Một chút tình riêng về miền cao nguyên(Tây Nguyên,sơn cước) của ông “lấy trứng chọi đá” Tưởng Năng Lùi

“trứng chọi đá “

Một Chút Tình Riêng Về Miền Sơn Cước

Tưởng Năng Tiến

Chẳng hiểu em nói cái gì
nhìn môi một cụm xuân thì cũng thương
em xinh như đóa hướng dương
mọc hoang theo lối về buôn bản nghèo

” H’ Na Cô Gái Tây Nguyên”

Phan Ni Tan

Nguoi Thuong tai Khe Sanh 15-3-1996 - 2

Tác giả những câu thơ vừa dẫn, thi sĩ Phan Ni Tấn, là một người vô cùng may mắn. Vô số kẻ đã đến miền sơn cước nhưng có lẽ chỉ riêng mình ông ta có chuyện tình duyên với một cô gái tây nguyên,’xinh như một đóa hướng dương’, dù rằng hai bên hoàn toàn bất đồng ngôn ngữ.
Tôi biết một nhân vật khác, cũng đến miền cao nguyên, và đến rất sớm nhưng không có cái may mắn tương tự. Ðó là nhạc sĩ Văn Trí, người viết bản Hoài Thu – vào năm 1951. Ðà Lạt (ở thời điểm này, theo như lời đương sự mô tả) chỉ là một nơi ‘núi rừng thâm xuyên’, với những ‘bầy nai ngơ ngác’, và ‘lá vàng rơi đầy miên man…’ – rồi chấm hết! Tuyệt nhiên, không hề thấy bóng dáng bất cứ cô sơn nữ nào – kể cả những cô mà nhan sắc chỉ ở mức trung bình (hoặc dưới trung bình, chút đỉnh)!

Tôi sinh ra đời sau tác phẩm Hoài Thu, và dưới một ngôi sao (vô cùng) xấu. Dù đã sống hết một phần đời của mình ở miền cao, tôi chưa bao giờ được hân hạnh cầm tay (chứ đừng nói chi đến chuyện tương tư) chị em cô gái H’ Na – như nhà thơ Phan Ni Tấn. Tôi cũng không được cái vinh dự nhìn thấy nét hoang dại, trinh nguyên của một vùng đất mới – như nhạc sĩ Văn Trí. Sự hoang dã của cao nguyên Lâm Viên, với những kẻ sinh sau đẻ muộn như tôi, chỉ còn là dư âm – qua những câu chuyện kể, từ những người đến trước.

Tôi thích nhất là những chuyện về thú rừng, đại khái như: ‘ngày xưa’, ở Ðà Lạt, nhiều hôm học sinh đương lơn tơn đến trường thì ‘bỗng’ thấy một ‘ông cọp’ đang ngồi phơi nắng. Thế là cả lũ vội vàng nín thở, quay lưng, nhè nhẹ quay … về. Khỏe!

Sự gần gũi (giữa cọp và người) như thế – tiếc thay – không kéo dài luôn, và cũng không kéo dài lâu. Trong những ngày thơ ấu, mỗi sáng đi học, tôi đều cầu nguyện và van xin (Phật, Chúa,Thánh, Thần…các thứ) để được nhìn thấy vài con cọp bự – đang ngồi phơi nắng, giữa đường. Dù tôi rất chí tình, sự khẩn cầu này chưa bao giờ ứng nghiệm. Lòng tin của tôi vào các đấng thiêng liêng giảm sút không ngừng, kể từ thưở ấy.

Khi tôi được ‘bế’ lên Ðà Lạt, vào khoảng giữa thập niên 1950, thành phố này đã bị đô thị hóa.Voi, cọp, heo rừng, beo, gấu, khỉ, vượn, nhím, mển, gà rừng, công, trĩ, hươu, nai, trăn, rắn, sóc, chồn … không còn chung sống với người. Người Thượng (nói chung) và những cô sơn nữ (nói riêng) cũng không mấy khi xuất hiện trên đường phố. Họ ở cách xa, nơi miền sơn cước.

Văn hóa miền núi, tất nhiên, có nhiều nét dị biệt với miền xuôi; do đó, khi giao tiếp, đôi lúc, giữa người Thượng và người Kinh đã có những hiểu lầm – vô cùng đáng tiếc!

Tôi đã chứng kiến cảnh một chàng thanh niên từ miền sơn cước xuống đồng bằng, và bị ‘tiếng sét ái tình’ với một cô gái nơi thành thị. Chàng đứng ngẩn ngơ, chân không thể bước. Trước tình huống đó, có người buột miệng nói đùa:

– Người Kinh không có ‘bắt chồng’ như người Thượng đâu. Muốn ‘bắt vợ’ thì tuần trăng sau phải mang hai con trâu tới đây mới được.

Chàng trai miền núi mừng rỡ gật đầu, hăm hở quay về. Không hiểu phải qua bao nhiêu đường đất, và gặp bao nhiêu khó khăn ở thôn bản của mình nhưng đúng hẹn chàng trở lại. Nhác trông thấy người – dắt theo hai con trâu, như giao ước – cô gái vội vàng bỏ trốn! Chờ hoài không thấy cố nhân, chàng thẫn thờ mãi rồi lặng lẽ dắt trâu đi.

Một chuyện tình buồn thảm thiết như vậy mà khi kể xong vẫn có người cười. Nói thiệt, sao tôi cười … không nổi! Cách đùa cợt đó, ngay từ lúc ấu thơ, tôi đã cảm thấy có cái gì rất là không ổn. Sau này, cũng đã có lần tôi xuýt khóc khi tình cờ đọc một câu thơ trào phúng như sau :

Su hào rủng rỉnh Mán ngồi xe!
Tú Xương sinh năm 1870 và mất năm 1907. Bài thơ ‘Năm Mới’ có thể được viết từ cuối thế kỷ mười chín. Vào thời điểm này, khi mà mọi phương tiện truyền thông và giao thông đều vô cùng giới hạn nên cách nhìn lệch lạc của thi sĩ về một người đồng bào miền núi – tôi cố nghĩ – có thể thông cảm được.
Sang thế kỷ hai mươi mốt, tôi lại đọc được một ‘chuyện cười’ khác nữa – có liên quan đến những người dân sơn cước:

Người Thuưọng ở Khe Sanh - T. Nguyễn 1996

Người Thuưọng ở Khe Sanh – T. Nguyễn 1996

‘Khoảng năm 1977, một họa sĩ miền Nam là Ðỗ Toàn, tên thật là Ðoàn Văn Toàn, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Huế, giáo sư hội họa trường Phan Châu Trinh Ðà Nẵng trước năm 1975, trong chuyến viếng thăm Hà Hội, đã ghé thăm Văn Cao. Theo Ðỗ Toàn, nhà Văn Cao trống trơn, xơ xác, ở giữa treo một người thượng du cỡi một con ngựa chiến rất đẹp. Nhiều người Việt thường có định kiến bất công là tỏ ra xem khinh người miền núi, gọi họ là dân thiểu số hay dân ‘mọi’. Rất thắc mắc về một người ‘mọi’ cỡi trên lưng một con ngựa cao lớn oai phong, nên trong lần gặp gỡ thứ nhì, trong dịp ra Hà Nội đó, Ðỗ Toàn mới hỏi Văn Cao ý nghĩa thực sự của bức tranh là gì ? Văn Cao vừa cười vừa giải thích:’Thì cái nước Việt Nam mình hiện nay vậy đó. Một đất nước giàu có với một dân tộc anh hùng đang bị mấy thằng ‘mọi’ đè đầu đè cổ.’ Hiểu được thâm ý của Văn Cao, Ðỗ Toàn đáp lại:’Anh vẽ thế không sợ…’Mới ngang đây, Văn Cao ngắt lời:’Tôi chỉ nghĩ trong đầu thôi chứ có phổ biến thành bài viết giấy tờ gì đâu mà sợ?’ Ðỗ Toàn sửa lại:’Không, ý tôi muốn nói là anh không sợ người ‘mọi’ họ kiện anh hay sao khi so sánh họ với đám lãnh đạo?'( Trần Gia Phụng, ‘Di Ngôn Của Một Nghệ Sĩ Ða Dạng,’ Thế Kỷ 21, số tháng 11 năm 2000, trang 91).

Cũng theo lời chú thích của giáo sư Trần Gia Phụng, câu chuyện vừa dẫn được viết lại theo lời kể của họa sĩ Ðỗ Toàn. Cả Văn Cao và Ðỗ Toàn đều không còn nữa. Tôi không dám làm phiền đến sự an nghỉ của những người đã khuất, cũng không hề có ý nghi ngại sự khả tín và khả xác về tư liệu được cung cấp bởi giáo sư Trần Gia Phụng – một người viết sử cẩn thận và chu đáo. Tôi chỉ thầm mong đây là một thứ giai thoại, tương tự bao nhiêu giai thoại khác, chung quanh một nghệ sĩ đa tài – như Văn Cao, thế thôi.

Tự thâm tâm tôi không tin rằng tác giả của Suối Mơ, Bến Xuân, Mùa Xuân Ðầu Tiên … là người có nét ranh mãnh – như đã được mô tả qua mẫu đối thoại của câu chuyện vừa rồi:’Thì cái nước Việt Nam mình hiện tại là vậy đó. Một đất nước giầu có với một dân tộc anh hùng đang bị mấy thằng ‘mọi’ đè đầu đè cổ.’ Ðó không phải là ngôn ngữ của Văn Cao – theo như tôi biết về ông, với ít nhiều chủ quan, qua tác phẩm.

Mang so sánh một nhóm người cần cù, hiền hòa, chất phác, lương thiện như những người dân sơn cước ở Việt Nam với những kẻ đã mất hết lòng nhân (hiện đang nắm giữ quyền thống trị nơi đó) – dù chỉ với mục đích giễu cợt – là một sự xúc phạm và miệt thị nặng nề.’Ðịnh kiến bất công tỏ ra xem khinh người miền núi’ như thế – theo như nhận xét , đã dẫn, của giáo sư Trần Gia Phụng – không chỉ giới hạn trong vấn đề danh xưng, và người Thượng cũng không phải là nhóm người thiểu số duy nhất bị ‘xem khinh’ bởi người Kinh.

Hiện tại ở Việt Nam có đến hai triệu người gốc Hoa, năm trăm ngàn người Việt gốc Miên, năm chục ngàn người Chàm, và năm mươi nhóm người dân miền núi khác nhau à .Tổng cộng họ chiếm chín phần trăm dân số, theo như ghi nhận (rất khái quát) của Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2000. Những sắc dân miền núi bao gồm người Lô Lô, Mèo, Mán, Mường, Nhắng, Nùng, Thổ, Thái – ở thượng du Bắc Việt; và Vân Kiều, Kha Tu, Hré, Sédang, Bahnar, Djarai, Roglai, Rhadé, Koho, Mnong, Stiêng – ở cao nguyên Trung Việt [Cửu-Long- Giang Toan Ánh, Người Việt Ðất Việt , 1967 (DaiNamCo in lại tại Hoa Kỳ, và đã bỏ tên nhà xuất bản), 42 – 55] .

Ngoại trừ người Việt gốc Hoa, tất cả những nhóm dân còn lại đã có mặt ở Việt Nam tự ngàn xưa. Họ đều góp phần máu xương, công sức và chia sẻ tận tình mọi thăng trầm với vận mệnh của xứ sở này. Tuy vậy, họ đã không được người Việt – nhóm người chiếm chín tỉ lệ đa số – kính trọng và đối đãi một cách bình đẳng.

Ngay cả với người Hoa – nhóm người mới nhất, bị nhiều thành kiến và tai tiếng nhất (vì thái độ bị coi là ‘ký sinh’ của họ trong lãnh vực kinh tế) – chưa chắn phần lớn người Việt đã có sự hiểu biết đúng đắn và rõ ràng về họ. Xin đơn cử một thí dụ, về cộng đồng người Hoa ở Quảng Nam: ‘Nhóm người thứ ba đến Quảng Nam là con cháu của những người Trung Hoa buôn bán bằng đường biển, đến Quảng Nam lập nghiệp và nhất là những thần dân nhà Minh vượt biên, bỏ nước ra đi vì người Kim từ miền Bắc xuống lật đổ nhà Minh năm 1644, lập vương triều Mãn Thanh. Nhóm người Trung Hoa can đảm không kém những lưu dân Việt. Họ là những tinh hoa ái quốc Trung Hoa thuộc tầng lớp sĩ phu hay kinh doanh giàu có, rất nhiều kinh nghiệm tổ chức và làm ăn. Họ đến Quảng Nam và chọn nơi này làm quê hương với tinh thần xây dựng quê hương mới, chứ không phải là người khách trú buôn bán kiếm lời rồi bỏ đi. Họ đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng. Lúc đầu họ tập họp thành những làng Minh Hương, rồi dần về sau hoàn toàn hòa nhập vào xã hội Việt Nam.’ [Trần Gia Phụng, Quảng Nam Trong Lịch Sử (Toronto:Non Nước, 2000), 68].

Tôi tin rằng một nhóm người ‘Ba Tầu’ khác, theo chân họ Mạc đến Hà Tiên, vào cùng thời điểm trên, cũng có đầy đủ những đức tính đáng quí và ‘đã đóng góp không ít cho sự thịnh vượng Việt Nam’ – không khác gì những người Minh Hương ở Quảng Nam.

Rồi trong cơn quốc biến, tai họa đã là ‘cơ hội đồng đều’ cho mọi người dân sống ở Việt Nam – không phân biệt tuổi tác, phái tính, tôn giáo, hay sắc tộc… Người Việt gốc Hoa đã bị đối xử tàn tệ ra sao là chuyện mà cả thế giới đã có lúc phải chau mày. Giả sử họ chỉ là khách trú chăng nữa, người Việt vẫn có lỗi như thường khi đã để cho họ bị cướp bóc trắng trợn và xua đuổi ngay tại nhà mình.

‘Mùa hè năm 1978, công an biên phòng của Việt cộng cho thiết lập những trạm dọc theo những tỉnh bờ biển miền Nam để đóng tầu và đẩy người Hoa ra biển, sau khi thu lệ phí cắt cổ bằng những cây vàng, trong đó cũng có nhiều người Việt giả dạng Hoa Kiều tìm cách vượt biên. Với tiến trình hai năm trời như thế, người ta ghi nhận ít nhất có 250, 000 người bị Cộng Sản Việt Nam tống ra biển, trong số này ít nhất có từ 30 đến 40,000 người chết mất xác ngoài biển khơi’ [ Nayan Chanda, Brothers Enemy. Trans. Phạm Quốc Bảo – Huynh Ðệ Tương Tàn (California: Thế Giới, 1991), 195-196].

Dù vậy, nghĩ cho cùng, những người Việt gốc Hoa vẫn còn có thể được coi là… may mắn! Họ còn có phương tiện và có chỗ để đi. Những những sắc dân khác, phần lớn, không có cái may mắn tối thiểu như thế – nhất là những kẻ nơi miền sơn cước. Họ ở quá xa mặt biển, và quá nghèo để lo liệu được cho một chuyến đi – đắt giá. Và cho dù có cơ hội chăng nữa, chưa chắc những người miền núi đã lựa chọn chuyện từ bỏ quê hương – một cách dễ dàng – như những kẻ ở miền xuôi!

Trong số những người đã ra đi, mấy ai còn bận tâm đến số phận của kẻ còn ở lại – trên những bản làng heo hút – nơi chốn cũ? Nhiều lắm thiên hạ cũng chỉ ‘ráng’ nhớ đến Huế, đến Sài Gòn, Hà Nội, Quảng Nam, Nha Trang hay Biên Hòa gì đó … là cùng.

Vì sinh trưởng ở cao nguyên nên dù ‘chưa’ có tình ý gì với chị em cô gái H’ Na, đôi lúc, tôi cũng thoáng bâng khuâng khi chợt nhớ đến những cô gái Tây Nguyên? Không biết chuyện đời sống, chồng con, nhan sắc của ‘cố nhân’ giờ ra sao há ?

‘ Tình trạng trẻ em suy dinh dưỡng và bệnh tật ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hoàng Liên sơn, Gia Lai – Kômtum, Ðắc Lắc, Lâm Ðồng và Sông Bé thì vô cùng báo động, nhất là các trẻ em sắc tộc miền núi. Riêng tại tỉnh Ðắc Lắc, hơn 54% trẻ em bị suy dinh dưỡng, trong đó 32% suy dinh dưỡng nặng. Trẻ em các sắc tộc thiểu số cao nguyên miền Bắc thỉnh thoảng có nhận đồ cứu trợ từ chính quyền nhưng phần lớn nặng về phô trương hơn là cụ thể (…). Khi hết lương thực, các em nhỏ sắc tộc phải cùng cha mẹ đào củ rừng mà ăn cầm đói, phần lớn không sống hết tuổi vị thành niên vì thiếu ăn và bệnh tật. Nhiều bộ lạc đang có nguy cơ diệt chủng nếu tình trạng thiếu đói cứ kéo dài, tương lai của họ rất bấp bênh. (Nguyễn Văn Huy, ‘Nhân Ngày Quốc Tế Thiếu Nhi: Viết Về Trẻ Em Bất Hạnh’, Thông Luận số tháng 8 năm 94).

Và đây là báo cáo mới nhất về đời sống của những người dân sơn cước ở Việt Nam, từ một người ngoại quốc :’Lợi tức bình quân của một người Thượng là 150 Francs (23 USD) một năm, trong khi đó giá một kí lô gạo là 1,5 Franc (à). Hiếm thấy một người thượng nào mà không mắc những chứng bệnh nhiệt đới: sốt rét, ho lao, hay phong cùi. Cũng hiếm thấy trẻ em Thượng nào đến trường học. Nạn mù chữ chiếm 80 % dân số Thượng trong khi tỉ lệ mù chữ trên toàn quốc là 15% (Michel Tauriac, ‘C’es Mois cu’on assassine,’ Paris Match, 17-Feb. 2000).

Riêng trong lãnh vực giáo dục, báo Nhân Dân (số ra ngày 9 tháng 12 năm 2000) đã tổng kết và ghi lại vài dữ kiện vô cùng thê thảm – về số lượng học sinh dân tộc thiểu số được tuyển chọn vào đại học trong năm :’ Các dân tộc Ba Na, Cà Dong, Chu Ru, Cà Tu, Hà Nhì, Xê Ðăng, Thổ Chỉ có từ hai đến ba học sinh đạt tiêu chuẩn. Ðáng chú ý, mỗi dân tộc: Cơ Lao, Xtiêng, Giáy, Cơ-ho, Lào, La Chí chỉ có một học sinh đủ tiêu chuẩn cử tuyển vào học các trường đại học, cao đẳng.’ Tôi hy vọng báo Nhân Dân in lộn. Nếu những con số vừa nêu là số lượng những đại biểu quốc hội của đồng bào sắc tộc thì đỡ thảm thiết hơn nhiều!

Dù mỗi người chỉ được sống với hai Mỹ Kim một tháng, và mỗi sắc dân chỉ có một học sinh (đại diện) vào đại học, ‘nguy cơ diệt chủng’ của những bộ lạc ở Việt Nam (chắc chắn) sẽ đến sau sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản ở xứ này. Và đó là điều may mắn an ủi duy nhất mà dân tộc Việt còn có được khi nhìn về tương lai.

Mai hậu, hy vọng người Việt (thuộc mọi thành phần dân tộc) sẽ biết cách thu xếp để sống với nhau một cách ổn thỏa hơn và tử tế hơn. Nếu không, mọi cố gắng để hủy bỏ chế độ hiện hành đều vô ích và vô nghĩa.

Tôi tin rằng rất ít người Việt phủ nhận chủ nghĩa cộng sản chỉ vì họ … ‘thuộc phe quốc gia’ hay vì những lý do hời hợt tương tự. Sở dĩ chủ nghĩa này phải bị gạt bỏ vì nó là nguyên nhân của lầm than, dốt nát, kỳ thị, bất công, dối trá, khủng bố, áp bức…Khi nó đã bị loại trừ thì tất cả những thuộc tính bệnh hoạn vừa nêu cũng không có lý do gì để tồn tại nữa.

‘ Khi bọn bành trướng Bắc Kinh tràn sang hồi năm 1979, một bộ phận không nhỏ dân tộc thiểu số, sống ở vùng biên giới, đã đồng loạt ngả theo, làm tay sai cho ngoại bang. Ðó chính là hậu quả của chính sách sai lầm trong lãnh vực sắc tộc [Lý Hồng Xuân, Nhận Diện Chân Dung NhàVăn, (California:Văn Nghệ 2000),177]. Chắc chắn không ai ‘ làm tay sai cho ngoại bang’ nếu được đối xử một cách bình đẳng, và không bị coi thường như ‘những công dân hạng bét’ trên quê hương của chính mình.

Họa cộng sản sẽ và sắp đi vào dĩ vãng. Một trong những điều phải bận tâm trong những ngày tháng tới của dân tộc Việt là ‘tình hữu nghị’ với những lân bang. Ngoài bờ biển ra, phần biên giới còn lại của Việt Nam đều là nơi cư ngụ của những dân tộc thiểu số – tự ngàn xưa. Như thế, tương nhượng và tương kính không phải chỉ là một quan niệm sống nhân bản mà còn là một thái độ khôn ngoan (tối thiểu) để sinh tồn.

Sự tương nhượng và tương kính này cũng không chỉ cần thiết trong tương giao giữa ‘kinh và thượng’ mà còn trong quan hệợ giữa ‘miền này với miền nọ’, ‘đạo này với đạo kia’ nữa. Thế giới hôm nay không còn đất sống cho những dân tộc có đầu óc hẹp hòi . Bỏ những thành kiến mẹ rượt đó đi, mấy Tám!

TƯỞNG NĂNG TIẾN

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.