinh ra động lực của những sáng tạo mới, một hiện thực sẽ được biểu đạt với vô số dạng thức khác nhau làm đa dạng hóa tinh thần con người. Ngôn ngữ trở thành một thứ phi bản thể trong tính đa dạng của sự biểu đạt. Derrida khuyến nghị, cần có một khoa học về chữ viết, chấm dứt giai đoạn lịch sử dài xem “chữ viết là ký sinh của âm thanh”. Thật sai lầm và đầy mâu thuẫn khi Saussure xem âm thanh tiếng nói gần với tự nhiên hơn, trong khi thực chất, dưới dạng hình ảnh nguyên thủy, chữ viết, mà nguồn gốc là chữ viết tượng hình mới thực sự gần với tự nhiên, và từ tự nhiên dịch chuyển thành sáng tạo văn hóa do cấm kỵ của quyền lực.

Mark-Alai Ouaknin, trong Bí mật của bảng chữ cái, đã gợi ý rằng, câu trả lời về nguồn gốc của chữ viết ghi âm sẽ được tìm thấy trong quá trình chuyển đổi từ đa thần giáo sang độc thần giáo. Điều thứ hai trong Mười điều giáo lệnh có ghi: “Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác. Ngươi chớ làm tượng chạm cho mình, cũng chớ làm tượng nào giống như những vật trên trời cao kia, hoặc ở lòng đất hay sâu trong làn nước”. [35, tr.9]. Điều cấm này đã buộc người Semites, người vẫn viết ngôn ngữ của họ bằng chữ tượng hình phải thoát ra khỏi chính hình ảnh đó và chuyển sang chữ ký âm.

Sự thực, trước khi chuyển sang chữ viết ký âm, ngôn ngữ tượng hình đã đi từ tả thực sang biểu trưng, tức từ cụ thể đến trừu tượng thông qua quy trình giống như sáng tạo nghệ thuật đã được nói ở mục trước. 1) Tái hiện nguyên dạng hoặc dùng cái đại diện cho hiện thực được tri giác, 2) Tách lọc sự hỗn tạp của hiện thực, biên tập, giản lược hóa, 3) Trật tự và thẩm mỹ hóa, 4) Thoát ly khỏi hiện thực tri giác, chuyển và trượt nghĩa từ hình ảnh cụ thể sang kí hiệu – biểu trưng trừu tượng. Không chỉ cấm các bộ phận sinh dục hay cấm hình dung gương mặt Thượng Đế hay ông vua, những gì trần trụi của sự thực đều bị cấm vì bị cho đó là trần tục. Bốn bước trong quy trình trên là tất yếu trong nguyên lý dịch chuyển của tâm lý và đi đến những sáng tạo khác biệt, trong đó chữ ghi âm là một sáng tạo an toàn nhất.

Nhân loại may mắn khi không hoàn toàn thay chữ viết tượng hình bằng chữ ký âm. Rõ nhất là chữ Hán. Người Hán cho đến nay không chỉ lưu giữ chữ giản thể mà còn sử dụng chữ phồn thể, không chỉ chữ chân mà còn những loại chữ cổ như chữ triện, đặc biệt là giáp cốt văn và tự hình nguyên mẫu gốc. Trên giáp cốt văn và tự hình nguyên mẫu gốc, các chữ viết đều mang hình sự vật, hiện tượng gần tương đương với sự thực được tri giác. Chẳng hạn hình con ngựa, con chó, con mèo, con chim… với những nét tạo hình rất dễ nhận ra vật mà nó biểu thị. Khuynh hướng tách lọc sự hỗn tạp, cùng với quá trình biên tập, giản lược hóa, đến mức biểu trưng hóa thành cái đại diện đơn giản, trừu tượng nhất và hình thành nên chữ viết. Những ký hiệu thuần túy nằm trong ý niệm, tư tưởng cũng bắt đầu hình thành thông qua sự chuyển hóa, lắp ghép, từ biểu vật sang biểu ý, từ biểu hình sang biểu âm.

Ví dụ sống động nhất là những từ biểu thị con người và bộ phận sinh dục, nơi diễn ra cấm kỵ nặng nề nhất. Ban đầu người Hán vẽ con người có đủ mặt mũi tay chân và các bộ phận của cơ thể, sau chỉ còn hai nét thành chữ Nhân (人). Biểu thị người nam hay người nữ chỉ cần vẽ bộ phận sinh dục như là cái đại diện, và kết quả là, phải né tránh, biên tập thành những đường nét xa dần với sự thực. Chữ Nữ (女) cho đến nay, dù đã chế biến khác với cái ban đầu của sự thực, nhưng vẫn có thể nhận ra hình ảnh của sự thực nguyên thủy: bộ phận sinh dục nữ. Rất hài hước khi chế biến chữ Nôm, các cụ người Việt đã chấm thêm một dấu vào giữa để gọi là chữ “đĩ”. Chữ Nam, ban đầu là bộ phận sinh dục nam, giống cái Linga, sau do tính chất phụ quyền chi phối, cái bộ phận sinh dục ấy được mang tôn thờ, chỉ cần thêm cái chạc ba bên cạnh là thành chữ Tổ (祖), tức người cha nguyên thủy trong Totem giáo của thời bộ tộc.

Trong cuốn The Solid form Of Language: An Essay on Writing And Meaning, các học giả Canada đã chỉ ra bằng chứng quá trình hình thành chữ viết ghi âm bằng sự chế biến từ chữ viết ghi hình. Những từ ngữ đầu tiên đều xuất phát từ hình họa các loài động vật với những nét sơ giản, cách điệu như những bức ký họa. Trong quan hệ tương tác và phối hợp giữa chữ ghi hình và tiếng nói, con người đã chế biến ra những ký hiệu khác biệt với sự thực ban đầu, tức khác tự nhiên, từ đó có hệ thống các chữ cái và sự phối hợp các chữ cái thành tiếng hay âm tiết. Như vậy, từ quan điểm cấm dục của huyền thoại và tôn giáo độc thần, mọi thứ sự thật thuộc về tự nhiên trong sáng tạo được cho là của Thượng Đế cũng bị cấm tuốt. Kết quả là ngôn ngữ mất hẳn quan hệ với sự thật mà nó cần hướng về, đúng hơn là xa sự thật thế tục để quy về bản thể như Plato đã mặc định từ khi siêu hình học ra đời.[35].

Sự phức tạp của chữ ghi âm là bản thân chữ cái không còn một mối quan hệ quy chiếu nào với sự thực. Đó là lý do ai muốn biết chữ đều phải học. Chữ viết vì thế gắn liền với giáo dục. Trẻ em giai đoạn học thuộc bảng chữ cái là giai đoạn khó khăn nhất, bởi nó hoàn toàn trừu tượng. Tính chất phức tạp của âm và tính chất trừu tượng của ký hiệu ghi âm càng chứng tỏ âm thanh không hẳn là thứ ra đời sớm hơn chữ viết, trong nghĩa là chữ viết tượng hình.

Chữ viết được nhận diện bằng thị giác. Trong khi âm thanh nhận diện bằng thính giác. Trong mối quan hệ giữa chữ viết và âm thanh, chữ viết có vai trò cố định âm thanh, thậm chí chuẩn hóa âm thanh. Đó là lý do các dân tộc có thể chấp nhận sự biến đổi âm ở các khu vực, các cá nhân, còn chữ viết thì quy về chuẩn chung, gọi là chính tả, thậm chí còn khu biệt ngữ pháp văn nói với văn viết. Kể cả lịch sử âm thanh có thể biến đổi nhanh, còn các biến đổi về chữ viết thì diễn ra rất chậm. Tính võ đoán, tính quy ước của ngôn ngữ chỉ đúng cho âm thanh và chữ viết ghi âm, trong khi lịch sử ngôn ngữ chứng minh một cách rõ ràng, ở điểm xuất phát, tất cả đều có lý do và những khế ước ngôn ngữ của cộng đồng chỉ ràng buộc chặt chẽ khi nhân loại bước chân vào văn hóa giáo dục.

Một nghịch lý cần giải quyết là vì sao chữ viết ghi âm xa với sự thực hay tự nhiên so với chữ viết tượng hình nhưng lại chiếm ưu thế và phát triển mạnh mẽ hơn? Có thể hình dung 3 lý do. Một là, chữ viết ghi âm giản tiện đến mức chỉ giới hạn trong vài chục ký tự (chữ cái) nhưng lại có khả năng kết hợp vô hạn các âm thanh khác nhau, trong khi chỉ tượng hình đòi hỏi vô số ký hiệu khác nhau nhưng vẫn không thể diễn tả hết sự đa dạng, phức tạp của hiện thực và tư tưởng. Hai là, chữ viết thuộc sáng tạo tinh thần, và mọi sáng tạo tinh thần luôn có xu hướng đi từ tương đương đến khác biệt. Cái biểu đạt tương đương với hiện thực được biểu đạt như chữ tượng hình chỉ làm cho ý nghĩa nghèo nàn trong tính trực quan của nó. Chỉ khi vận động đến khác biệt, tức quá trình biểu trưng hóa và chuyển hướng từ biểu hình sang ký âm, nhận thức con người mới thoát ra khỏi trực quan để vươn đến tư duy trừu tượng. Và ba là, điều này có liên quan đến phát triển sinh học, thị giác con người hàng triệu năm không thay đổi, nhưng thính giác thì phát triển cùng não bộ và cấu trúc vòm họng để phát ra và nhận biết vô số các âm thanh phức tạp, kết cục, nhờ âm thanh, ta gọi là ngôn ngữ, con người biểu đạt được mọi tư tưởng, cảm xúc của mình so với thế giới hình ảnh bất động, vô hồn của ký tự tượng hình.

Ngôn ngữ là kỳ quan số một của loài người mà chữ viết là cái khung cố định, bền vững cho cái kỳ quan bất diệt đó. Chữ ghi âm là kết quả của một quá trình tiến hóa đến văn minh.

Huyền thoại về ngôn ngữ che lấp về sự thật ngôn ngữ nhưng cũng từ trong huyền thoại, các kiến tạo ngôn ngữ bộc lộ đầy đủ nhất nếu có một khảo cổ học công phu và nghiêm túc, từ đó hình thành nên một khoa học về chữ viết thay thế cho khoa học về âm thanh đang thống trị dai dẳng trong giới ngôn ngữ học.

Tóm lại, huyền thoại về ngôn ngữ, hay đúng ra, nói như các nhà giải cấu trúc, ngôn ngữ là thứ huyền thoại tinh vi nhất trong kiến tạo văn hóa của nhân loại. Chính ngôn ngữ, với tư cách là cái-đang-sử-dụng đã che đậy toàn bộ sự thật. Tuy nhiên, cũng nhờ giải kiến tạo ngôn ngữ mà toàn bộ sự thật của trò chơi văn hóa được phơi bày. Bắt đầu từ khi sinh ra ngôn ngữ dưới dạng sơ khai, con người đã dùng cái thay thế hay cái đại diện tương đương với sự thật để biểu đạt và nhận thức thế giới hiện thực. Ở cấp độ này, ngôn ngữ tồn tại dưới dạng hình họa và nằm trong thế nguyên hợp với hội họa. Chính cấm kỵ cùng với sự phát triển các loại hình nhận thức, và quan trọng hơn, trong tương tác với âm thanh tiếng nói, một hình thái khác biệt với nhận diện thị giác, ngôn ngữ tự tách ra khỏi hình họa và trôi tuột vào những kiến tạo khác biệt với sự thực. Đó là lý do, ngôn ngữ thuộc hàng trừu tượng nhất của hệ thống ký hiệu mà nhân loại đã tạo ra.

Chung quy nằm ở quan niệm rất siêu hình, rằng văn hóa phải là cái đối lập với tự nhiên, cao hơn tự nhiên, tức vươn đến thần thánh. Để có sự đối lập ấy, mọi thứ thuộc về tự nhiên đều bị cấm kỵ, từ cấm dục đến cấm toàn bộ sự thật của tri giác thường nghiệm. Kết quả là ngôn ngữ đi từ quan hệ tương đương với sự thật thành khác biệt với sự thật, và loài người từ đó trượt vào trò chơi ảo vô tận. Bakhtin xem ngôn ngữ dân gian, ở vỉa hè, quảng trường mới là thứ ngôn ngữ gần với sự thật hơn ngôn ngữ bác học. Từ Wittgenstein đến Barthes đều khẳng định chắc chắn ngôn ngữ là trò chơi ảo, là thứ huyền thoại tinh vi nhất trong các huyền thoại. Trong khi xem ngôn ngữ là diễn ngôn của quyền lực, Foucault cảnh báo: hãy cảnh giác với ngôn ngữ, vì ngôn ngữ có tính chất lừa dối hơn là đảm bảo sự thật. Nhưng Derrida thì kết luận, đằng nào loài người cũng không thể không có ngôn ngữ với tư cách là cái đại diện hay thay thế cho sự thật; và như vậy, khi không thể quy chiếu trở về cái được biểu đạt tiên nghiệm ban đầu, loài người nên chấp nhận sự sáng tạo theo nguyên lý Differance – sự phát tán thành vô số những khác biệt – trong hệ thống đa nguyên của văn hóa toàn cầu.

Chu Mộng Long

One response to “Chu Mộng Long lý giải việc kiến tạo ngôn ngữ và chữ viết(nhân chuyện Rốt/Rác của 12 "học giả Huế)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.