Hình ảnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong mắt lính Mỹ/ Whose war was it ?Cairie Uyen Nguyen

Hình ảnh Quân lực Việt Nam Cộng hòa trong mắt lính Mỹ

Nguồn: Carie Uyen Nguyen,

Whose War was it

The New York Times, 18/08/2017.

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Có lẽ chẳng ai bước ra khỏi Chiến tranh Việt Nam với danh tiếng bị hủy hoại nhiều như Quân lực Việt Nam Cộng hòa (QLVNCH). Từ rất lâu trước khi chiến tranh kết thúc, các binh sĩ QLVNCH đã trở thành vật tế thần dễ dàng và luôn sẵn sàng cho những thất bại của Mỹ, một hình mẫu điển hình trong các nghiên cứu học thuật và văn hóa đại chúng. Chúng ta được nghe kể rằng họ là bọn hèn nhát bất tài, hay trốn tránh nhiệm vụ, để lại mọi việc khó khăn cho người Mỹ.

Là một người nghiên cứu Việt Nam tại một trường đại học Mỹ với kho tài liệu lớn lưu trữ lịch sử qua lời kể (oral history) về thời kỳ Việt Nam, cả bằng văn bản và băng ghi âm, tôi may mắn có cơ hội đặc biệt để đào sâu hơn và để minh chứng rằng câu chuyện kể trên là mơ hồ và bất công. Đây là cơ hội đặc biệt bởi vì tôi không muốn nói rằng lính Mỹ đã sai – thay vào đó, tôi đã tình cờ tìm được những câu chuyện từ các cựu binh Mỹ nói về sự can đảm và hiệu quả công việc của những chiến hữu đồng minh của họ, những người lính Nam Việt Nam.

Tất nhiên, tôi cũng đã gặp nhiều người Mỹ có thái độ tiêu cực về QLVNCH. Nhưng nhiều người trong số họ là nhân viên hậu tuyến, những người chưa một lần chiến đấu bên cạnh QLVNCH ở tiền tuyến và, tôi cho rằng, họ đã rút ra kết luận không chính xác từ những câu chuyện của người khác mà họ được nghe. Những câu chuyện tiêu cực còn lại thì tập trung chủ yếu vào khác biệt văn hóa hơn là bất cứ điều gì khác. Có nhiều hơn một trường hợp người được phỏng vấn đã nói về thói quen của lính QLVNCH khi cầm tay nhau ra chiến trường. Một chuyên gia phát thanh người Mỹ từng phục vụ tại Bình Dương hồi năm 1967 đã chẳng thể hiểu được điều ấy, thậm chí là nhiều năm sau đó: “Việc này đại loại là kỳ lạ đối với chúng tôi. Tôi chẳng thể nghĩ được gì hơn ngoài việc cho rằng họ là những người bạn thân, và đó là những gì họ đã làm tại đó, nhưng nó trông cứ thật kỳ lạ.”

Các cựu binh Mỹ khác thì thấy kỳ lạ khi gia đình của những người lính VNCH thường theo họ đến trại. Như lời một lính G.I.: “Những binh sĩ này phần lớn là lính nghĩa vụ. Họ bước ra chiến trường cùng với vợ con trên đường mòn. Khi chốt dựng vị trí phòng thủ ban đêm, giống như là cả đại gia đình đều ở đó vậy. Trong nhiều trường hợp, họ chẳng muốn ra ngoài chiến đấu. Họ chỉ muốn sống sót mà chăm sóc gia đình mình.”

Nhưng trong nghiên cứu của tôi, bên cạnh các đánh giá tiêu cực của người Mỹ cũng có thể dễ dàng tìm thấy những câu chuyện tích cực, và có phần cảm thông, về QLVNCH. Chẳng hạn, nhiều cựu binh thực sự thích có các gia đình QLVNCH ở bên cạnh và ca ngợi việc các bà vợ sẵn sàng mạo hiểm mạng sống của họ để tìm thực phẩm tươi sống từ các khu làng gần đó, nấu thành bữa ăn thịnh soạn cho chồng và lính Mỹ. Số khác nhận ra rằng việc sống cùng các thành viên gia đình có thể là nguồn hỗ trợ tinh thần vững chắc cho các binh sĩ QLVNCH, như một lời nhắc nhở về mục tiêu chiến đấu của họ.

Nhìn chung, tôi thấy rằng thái độ tích cực và sự hiểu biết sâu sắc hơn của người Mỹ đối với các đồng minh QLVNCH của họ thường xuất hiện sau một thời gian sống chung, cùng làm việc và cùng chiến đấu với nhau, như trong “kỷ nguyên của những trận đánh lớn” (era of big battles) vào năm 1967, khi các đơn vị lính Mỹ và lính Nam Việt Nam chiến đấu sát cánh bên nhau. Sau một ngày chiến đấu khó khăn, nhiều chàng lính G.I. sẽ ngồi xuống với các đồng nghiệp Việt Nam để kể về gia đình, lấy từ túi áo những bức hình chụp người thân yêu của mình. Rồi cũng những người lính G.I. ấy nhận ra rằng: không giống như chuyến đi chỉ kéo dài 1 năm hoặc 18 tháng của họ, hầu hết các binh sĩ Nam Việt Nam phải phục vụ một thời gian dài không xác định. Những người đàn ông địa phương này buộc phải chiến đấu cho đến khi kết thúc chiến tranh, mà chẳng hề biết rằng ngày chiến tranh kết thúc cũng là ngày họ phải xa cách gia đình một lần nữa.

Hai bên cũng gắn kết trong cuộc chiến đơn vị nhỏ tiêu biểu cho phần lớn Chiến tranh Việt Nam. Cứ mỗi câu chuyện về việc lính trinh sát VNCH vội vàng rút lui sau loạt súng đầu tiên, để người Mỹ lại một mình trong rừng, thì cũng có một câu chuyện khác, tích cực hơn, nói về một người lính VNCH cõng theo một cố vấn người Mỹ bị thương trên cơ thể nhỏ bé của mình đến nơi trú ẩn an toàn. Và cũng có cả những câu chuyện ở bên còn lại, như khi một cố vấn người Mỹ quyết định phá vỡ mọi quy tắc để gọi trực thăng Mỹ đến di tản một binh sĩ QLVNCH bị thương nặng. (Nếu ông chờ trực thăng Nam Việt Nam như đáng ra ông phải làm, thì mọi chuyện có lẽ sẽ quá muộn.) Hoặc câu chuyện khác về một trung sĩ lính thủy đánh bộ người Mỹ hồi tưởng lại việc suýt chút nữa phải ra tòa quân sự vì dám ăn chung với lính VNCH. Với giọng nói run lên vì xúc động, người này nhớ lại khi ông thách thức cấp trên của mình, “Nếu chúng ta không bẻ bánh ăn chung với họ, làm sao chúng ta có thể chiến đấu bên cạnh họ?”

Nếu tình bạn quả thật tồn tại trong chiến đấu, vậy thì những hình ảnh tiêu cực đến từ đâu? Gác lại định kiến chủng tộc, chúng ta có thể xác định một nguyên nhân nằm trong mối quan hệ chiến đấu giữa lực lượng Mỹ và QLVNCH. Người Mỹ giúp nâng cao tinh thần chiến đấu của QLVNCH nhưng đồng thời đã tạo ra sự phụ thuộc quá mức vào hỗ trợ quân sự của họ. Các cố vấn Mỹ được giao về các đơn vị QLVNCH là những người duy nhất có thẩm quyền yêu cầu hỗ trợ chiến thuật trên không khi bị tấn công nặng nề. Vì vậy, theo thời gian, một số sĩ quan QLVNCH dần trở nên quá phụ thuộc vào sự vượt trội về công nghệ của các đối tác Mỹ, và một số người Mỹ có thể đi đến kết luận rằng các sĩ quan của QLVNCH thiếu sức chịu đựng và tính kiên cường.

Tất nhiên, nhiều đội quân tác chiến của Mỹ chưa bao giờ gặp lính QLVNCH trên chiến trường, bởi hai bên thường thực hiện các vai trò chiến lược rất khác nhau: Người Mỹ chỉ huy các hoạt động chiến đấu, trong khi QLVNCH chịu trách nhiệm về bình định và an ninh lãnh thổ. Dù các nhà lãnh đạo Mỹ ở Sài Gòn đã cho thành lập các đội huấn luyện cơ động để hướng dẫn các đơn vị QLVNCH kể từ năm 1967, thời gian họ sống cùng các đơn vị Nam Việt Nam vẫn rất hạn chế.

Có lẽ nguyên nhân gây chia rẽ và hiểu lầm lớn nhất là chính cuộc chiến. Binh sĩ cả hai bên đều phải chiến đấu giữa những rối loạn xã hội, bất ổn chính trị và áp lực quân sự lớn. Cả hai phía đều tự hỏi rằng, đây là cuộc chiến của ai? Chúng ta đang chiến đấu vì điều gì? Và điều này thực sự khó cho lính Mỹ, những người luôn bối rối và thường trong tình trạng mất tinh thần, khiến họ không phân biệt được giữa những người cộng sản ủng hộ Bắc Việt và những người địa phương đang là ‘đồng minh’ của họ.

Đối với một số người Mỹ, câu trả lời đến một cách dễ dàng và đầy cảm thông. Họ tin rằng lính VNCH là những người lính tốt, đã chiến đấu hết sức có thể để bảo vệ mảnh đất của mình. Họ là những đồng minh trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. “Tôi sẽ làm điều tương tự cho đồng bào tôi trên đất Mỹ,” một cựu binh Mỹ nói. Nhưng những người Mỹ khác lại phẫn nộ với những gì họ cho là một gánh nặng bất công. H. Norman Schwarzkopf, cựu binh từng chiến đấu ở Việt Nam và sau đó lãnh đạo liên quân Mỹ và các đồng minh trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc, nói: “Đây là đất nước của họ, là trận chiến của họ. Sau cùng thì họ sẽ phải gánh vác lấy. Tôi nghĩ ta chỉ nên cung cấp cho họ các kỹ năng, sự tự tin cùng các thiết bị họ cần và khuyến khích họ chiến đấu. Tuy nhiên, ngay cả khi lập trường chính thức là chúng ta gửi các lực lượng đến hỗ trợ Nam Việt Nam chiến đấu, sự thật là ngày càng có nhiều trận chiến được tiến hành bởi chỉ riêng người Mỹ, thay vì bởi các đơn vị Mỹ và VNCH cùng chiến đấu cạnh nhau.”

Chúng ta biết rất ít về các cựu binh của chính mình (Mỹ), và lại càng biết ít hơn về các cựu binh Nam Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh họ.

Chúng ta không biết những trải nghiệm hàng ngày của họ là như thế nào, khi chỉ được trang bị rất ít vũ khí và thường phải chiến đấu ở rìa ngoài của tuyến phòng thủ, đôi khi vai trò chỉ nhỉnh hơn một chút so với bia đỡ đạn. Khoảng 254.250 lính miền Nam đã chết trong chiến trận từ năm 1960 đến 1975, gần gấp năm lần số người Mỹ, ở một đất nước chỉ có 15 triệu dân. Chúng ta đã không nghe thấy những gì họ nghe, không cảm nhận những gì họ cảm nhận, cũng không thấy những gì họ thấy nơi chiến trường tuyệt vọng. Ta là ai mà dám phán xét các cựu binh Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam và các đồng minh địa phương của họ, những người họ xem là bạn bè, là anh em, dù là để lãng mạn hóa hay nạn nhân hóa, ca ngợi hay phỉ báng họ? Và rồi khi họ nói về những trải nghiệm của mình, liệu chúng ta có thực sự lắng nghe?

Ngày nay, lòng dũng cảm và sự hy sinh của những người lính VNCH đã hoàn toàn rơi vào quên lãng – ở Việt Nam, mọi chuyện đã bị xóa sạch bởi bên thắng cuộc; ở Mỹ, đơn giản là do lịch sử bỏ bê. Một trong số ít nơi họ được vinh danh là Công viên Tưởng niệm Cựu chiến binh Việt Nam tại Angel Fire, New Mexico, mà tôi đã đến thăm trong Ngày Tưởng niệm. Bên cạnh những viên gạch ghi tên một số cựu binh Úc và Đại Hàn, xuất hiện một vài cái tên người Việt, không phải ai trong số họ cũng có thể đến nơi an toàn và biến đất Mỹ thành ngôi nhà thứ hai của mình.

Một trong những cái tên đó thuộc về cha tôi. Ông là một lính VNCH, qua đời khi tôi vừa 14 tuổi. Ngay cả sau cuộc chiến, tôi chưa từng nghe ông một lần nói xấu người Mỹ, hay phía Cộng sản. Đứng bên cạnh viên gạch mang tên cha mình, tôi đã khóc, tôi trân trọng nơi duy nhất trên trái đất này ghi nhận những đóng góp của cha tôi – không phải trong sỉ nhục và ghét bỏ, mà là trong danh dự và tình yêu. Nơi linh thiêng này không chỉ ghi nhớ và tôn vinh sự hy sinh của những người phục vụ cho đất nước của họ dù thuộc phe nào, mà còn kêu gọi hòa giải thực sự và hòa bình lâu dài.

Nghiên cứu góc nhìn của những người lính Mỹ về lính VNCH, mà một trong số họ là cha tôi, và lắng nghe những câu chuyện của cựu binh Mỹ đã giúp tôi thêm mở mang, cũng như hỗ trợ hành trình học tập của tôi. Mối quan hệ Mỹ – QLVNCH rất phức tạp và là một ví dụ cảm động về trải nghiệm của con người trong một tình huống cực đoan. Câu chuyện của họ đã bị lãng quên, bị hiểu lầm, bị đơn giản hóa và chính trị hóa quá lâu. Chúng ta có thể nghĩ rằng mình hiểu câu chuyện đó, nhưng thật ra ta biết rất ít về các cựu binh của mình. Chúng ta nên và cần tìm hiểu thêm. Nếu các cựu binh ấy lên tiếng, chúng ta phải lắng nghe.

Carie Uyen Nguyen là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành lịch sử quân sự tại Đại học Texas Tech.


Whose War Was It?

By Carie Uyen Nguyen

  • Aug. 18, 2017
Marines of E Company, Second Battalion, with soldiers of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN) during a break from patrolling near Da Nang in 1965.
Marines of E Company, Second Battalion, with soldiers of the Army of the Republic of Vietnam (ARVN) during a break from patrolling near Da Nang in 1965.CreditCreditU.S. Marine Corps, via Getty Images

Perhaps no one came out of the Vietnam War with a reputation as tarnished as the Army of the Republic of Vietnam. Since well before the war ended, ARVN soldiers were made an easy and ready scapegoat for America’s losses, a stereotype that found its way into academia and popular culture. We’re told they were incompetent cowards who often shirked their duties, leaving the hard work to the Americans.

As a Vietnamese student at an American university with an extensive archive of Vietnam-era oral histories, both written and tape-recorded, I’ve had a unique opportunity to dig deeper, to find all the ways that this story is flimsy and unfair. Unique because it’s not about showing that American soldiers were wrong — rather, I’ve come across account after account from American veterans talking about the courage and effectiveness of their allied brothers, the South Vietnamese soldiers.

Of course, I’ve come across many Americans with negative attitudes about ARVN. But a lot of them were rear-area personnel, people who never fought alongside ARVN and, I imagine, drew inaccurate conclusions from secondhand accounts they’d hear on base. Other negative accounts focused more on cultural differences than anything else. More than one talked about ARVN soldiers’ penchant for walking hand in hand as they headed out to battle. An American radio specialist who served in Binh Duong in 1967 could not understand it, even many years later: “That was kind of strange to us. I don’t think it was any more than they were just good friends, and that’s what they did over there, but it just seemed kind of strange.”

Other American veterans found it strange that the families of ARVN soldiers would often follow them to camp. As one G.I. contemplated: “So these troops were largely draftees. They went into the field with their wives and kids along with them in trail. When they set up the night defensive position, it was like the extended family was there. They did not want to go out and fight in many cases. They just wanted to survive and take care of their families.”

But in my research, the Americans’ critical assessments are easily matched, and then some, by sympathetic, positive accounts of ARVN. For example, many veterans actually liked having ARVN families nearby and praised the willingness of some wives to risk their lives to get fresh produce from nearby villages to cook hearty meals for their husbands and American soldiers. Others recognized that having family members nearby could be a solid source of moral support for ARVN soldiers, a reminder of what they were fighting for.

Generally speaking, I have found that positive attitudes and a deeper understanding by Americans for their ARVN allies often emerge after a sustained period of living, working and fighting together, such as the “era of big battles” in 1967, when American and South Vietnamese units fought beside each other. After a hard day’s fighting, many G.I.s remembered sitting down with their Vietnamese counterparts to talk about their families, pulling pictures of loved ones from their breast pockets. It dawned on many G.I.s that, unlike their limited yearlong or 18-month tour of duty, most South Vietnamese soldiers served an indefinite length. These local men had to fight until the end of the war, not knowing that the day the war ended was also the day they had to be separated from their families again.

The two sides also bonded in the small-unit combat that typified much of the war. For every story about South Vietnamese scouts retreating at the first shot, leaving the Americans alone in the jungle, there’s a positive story — say, about an ARVN soldier carrying a wounded American adviser on his scrawny body to the safety of the landing zone. And there are stories on the other side, like one of how an American adviser decided to break all regulations to call in American helicopters to evacuate a seriously wounded ARVN soldier. (Had he waited for a South Vietnamese chopper, as he was supposed to, it would have been too late.) Or another story of an American Marine sergeant who recalled almost getting court-martialed just for eating with the South Vietnamese. With his voice trembling with emotion, the veteran recalled challenging his superiors, “If we do not break bread with them, how could we fight alongside them?”

If such camaraderie existed in combat, where do the negative stereotypes come from? Setting aside racial prejudice, we can find one source in the operational relationship between American and ARVN forces. The Americans lifted ARVN morale but also created an overreliance on their military support. American advisers who were assigned to ARVN units had the sole authority to call in tactical air support under a heavy firefight. It makes sense that, over time, some ARVN officers might have become too dependent on the technological superiority of their American counterparts, and that some Americans might have concluded the ARVN officers lacked endurance and resiliency.

And of course, many American combat troops never encountered ARVN in the field, since the two usually performed very different strategic roles: The Americans handled combat operations while ARVN took pacification and territorial security. Even though American leaders in Saigon set up mobile training teams to work with ARVN units in 1967, the time they had to spend with each unit was rather limited.

Perhaps the biggest source of division and misunderstanding was the war itself. Soldiers from both sides fought amid immense social turmoil, political uncertainty and military pressure. Soldiers on both sides asked, Whose war is this? What are we fighting for? And it was often hard for Americans, confused and often demoralized, to differentiate between the communist guys supporting North Vietnam’s cause and the local guys who were supposed to be their allies.

For some Americans, the answers came readily and sympathetically. They believed the ARVN soldiers were good soldiers, fighting as hard as they could to defend their country. They were allies fighting global communism. “I would do the same thing for my countrymen on American soil,” one American veteran said. But others resented what they saw as an unequal burden. H. Norman Schwarzkopf, who fought in Vietnam and later led America and its allies in Operation Desert Storm, said: “It was their country, their battles. Eventually they would have to sustain it. I thought we should give them the skills, the confidence and the equipment they needed and encourage them to fight. Yet while our official position was that we were sending forces to help South Vietnamese fight, the truth was that more and more battles were being fought exclusively by Americans, rather than by United States and South Vietnamese units together.”

We know very little about our veterans, much less about the South Vietnamese veterans who fought alongside them.

We don’t know what their daily experiences were like, to be underarmed and often on the outer edge of the defenses, sometimes deployed as little more than cannon fodder. Some 254,250 South Vietnamese died in combat between 1960 and 1975, nearly five times the number of Americans, in a country of just 15 million people. We did not hear what they heard, we did not feel what they felt, we did not see what they saw on the forlorn battlefields. Who are we to judge the American veterans of the Vietnam War and their local allies whom they came to consider friends or brothers, either to romanticize or victimize, valorize or demonize them? And when they speak about their experiences, did we really listen?

Today the courage and sacrifice of the ARVN soldiers is all but forgotten — in Vietnam, it was erased by the victorious side; in America, by historical neglect. One of the few places they are commemorated is the Vietnam Veterans Memorial State Park in Angel Fire, N.M., which I visited over Memorial Day. Alongside bricks inscribed with the names of several veterans from Australia and South Korea, there are a few names of South Vietnamese veterans, not all of whom were able to arrive safely and adopt American soil as their second home.

One of those names belongs to my father. He was an ARVN soldier who died when I was 14. Even long after the war, I never heard him speak ill of the Americans, or the Communists. Standing beside his brick, I teared up, appreciating this sole place on earth that recognizes my father’s service — not in humiliation and hate, but in honor and love. This sacred place not only remembers and honors the sacrifice of those who served their countries from all sides, but it also calls for genuine reconciliation and lasting peace.

Studying the American soldiers’ perspective toward the ARVN, one of whom was my own father, and listening to the American veterans’ stories have been humbling and elevating parts of my academic journey. The American-ARVN relationship was highly complex, and a moving example of human experiences in an extreme situation. Their tale has been silenced, misunderstood, simplified and politicized for too long. We might think we get it, but we know very little about our veterans. We should and need to learn more. If veterans speak, we must listen.

Carie Uyen Nguyen is a doctoral student in military history at Texas Tech University.


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.