Đọc “chuyện tình một tháng lẻ một ngày” của Phan Ni Tấn

CHUYỆN TÌNH MỘT THÁNG LẺ MỘT NGÀY


phan ni tấn

Truyện cổ tích “Ngàn Lẻ Một Đêm” của xứ Ba Tư là một câu chuyện tình cảm lãng mạn giữa tên bạo chúa Ba Tư Shahriyar và nàng Sheherazade. Đây là một câu chuyện thần tiên được con gái của viên tể tướng là Sheherazade đã kiên trì, khôn khéo trải qua hàng ngàn đêm, liên tục kể cho bạo chúa nghe những câu chuyện về cuộc sống con người, về tình yêu và lòng thù hận, về các đô thị thần thoại, về chiến tranh, hòa bình và pháp thuật, về loài vật biết nói v.v… nhằm cải hóa bản tính khát máu của nhà vua phương Đông. Kết quả vua Ba Tư được cảm hóa, ông bãi bỏ lệnh bắt giết các cô gái vô tội mỗi khi trời sáng và đã cưới nàng Sheherazade làm vợ, đẻ được ba người con.
Ngày nay, ở bên Mỹ cũng có một cuộc tình, dĩ nhiên không phải hoang tưởng mà có thực, tuy hoàn toàn không dính dáng gì tới câu chuyện thần tiên kể trên, nhưng so với thời gian “một ngàn lẻ một đêm” bên xứ Ba Tư thì cuộc tình bên xứ Cờ Hoa chỉ xẩy ra có “một tháng lẻ một ngày”.

Chuyện như vầy, xin kể Quý vị nghe:
Bảy Háp quê ở Xẻo Rô, Rạch Giá. Trước 1975, anh Bảy là trung sĩ Hải quân, chuyên sửa chữa máy móc tàu bè thuộc Căn Cứ Hải Quân Kiên An đóng ở Xẻo Rô quê anh. Năm 1956, vì công vụ, phòng Tổng quản trị Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH gởi công văn xuống điều anh Bảy về Sài Gòn hợp với những toán lính thợ Hải quân Công xưởng Bason chuyên lắp ráp, tu bổ, sửa chữa những tàu khu trục, giang đỉnh và chiến hạm nhỏ do quân đội Liên hiệp Pháp để lại sau khi rút khỏi Việt Nam. Hai năm sau, thủy thủ Bảy Háp lại được lệnh thuyên chuyển ra đảo Bình Ba cũng cùng công việc của anh thợ máy mát tay. Bình Ba là một đảo nhỏ nằm trong vịnh Cam Ranh, cách cảng Ba Ngòi khoảng 15km về phía đông.

Khi Bảy Háp được thăng cấp Trung sĩ Nhất cũng vừa lúc anh được trả về lại đơn vị cũ Hải quân Kiên An ở Xẻo Rô. Trở về quê như cá gặp nước, mỗi cuối tuần Trưởng xưởng trung sĩ nhất Bảy cùng đám em út trong toán thợ máy tha hồ rong chơi, hội hè, bù khú ở các hàng quán dọc theo bờ sông. Là đệ tử của Lưu Linh, Bảy Háp uống rượu như hủ chìm, hút thuốc lá bất kể thượng vàng hạ cám từ Pall Mall, 555, Salem, Craven A, Rubie Quân Tiếp Vụ, thuốc rê, thuốc lào… đến vàng cả hai ngón tay.
Hách-xì-xằng vậy đó. Bảnh chọe, ngon ơ vậy đó. Vậy mà lần đầu tiên trong đời Trung sĩ nhất Bảy nhà ta tình cờ giáp mặt chế Keo của tôi trong một tiệm bánh là chàng cứ như bị ai hớp hồn. Chế Keo, tên do ông nội tôi đặt, là chị bà con chú bác của tôi. Ngoài vẻ nết na, hiền hậu của một cô gái quê, chế Keo còn giỏi về nữ công gia chánh, chế làm bánh rất ngon và mở một tiệm may rất đông khách, nơi anh thủy thủ đa tình mượn cớ đem quần áo ra sửa để được gần gũi, ve vãn người đẹp mộng mơ.

Trung sĩ nhất Bảy, từ ngày bị tiếng sét ái tình đánh cho te tua, cứ chiều chiều xong việc thủy binh là chàng phóng xuống sông Cái Lớn bơi một vòng cho sạch dầu mỡ xong lên bờ diện bộ đồ hài quân láng coóng hăm hở vô phố đi tìm “người tình trong mộng”. Nói nào ngay vào thời buổi đó cũng may cho anh Bảy Háp.

Số chế Keo là con cháu ba đời của nội tổ tôi mang họ Châu gốc Triều Châu (còn gọi là người Tiều). Năm 1644, nội tổ chúng tôi chạy giặc Mãn Thanh từ Trung Hoa sang Việt Nam chọn Rạch Giá làm quê hương thứ hai để lập nghiệp. Thời đó, vào thế kỳ 17, để nối dõi tông đường, gia đình người Triều Châu không chấp nhận gã con gái (Ka-kỳ-nán) của họ cho con trai Việt (An-nàm-nán), ngược lại con trai Ka-kỳ-nán có thể cưới con gái An-nàm-nán dễ dàng. Vì vậy, trải qua nhiều đời người Triều Châu trở nên đông đúc đến nỗi trong dân gian truyền khẩu câu ca dao để đời:

Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu

Nhưng không riêng gì tỉnh Bạc Liêu, thời xa xưa đó đã thu hút một số lượng lớn người Trung Hoa đến Việt Nam, đa số là người Tiều đến lập nghiệp từ Sài Gòn – Chợ Lớn xuống tới Lục Tỉnh Nam Kỳ, trong đó đất Rạch Giá (xưa gọi là Rạch Cây Giá) là nơi duy trì dòng dõi họ Châu chúng tôi cho tới tận ngày nay. Xã hội ngày một tân tiến, quan niệm hôn nhân của người Tiều cũng cởi mở hơn, không còn bị nhiều ràng buộc như xưa nên anh Bảy, sau một thời gian dài hẹn hò qua lại với chế Keo, đã nhờ Chệt Xiếm tôi mai mối mà nên duyên chồng vợ, một năm sau hạ sanh đứa con trai đầu lòng.

Biến cố 30 tháng 4/1975 nước mất nhà tan, thủy thủ Bảy Háp đưa vợ con xuống tàu Hải quân ra khơi được Hạm Đội 7 đưa về đảo Guam, sáu tháng sau đi định cư tại Texas, Hoa Kỳ. Thời gian êm ả trôi qua, anh chị Bảy Keo, thay vì mong muốn có một cô con gái lại lần lượt sanh thêm bốn quí tử, vị chi là năm. Cái câu: “ngũ quỷ nam phi” đâu không thấy chỉ thấy dưới mái nhà của họ nhộn nhịp, lao xao biết bao nỗi niềm hạnh phúc. Hiếu tử là những khái niệm có từ thời xa xưa, nhưng trong một gia đình lương thiện như anh chị, ngũ hiếu mới trở thành một lẽ sống mãnh liệt.
Thập niên 1980 đợt sóng người Việt tỵ nạn Cộng sản ồ ạt bỏ nước ra đi, trong đó có sáu chị em, con của người anh và ba đứa con của người chị lần lượt vượt biên tới trại tỵ nạn Songkhla, Thái Lan. Dù chẳng giàu có gì ngoài giàu lòng nhân ái, anh chị Bảy Keo cũng ra sức bảo lãnh cả chín đứa cháu qua Mỹ sống nheo nhóc với năm đứa con của anh chị dưới một mái nhà bình thường.

Tạo hóa đôi lúc thật bất công. Thay vì hết lời ca tụng vẻ đẹp của đức tính và nhân cách con người, ông Trời lại dúi vô tay anh Bảy mảnh giấy thất nghiệp về nhà nằm chơi sơi nước. Nhưng anh Bảy xưa nay không quen… “sơi nước” ngoài rượu bia. Ngay cả chế Keo cũng mấy khi hớp một ngụm nước ngoài nước sinh tố sau mỗi bữa ăn. Để nuôi một lúc 14 nhân khẩu đang trên đà lớn dậy (một ngày dứt hết bốn bịch sữa tươi), anh Bảy thất nghiệp phải mở garage sửa xe hơi gần nhà, chế Keo vẫn làm thợ trong một hãng may, cuối tuần làm thêm bánh trái đem ra chợ bỏ mối.
Thời gian trôi qua, cuộc sống cũng hối hả trôi theo. Khi tất cả đàn con cháu cứng cáp nên người lần lượt bay đi trả lại căn nhà xưa vốn náo nhiệt lại chìm trong lặng lẽ, u sầu. Lúc về hưu anh Bảy càng uống rượu hút thuốc tợn hơn xưa. Hồi trước, người nghiện thuốc lá hút ở đâu cũng được: trong nhà, trong xe, trong máy bay, trong các cửa tiệm, hàng quán, thậm chí nhà thờ, chùa chiền cũng không ai cấm. Thời đó anh Bảy hút thuốc lá trong nhà là chuyện bình thường, cả nhà không ai bắt anh ra sau hè mà hút. Nhưng anh không ngờ khói thuốc lá là mầm sanh bệnh ung thư phổi di căn cho người vợ và dĩ nhiên cho cả chính mình sau này.

Điều rất dễ nhận ra là sức khỏe của chế Keo thỉnh thoảng lại rơi vào trạng thái mê hoảng, thất thần. Trạng thái đó ngày càng thường xuyên khiến anh Bảy cảm thấy bất an, đưa vợ đi khám bệnh mới biết vợ bị ung thư phổi. Trò đời quái ác rõ ràng chẳng từ nan ai. Một năm sau anh Bảy cũng mắc phải bệnh này. Đúng là hữu thân hữu khổ. Sau ba năm chống chọi cơn bệnh trầm kha, chế Keo anh Bảy đã phải bán căn nhà tràn đầy kỷ niệm của mình theo gia đình vợ chồng đứa con thứ qua Florida dưỡng bệnh, sống được ngày nào hay ngày nấy.

Nhớ cái ơn nuôi dưỡng năm xưa, sáu gia đình đứa cháu và hai đứa cháu gái, con người anh thứ của chế Keo từ San José, Bắc California, kể cả sáu đứa cháu con người chị (qua Mỹ không bao lâu) cùng bay qua Florida thăm người ơn nằm bệnh. Thói đời vốn bạc bẽo, có người nặng lời cho rằng mang ơn người khác là một gánh nặng cần phải “quẳng gánh ơn đi mà vui sống”. Nhiều người đã từng làm như vậy, trừ con cháu của anh chị Bảy Keo; họ đã không quẳng gánh đi, ngược lại trên đôi vai ngày một vững vàng hơn họ đã mang cái gánh ơn nghĩa này đi cho hết cuộc đời làm người. Trong thời buổi nhiễu nhương, tình nghĩa hiếm hoi giữa cô cháu thật đáng quý trọng.

Buổi sáng một ngày cuối thu, đám mây trắng như những chùm bông tủa ra thành hoa văn trang trí nền trời xanh thẳm. Dưới đất, giữa cảnh vật thiên nhiên của miền đất và vùng biển nhiệt đới, căn nhà đồ sộ và vườn hoa tươi mát như tách rời khỏi mọi biến động trần gian. Thật kỳ lạ và thật đẹp, trên chiếc ghế đá đặt cạnh hàng cây dừa trong vườn nhà nơi anh Bảy hay dìu chế Keo ra ngồi hít thở không khí trong lành, ngắm những con chim xuống đất ăn mồi, anh nhìn thấy một chiếc lá vàng, chiếc lá nằm im, dù có gió thoảng qua vẫn không nhúc nhích, chiếc lá không còn thở nữa.

Buổi sáng đó, anh Bảy qua đời trong niềm thương tiếc đau buồn của những người thân. Trong tận cùng mất mát và khổ đau, chế Keo tôi thân mang trọng bệnh lại mất chồng, đã không còn sức gượng lại được, cũng vội vàng xuôi tay nhắm mắt lìa đời, sau một tháng lẻ một ngày, cái ngày anh Bảy ra đi.
Nhìn chung, trong suốt quãng đời làm người với ngót 45 năm tình nghĩa vợ chồng của chế Keo và anh Bảy, theo tôi thật tình mà nói cũng chỉ tóm gọn trong một khoảng thời gian hết sức ngắn ngủi: một tháng lẻ một ngày, viết theo con số là 31 ngày.
Đời vốn vô thường. Vô thường như vòng hoa tang rồi sẽ tàn úa và tan biến đi trong cỏi đời ô trược đầy khổ đau này.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.