(cố) Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông phản chiến ?!-Hoàng Thị Quỳnh Hoa

NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG PHẢN CHIẾN ?!

Hoàng Thị Quỳnh Hoa

         Gần đây tình cờ đọc một bài bình luận trên mạng cho rằng cố Nhạc Sĩ Đại Tá Nguyễn Văn Đông đã viết nhạc phản chiến. Tôi ngạc nhiên và nghĩ là không hợp lý. Nếu sinh vào thời bình thì Nguyễn Văn Đông dĩ nhiên chỉ là một nghệ sĩ thuần túy, một nhạc sĩ tài ba, hăng say với nền âm nhạc Việt Nam, cả tân lẫn cựu, và dấn thân vào thế giới âm nhạc với tất cả tâm hồn. Nhưng ông đã sinh vào thời loạn và con người ông cũng là một con người Việt Nam thuần túy, yêu nước với tất cả tâm hồn nên ông chấp nhận làm trai trước nhất phải góp phần bảo vệ quê hương đất nước. Ông hồn nhiên trưởng thành với ý niệm giã từ áo trắng thư sinh làm tròn bổn phận thân trai thời chiến là chuyện bình thường. Khi ông tự ý vào trường Thiếu Sinh Quân là ông đã chọn cho mình một con đường đi rất sớm. Đến tuổi trưởng thành dĩ nhiên là ông theo đuổi binh nghiệp, tham dự nhiều khóa đào tạo để trở thành một sĩ quan ưu tú. Nhưng tâm hồn nghệ sĩ đồng thời cũng bừng bừng trỗi dậy giục giã ông sáng tác những bài ca bất hủ về người lính thời chiến, người yêu của lính, người vợ lính, người mẹ lính, v.v.



Có bài viết nhận xét rằng chỉ sau khi ông nằm xuống, đại chúng mới biết đến ông nhiều hơn để thương tiếc ông nhiều hơn. Mà cũng đúng với cá nhân tôi. Ngày trước, tôi chỉ biết hai bài hát Chiều Mưa Biên GiớiMấy Dặm Sơn Khê hay tuyệt vời mà không hề biết chúng được sáng tác trong trường hợp nào, cũng không hề biết ông đã sáng tác rất nhiều bài, nhiều thể loại. Có lẽ vì tôi sống xa Viêt Nam quá sớm, không hề được nghe một băng đĩa nào của ông. Sau khi ông mất, tôi ngạc nhiên thấy số lượng bài viết tưởng niệm ông quá nhiều, về con người, về binh nghiệp và về những dòng nhạc của ông.


Đọc tài liệu về người nhạc sĩ đại tá này, tôi càng yêu mến ông hơn, kính trọng ông hơn. Ai đã đọc mấy dòng tâm sự của ông mà không cảm động nỗi lòng của một sĩ quan vừa vào đời đã phải chạm mặt với một thực tế kinh hoàng nhưng cũng gợi hứng cho ông viết bản nhạc lính đầu tiên. Ông ghi kỷ niệm đầu đời này:

Vào năm 1956, đơn vị tôi đóng quân ở Chiến Khu Đồng Tháp Mười, được xem là mặt trận tiền tiêu nóng bỏng vào thời bấy giờ. Khi ấy, tôi mang cấp bực Trung Úy, mới 24 tuổi đời, còn bạch diện thư sinh. Tuy hồn vẫn còn xanh nhưng tâm hồn đã nung trong lửa chín quân trường… Trước ba ngày Tết, tôi được lệnh lên chốn tiền tiêu, tăng cường cho cứ điểm, mang theo chiếc ba-lô với chút hành trang lương khô, cùng tấm ảnh của người em gái hậu phương… Tiền đồn cuối năm, đêm 30 Tết, trời tối đen như mực, phút giao thừa lạnh lẽo hắt hiu, không bánh chưng xanh, không hương khói gia đình… Thay cho lời chúc Tết là tiếng kẻng đánh cầm canh và tiếng hô mật khẩu lên phiên gác. Vào đúng thời điểm giao thừa, ngọn đèn bão dưới chiến hào thắp sáng lên như đón chào năm mới thì cũng là lúc những tràng súng liên thanh nổ rền từ chốt tiền tiêu. Khi ấy vào buổi tinh mơ của trời đất giao hòa, vạn vật như hòa quyện vào trong tôi, có hồn thiêng của sông núi, có khí phách của tiền nhân. Tôi nghe tâm hồn nghệ sĩ của mình rộn lên những xúc cảm lạ thường, làm nảy lên những cung bậc đầu tiên của bài Phiên Gác Đêm Xuân:


Đón giao thừa một phiên gác đêm,
Chào xuân đến súng xa vang rền.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng,
Ngỡ rằng pháo tung bay,
Ngờ đâu hoa lá rơi…


Rồi mơ ước rất đời thường:


Ngồi ngắm mấy nóc chòi canh, mơ rằng đây mái nhà tranh
Mà ước chiếc bánh ngày xuân, cùng hương khói vương niềm thương…


Bài Phiên Gác Đêm Xuân được ra đời trong hoàn cảnh như thế, cách đây nửa thế kỷ, đánh dấu một chuỗi sáng tác của tôi về đời lính như: Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, Sắc Hoa Màu Nhớ , Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp, Xin Đừng Trách Anh, Lá Thư Người Lính Chiến, Anh Trước Tôi Sau, Lời Giã Biệt,…


Bài hát ở thể loại nào cũng thấm vào lòng người, cũng khiến người nghe xúc động, nhất là những bài hát về người lính, đời lính, đời của người mẹ lính, người vợ lính,…


Sau khi nghe qua mấy bài hát về lính, về chiến tranh, tôi chợt nhận ra rằng người nhạc sĩ, tuy cũng là lính, không hề có ý nghĩ thù hận những người phía bên kia, những người đã gây ra chinh chiến thê lương ngay trên đất nước mình. Ông chỉ nói đến nghĩa vụ người trai thời chiến, anh trước tôi sau, ai cũng phải lên đường, hàng hàng lớp lớp dành lấy quê hương. Không một phút nào ông tỏ lòng nản chí hay than vãn mà luôn “chờ mùa xuân tươi sang”, nhưng buồn thay những “mùa thắm chưa sang.” Nhưng ông vẫn tin tưởng, vẫn ngâm nga: “Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông, kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa.” (Mấy Dặm Sơn Khê).


Đối với con người Nguyễn Văn Đông thì chỉ có một Viêt Nam với “đường vui Bắc Nam chung một lối,” với “sông Hồng, sông Cửu nối sông Hương.” (Trái Tim Việt Nam). Ông nhắc nhở Bắc hay Nam đều là con cháu vua Hùng, với bao đấng anh hào cùng anh thư thắng tham tàn, giữ an đất nước (Việt Nam Quê Hương Lộng Lẫy). Ông nhắc nhở phải nhớ lịch sử oai hùng của tổ tiên:


Anh nhớ gì không anh?
Giữa thanh bình hay lúc gian nguy.
Xin hết lòng chung lo bản dư đồ cha ông nhọc khó.
Trên bước đường tương lai,
Kết tâm đồng một dải non sông.
Bắc Nam cùng dòng giống Tiên Long.
Trời Đông một cõi núi sông Việt Nam.

(Anh).

Với người ở hải ngoại phương xa ông tha thiết mời về:


Người về đây nối câu tâm đồng
…….
Về cho thấy con thuyền nước Nam,
Đi vào mùa xuân mới sang.
Xa rồi, ngày ấy ly tan.

Và ông vững lòng tin tưởng rồi nước Việt cũng sẽ:
Anh dũng oai hùng chen chân thế giới.

(Hải Ngoại Thương Ca)

Trong gần cả trăm nhạc phẩm, tôi chỉ thấy Nguyễn Văn Đông dùng chữ “giặc” hai lần trong một câu trong bài Mùa Sao Sáng: “Giặc tràn về quê hương tôi, giặc diệt niềm tin Ki-tô” dường như ông muốn nói cộng sản là giặc, là một lũ người điên theo một ý thức hệ phi nhân muốn diệt trừ tôn giáo, đã đẩy cả mấy thế hệ thanh thiếu niên phải “sinh Bắc tử Nam” như thi sĩ Tô Thùy Yên nói đến trong bài thơ Chiều Qua Phá Tam Giang. Những người lính của chiến tuyến bên kia cũng là nạn nhân nên những bài hát lính của những nhạc sĩ khác ở miền Nam cũng không hề thấy có lời nào hận thù người lính miền Bắc. “Giặc” này thật quả khó dẹp nên, mặc dù không theo đạo Chúa, Nguyễn Văn Đông cũng thành tâm cầu nguyện:


Chiến cuộc mấy mươi năm
Mệnh trời bắt gian truân
Lạy Chúa chinh chiến lâu rồi
Cho mùa Giáng Sinh này đến Thanh Bình, Chúa ơi!
Lạy Chúa, chinh chiến lâu rồi
Cho người núi sông rũ áo tang bồng…

(Xin Chúa Thấu Lòng Con)

Ông dâng lời cầu nguyện lên cả Chúa Trời:


Nguyện cầu xin Chúa Trời
Vinh hiển trên muôn loài
Xua màn đêm tăm tối trên trần thế
Niềm tin nới Chúa đời đời
Được trông thế giới tuyệt vời
Không còn sầu chinh chiến
Thế giới thần tiên!

(Đêm Thánh Huy Hoàng)

Ông cũng không quên cầu lạy cả Mẹ Maria:


Quỳ lạy mẹ Maria, lòng mẹ từ bi bao la
Tấu khúc nhạc lên ơn trên ban cho nhà Nam…
Lạy mẹ sầu bi ban ơn người Việt càng thương nhau hơn…

(Mùa Sao Sáng)

Sau 10 năm lao tù cộng sản, ông được trả về gia đình mang theo nhiều chứng bệnh trầm trọng, tinh thần và thể xác bị suy sụp nhưng ông vẫn chọn sống ở quê nhà và ngậm ngùi: “Tôi chỉ tiếc đời người ngắn ngủi mà tôi đã phí phạm quãng thời gian dài 30 năm. Thật lấy làm tiếc.” (Đôi Dòng Tâm Sự)


Quả vậy, một con người năng động, nhiệt tình như ông, lúc nào cũng bận rộn với tay súng tay đàn, mà trong 30 năm không thi thố được tài năng, phải sống âm thầm trong bóng tối thì quả thật là một điều quá xót xa, quá đáng tiếc, quá đau lòng. Nhưng ông thật đáng kính phục, ông không phí phạm thời gian vì ông không để tinh thần suy sụp mãi mà đã vươn lên, gởi gắm lòng mình trong nhạc phẩm Trái Tim Việt Nam, nói lên niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng cho Việt Nam, một ngày mai thanh bình mà mọi người cùng quay về như chim về tổ ấm:


Ngày vui cánh chim về tổ ấm
Bay tìm hương lửa chiếc nôi xưa
Đường đi dù cách xa vạn lý
Vì tình yêu hai tiếng mẹ Việt Nam…
Anh hỡi anh trong niềm chung mơ ước
Anh có nghe rạo rực ở tâm hồn
Một nguồn tin muôn đời không suy biến
Đất quê người, trái tim Việt Nam…


Và ông tin tưởng có một ngày Việt Nam sẽ hiên ngang cùng thế giới:


Anh hỡi anh trong niềm chung mơ ước
Anh có nghe rạo rực ở tâm hồn
Một Việt Nam ngang tầm cao thế giới
Để muôn đời ngẩng cao đầu đi.
Lòng con nén hương dâng tổ quốc
Muôn đời nguồn suối hướng ra khơi
Cầu xin hai tiếng trên hoàn vũ
Việt Nam ngàn thuở quê hương sáng ngời.



Một thính giả, năm 2018, sau khi nghe bài Trái Tim Việt Nam do Tâm Hảo trình bày đã ghi trên mạng với tên Anh Bùi: “Cả tâm hồn ông ấy dành cho quê hương VN mình nghe mà thấy lòng thổn thức. Trái tim ông ấy sống mãi trong lòng mọi người. Ông ấy như một vị Thánh Nhân, yêu quê hương bằng cả trái tim mình. I love him!

Tôi tin chắc Nguyễn Văn Đông của chúng ta không bao giờ nghĩ ông đã làm nhạc phản chiến mặc dù hai bài Chiều Mưa Biên GiớiMấy Dặm Sơn Khê bị Bộ Thông Tin ra lệnh cấm phổ biến năm 1961 nhưng hai bài ấy được sáng tác từ 5 năm trước và không thấy ảnh hưởng gì đến tinh thần của lính. Chính ông biên tặng bài Chiều Mưa Biên Giới cho lính. Trên bản nhạc ông đề: “Kính tặng các chiến sĩ một nắng hai sương lao mình nới tiền tuyến, dành mình cho đất nước và các bạn thanh niên sắp khoác chiến y. Kỷ niệm Đồng Tháp Mười (Biên giới Việt-Cambot 1956)”.

Tôi nghĩ ông sống thật với lòng mình, chỉ muốn nói lên những xúc cảm chân thành từ trái tim của người lính, là “người đi giúp nước không màng danh chi, cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy…” (Hàng Hàng Lớp Lớp) và Chu Tất Tiến, trong bài tưởng niệm ” Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông Và Những Âm Điệu Quê Hương” đã hiểu ông khi viết:

Nghe nhạc Nguyễn Văn Đông người cảm nghiệm luôn thấy thấp thoáng bóng những anh hùng, hãnh diện với nhiệm vụ giúp nước của mình… Bài Mấy Dặm Sơn Khê là một bức tranh tuyệt đẹp:


Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng,
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê
Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông,
Kết trong lòng thế hệ, nghìn sau nối nghìn xưa…


Thật lãng mạn, thật phong sương và thật anh hùng.”

Trước khi vĩnh viễn ra đi, ông còn muốn nhắn nhủ lần cuối những người cùng chí hướng ở phương xa trong sáng tác Việt Nam Quê Hương Lộng Lẫy thì những năm dài sống âm thầm không hẳn là đã phí phạm như ông từng ngậm ngùi cho thân phận:


Từ tim núi sông Việt Nam quê hương
Gởi tâm tình này ra muôn phương…
Chào mùa Xuân tình yêu Việt Nam
Hãy khép lại tỵ hiềm hẹp hòi
Để thấy lại TÌNH QUÊ HƯƠNG LỘNG
LẪY .

Trước khi dừng bút, tôi xin nghiêng mình trước anh linh của một người con Việt Nam đã sống một cuộc đời hào hùng, đã dâng hiến cho quê hương tất cả tấm lòng mình và cầu mong ông được yên nghỉ ở một cõi giới bình an hơn. Tôi cũng không thể không nghĩ rằng tấm ảnh của người em gái hậu phương mà chàng Trung Uý 24 tuổi mang theo trong chiếc ba-lô lên đường “bước nhẹ tênh vào cuộc chiến đầu đời” là tấm ảnh của một Cô Nữ Sinh Gia Long, đã gợi nhớ cho ông sáng tác bài hát cùng tên!


Hoàng Thị Quỳnh Hoa

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.