Cội nguồn ‘dân tộc Việt “-Hà Văn Thuỳ

Cội nguồn tộc Việt

ĐHKT Đào Duy An’s phê tê bốc


Xóm Gà, 23/8/2019;


Như một xui định của tiền kiếp, cứ miên man về chủ để: “Người Việt, tiếng Việt và đất Việt”. Truyền ngôn tổ tiên là lịch sử 4 ngàn năm. Hỏi người trước 4 ngàn năm là tính như thế nào, người trước trả lời lơ mơ. Tạp chí của Hãng Hàng không Việt Nam, bài tiếng Anh, lại ghi rõ là lịch sử Việt Nam chỉ bắt đầu 700 năm trước Công nguyên. Hoang mang quá.
Khi chưa tìm được cội nguồn Việt tộc thì lúc ấy chưa xong trọng trách…
Ai quan tâm cội nguồn thì mời đọc tiếp bài dưới đây của một con dân nước Việt.
Trân trọng!

Đào Duy An


XÓA BỎ HUYỀN THOẠI “NHÀ NƯỚC VĂN LANG 2700 NĂM”


Hà Văn Thùy

Hà Văn Thùy, sinh năm 1944 tại Thái Bình. Ông là nhà văn, nhà báo, nhà phê bình văn học.

Năm 1992 khi Phó Giáo sư Lê Văn Lan thay mặt ngành Sử công bố tại diễn đàn Quốc hội rằng: “Việt Nam có 2.700 năm lịch sử từ khi thành lập nhà nước Văn Lang,” tôi đã nghi ngờ. Hai chứng cứ mà ông giáo sư đưa ra đều không thuyết phục. Khảo cổ thời Đông Sơn không tìm được kinh đô của Văn Lang. Không kinh đô không thể thành nhà nước! Chứng cứ thứ hai là cuốn Việt sử lược lại càng ít giá trị vì là cuốn sách khuyết danh. Thêm nữa, việc sách nói về thành lập Văn Lang hoàn toàn thiếu cơ sở. Người làm sử nghiêm túc không bao giờ viết vậy! Nghi ngờ tôi để trong lòng, nay có duyên nên giở lại.
Trong cuốn Lịch sử Việt Nam tập I, NXB Giáo dục, 2012, trang 55, Giáo sư Phan Huy Lê viết: “Vào giai đoạn cuối của văn hóa Hòa Bình, cách ngày nay khoảng 6000-5000 năm, mực nước biển Đông không ngừng dâng cao, đã dần dần tạo ra một dải đồng bằng ven biển với nhiều nguồn sản vật tự nhiên của hệ thống đầm lầy, vũng, vịnh và cửa sông suối dọc bờ biển nước ta. Lúc này các nhóm dân cư tiền sử Hòa Bình vốn cư trú lâu đời tại các vùng núi đá vôi từ Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An theo các dòng sông Mã, sông Lam dần dần tiến về khai thác các nguồn tài nguyên mới ở vùng ven biển. Và chính họ là chủ nhân đầu tiên của các đồng bằng ven biển đang hình thành.”
Quả tình không hiểu vì sao Giáo sư lại viết mâu thuẫn như vậy? Nước biển dâng, đất bị mất thì làm sao tạo ra dải đồng bằng ven biển? Khi nước biển dâng cao con người không bỏ chạy vì lụt lội mà lại kéo xuống khai thác tài nguyên biển? Tài nguyên gì đây? Phải chăng đóng thuyền đánh bắt nguồn cá tôm vô tận hay khai thác rau câu, sò, hến? Nói như Giáo sư Lê, nay nóng lên toàn cầu, nước biển dâng cao, dân tình tha hồ sung sướng, kéo về ven biển khai thác tài nguyên?
Không nuốt nổi ý tưởng tréo ngoe của vị Giáo sư, tôi đành tìm tài liệu đối chiếu. May mắn đọc được những dòng này: “Các nghiên cứu trong khu vực và lân cận từ trước tới nay đều cho rằng mực nước biển dâng cao nhất trong Holocen tại thời điểm khoảng 6000 năm BP và đạt độ cao khoảng 3-4 m trên mực biển trung bình hiện tại. Sau 6000 năm BP mực nước biển bắt đầu hạ xuống [8, 9, 13, 14, 19]. Quá trình hạ thấp mực nước biển trong Holocen giữa-muộn tại vùng nghiên cứu là một quá trình dao động tắt dần theo hình sin [1]. Sự dao động tắt dần theo hình sin của mực nước biển đã được một số tác giả đề cập đến với quan điểm cho rằng tại thời điểm khoảng 2.500-2.000 năm BP mực nước biển hạ thấp hơn mực biển ngày nay và sau đó mực nước biển lại dâng lên, tiến vào đồng bằng [16]. Có lẽ đây chỉ là những đợt biển lấn ngắn trong xu thế hạ thấp của mực nước biển mà thôi.” DOÃN ĐÌNH LÂM. TIẾN HOÁ TRẦM TÍCH HOLOCEN CHÂU THỔ SÔNG HỒNG…Viện Địa chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam http://www.idm.gov.vn/nguon_luc/Xuat_ban/2005/A288/a7.htm
Phải chăng Giáo sư Lê đã đọc ở đâu đó đoạn văn gần như thế này. Nhưng không hiểu sao Giáo sư lại trích phần đầu mà quên phần sau. Trong khi ý nghĩa của phần sau mới quyết định: 6000 năm trước, nước biển không chỉ dâng mà còn cao hơn mức hôm nay 3-4 mét. Với nước dâng như vậy thì người vốn sống gần biển cũng “bỏ của chạy lấy người” làm gì có chuyện người kéo về khai thác?! Không chỉ vậy, “khoảng 2.500-2.000 năm BP mực nước biển hạ thấp hơn mực biển ngày nay và sau đó mực nước biển lại dâng lên, tiến vào đồng bằng.” Điều này có nghĩa là, khoảng 2700 năm trước, đồng bằng sông Hồng còn ngập nước. Làm sao mà lập quốc ở đây? Phải chăng, dân Văn Lang vì nóng lòng có nước nên sắm thúng sắm mành ra biển lập quốc, để lại gia sản cho con cháu? Phải chăng dân chợ nổi Cái Răng hôm nay họp chợ trên sông là tiếp nối truyền thống Văn Lang quốc xưa?
Thêm tài liệu này của Tiến sỹ Vũ Đức Liêm: Lịch sử khai thác tự nhiên ở châu thổ sông Hồng (http://tiasang.com.vn/…/Lich-su-khai-thac-tu-nhien-o-chau-t…): “Cấu trúc cư dân của vùng cho thấy rõ cuộc di cư trong hai nghìn năm qua. Ở thiên niên kỷ đầu tiên là từ vùng trung du xuống khu vực thấp dọc hai bên bờ sông và sang phía đông: Hải Dương, Quảng Ninh. Trong thiên niên kỷ thứ hai là vào các vùng trũng và duyên hải đông, đông nam: Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định. Bản đồ phân bố các di chỉ khảo cổ và lịch sử từ thế kỷ I-đến thế kỷ X dưới đây cho thấy sự chuyển dịch này. Ở đầu công nguyên, các vùng cư trú dày đặc thuộc về vùng trung tâm như Hà Nội, Bắc Ninh, Phú Thọ, Vĩnh Phúc; trong khi các khu vực ở phía nam như Thái Bình, Nam Định dân cư khá phân tán.”
Để khỏi rậm lời, xin bạn đọc so sánh hai bản đồ, một của học giả Nhật và một là nước Văn Lang giả tưởng. Nếu chồng lên nhau sẽ thấy cái gọi là Văn Lang quốc 2700 năm trước nằm dưới một biển nước!

Bản đồ di chỉ khảo cổ và dấu tích lịch sử niên đại thế kỷ I-X ở châu thổ sông Hồng (Nishimura, M. 2005). (Hình 1) Bản đồ nước Văn Lang giả tưởng. (Hình 2)
Nhìn bản đồ bên trái sẽ thấy, đến thế kỷ thứ ba, đồng bằng sông Hồng gần như là khoảng trắng về khảo cổ, chỉ có vài di tích hiếm hoi. Phải chăng thời điểm này, do nước rút, đồng bằng hình thành, con người bắt đầu chiếm lĩnh vùng đất mới? Điều này có thể hiểu được vì 1000 năm trước, đây còn là vụng biển.
Phủ định nước Văn Lang 2700 năm cũng có nghĩa là phủ nhận quan niệm đồng bằng sông Hồng là nơi phát tích của người Việt. Đúng như chúng tôi đã nhiều lần chứng minh: Nơi phát tích của dân tộc Việt là vùng đất Thanh-Nghệ-Tĩnh

Một cách lý giải khác về Vương quốc Phù Nam

Tác giả: Hà Văn Thùy

Cho đến nay đã có nhiều khảo cứu về vương quốc Phù Nam. Bài viết “Phù Nam: Huyền thoại và những vấn đề lịch sử” của Tiến sỹ Vũ Đức Liêm là một cống hiến mới đáng trân trọng. Tuy nhiên, ngay ở đây chúng tôi cũng thấy tác giả chưa tiếp cận chân lý bởi lẽ chưa giải quyết được vấn đề căn cốt: chủ nhân của Phù Nam là ai? Có thể là như tác giả nói: người Austranesian từ biển vào kết hợp với người bản địa tạo thành dân cư Phù Nam. Nhưng một khi câu hỏi: người Austranesian có nguồn gốc thế nào và người bản địa là ai chưa được trả lời thì mọi phát biểu về Phù Nam cũng chỉ là xây lâu đài trên cát! Bởi lẽ lịch sử là hoạt động xã hội của cộng đồng người diễn ra trong quá khứ, một khi chưa biết cộng đồng đó là ai, có nguồn gốc ra sao và quá trình hình thành thế nào để hiện diện ở thời điểm khảo cứu thì mọi điều nói về họ đều không có cơ sở. Do vậy, trước khi khảo cứu về Phù Nam phải giải quyết vấn đề tiên quyết: người Phù Nam là ai? Cho đến cuối thế kỷ trước, trả lời những câu hỏi trên là bất khả. Nhưng sang thế kỷ này những khám phá mới của di truyền học cho câu trả lời chính xác.

Bài viết này góp phần đưa ra một cách lý giải.

I. Ai là chủ nhân vương quốc Phù Nam?

Nói về nguồn gốc của người Austronesian, những người từ biển vào góp phần làm nên dân cư Phù Nam, TS Vũ Đức Liêm viết:

Lịch sử của Phù Nam có lẽ nên được kể từ 5000-7000 năm trước. Bắt đầu với cuộc di cư của các cư dân nói tiếng Nam Đảo (Austronesians) từ đảo Đài Loan xuống Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Họ mang theo lúa nước, lợn, dừa, khoai lang, và kỹ nghệ làm gốm, đóng tàu… qua các hòn đảo, duyên hải trên Biển Đông (Peter Bellwood 2006, 2007, 2014, 2017; Solheim 2007). Cuộc du hành này là một trong những hiện tượng kỳ vĩ của nhân loại, đưa Austronesians thành nhóm ngôn ngữ trải rộng nhất trong lịch sử thời tiền hiện đại, băng qua 1/3 địa cầu, kết nối hàng chục nghìn hòn đảo trải dài từ Nhật Bản đến đảo Madagascar và quần đảo Tây Thái Bình Dương.

Hơn chục năm trước, chúng tôi đã đọc những tác giả mà ông dẫn và có lúc đưa vào tài liệu tham khảo của mình. Nhưng sau đó nhận thấy những tác giả trên chưa có cái nhìn toàn diện, đạt tới tận cùng của sự hình thành con người và văn hóa phương Đông, chúng tôi đã bỏ qua.

Từ những khảo cứu di truyền học dân cư châu Á kết hợp với cổ nhân học, chúng tôi phát hiện, 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens từ châu Phi di cư tới Việt Nam. Tại đây hai đại chủng người tiền sử Australoid và Mongoloid hòa huyết cho ra hai chủng người Việt cổ là Indonesian và Melanesian cùng mang mã di truyền Australoid. 50.000 năm trước đây, người từ Việt Nam lan tỏa ra các đảo Đông Nam Á, châu Úc và Ấn Độ. 40.000 năm trước, người Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục.[1] [2]

7000 năm trước, tại văn hóa Ngưỡng Thiều Nam Hoàng Hà, người Việt Indonesian gặp gỡ hòa huyết với người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid) sống du mục ở Bắc Hoàng Hà, sinh ra chủng người Việt mang mã di truyền Mongoloid phương Nam, sau này được gọi là người Nam Á. Khoảng 2600 năm TCN, người Mongoloid phương Nam di cư về phía Nam, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa di truyền đại đa số dân cư Đông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam.[3] Trong cuộc chuyển hóa vĩ đại này, người Indonesian trở thành người Mongoloid phương Nam điển hình, còn người Melanesian thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. Cho đến 2000 năm TCN công việc này hoàn tất. Hầu hết dân cư Châu Á thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Do lịch sử hình thành như vậy, nên toàn bộ dân cư châu Á là người gốc Việt với tiếng nói Lạc Việt là chủ thể.[4]

Ở Đông Nam Á lục địa, người Indonesian tập trung ở Bắc Bộ Viêt Nam sau này thành người Mongoloid phương Nam điển hình. Người Melanesian sống ở Tây Nguyên, các nước Campuchia, Lào, Miến Điện… sau thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. Người Melanesian trên các đảo Đông Nam Á chuyển thành người Indonesian hiện đại của chủng mongoloid phương Nam và được gọi là người Austranesian hay Polynesian.

Khoảng 5.300 năm trước, tại vùng cửa sông Chiết Giang, người Lạc Việt thành lập nhà nước Lương Chử (Xích Quỷ). Từ di cốt người Lương Chử, di truyền học phát hiện sự có mặt của người Indonesian (mã di truyền M122) và Melanesian (M119). Khoảng 4.300 năm trước, do nước biển dâng, kinh đô Lương Chử bị nhấn chìm. Người Indonesian đi lên những chỗ cao trong đất liền. Trong khi đó, người Melanesian di cư ra Đài Loan rồi tới các hải đảo, nhập vào dòng người Austronesian sinh sống từ lâu ở đây.[5]Khoảng 5000 năm trước, vào thời thịnh vượng của nhà nước Xích Quỷ xuất hiện mạng lưới buôn bán ngọc bằng thuyền trên Biển Đông, đưa ngọc từ mỏ khai thác ở Đài Loan đến nhiều nơi ven biển Việt Nam, Philippine, Madagasca.

Từ sự hình thành dân cư khu vực như trên, ta có thể truy ra nguồn gốc người Phù Nam như sau:

  1. Người bản địa Phù Nam. Danh xưng Phù Nam trong sách Trung Hoa gợi ý cho thấy, đây là những bộ tộc người miền núi. Bà Nam, Bồ Nam… là những từ Việt cổ chỉ núi. Sau này chuyển thành phnom, phnong. Từ đó người Hoa chuyển thành Đường âm Phù Nam. Mang tên “người miền núi” nói lên rằng, đó là những cộng đồng người Việt sống trên vùng núi Campuchia và Nam Trường Sơn. Vào đầu Công nguyên khi đồng bằng sông Cửu Long hình thành, những bộ lạc người Việt mang mã di truyền Indonesian của chủng Mongoloid phương Nam tràn xuống định cư rồi xây dựng nhà nước của “người miền núi”, nước của dân Bà Nam, Phnom. Theo truyền thuyết, đấy là nước của công chúa Liễu Diệp. Điều này cũng cho thấy họ đang trong thời kỳ mẫu hệ.
  2. Về người Autronesian: Ta có thể tin là người từ Mã Lai và Java, là hậu duệ những người từ Việt Nam chiếm lĩnh các đảo này từ 50.000 năm trước. Họ giỏi đi biển và nhiều lần cướp phá ven biển miền Trung của người Chămpa. Do vị trí địa lý, họ đã thấm nhuần văn hóa Ấn Độ. Có khả năng trong đoàn người thực dân này có những nhà buôn, nhà sư và chỉ huy người Ấn. Sau khi đánh thắng người bản địa của Liễu Diệp, họ giữ vai trò chủ nhân và xây dựng đất nước theo mô hình văn hóa Ấn Độ. Tuy nhiên, do là người Việt nên tiếng nói và nhiều phong tục tập quán của họ vẫn trên cơ sở văn hóa Việt mà ảnh hưởng Ấn Độ chỉ là cơ tầng thứ cấp.

Như vậy, hai dòng người  Việt tạo nên dân cư Phù Nam.

Các vật phẩm ngọc bích: A-Gò Mả Vôi (văn hóa Sa Huỳnh) và các di chỉ ở Phillipines và Đài Loan. (Hsiao-Chun Hung, Peter Bellwood, Kim Dung Nguyen, Berenice Bellina, et al., 2007) b. Khuyên tai hai đầu thú và vật phẩm đá quý và thủy tinh từ văn hóa Sa Huỳnh(Charles Higham, Early cultures of mainland Southeast Asia, 2002) c. Khuyên tai hai đầu thú trên thái dương một di cốt tại di chỉ Giồng Cá Vồ (Cần Giờ) (Vũ Đức Liêm, Triển lãm khảo cổ học Việt Nam tại bảo tàng Khảo cổ học Herne, Đức). (Hình ảnh từ bài của TS Vũ Đức Liêm).

Có một vấn đề đáng phải suy ngẫm: các nhà khảo cổ tìm được khuyên tai hai đầu thú bằng ngọc tại di chỉ Giồng Cá Vồ huyện Cần Giờ kèm theo xương thái dương. Do tuổi của di cốt không được xác định nên chúng ta không biết chính xác niên đại của khuyên tai. Bởi vậy ở đây buộc phải suy doán: loại khuyên tai này xuất hiện duy nhất một lần khoảng 5.000 năm trước tại nhiều nơi ven biển Việt Nam, Phillipines… Giải thích sao đây về việc nó có mặt ở văn hóa Phù Nam? Liệu có chuyện người Phù Nam mang vật báu truyền từ hơn 4.000 năm trước? Khả năng này gần như không có. Cách giải thích hợp lý hơn là di chỉ Giồng Cá Vồ có tuổi 5.000 năm tương đương văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng do sự nhầm lẫn, các nhà khảo cổ cho đó là di vật Phù Nam? Như vậy nó không thuộc văn hóa Phù Nam mà thuộc về một văn hóa xuất hiện trước đó hơn 4.000 năm. Nếu giả định này đúng thì Cần Giờ là di tích hình thành sau, ở dạng di tích chồng lên di tích. Điều này cho thấy người Việt đã sống ở đây từ 5.000 năm trước. Không có gì bất thường, nó chỉ chứng tỏ một sự thực: người Việt từ xa xưa đã làm chủ vùng đất này.

II. Nguyên nhân sụp đổ của Phù Nam

Dựa trên cổ thư Trung Hoa, nhiều tác giả cho rằng, vào thế kỷ VII, một phần do con đường thương mại không còn đi qua nên Phù Nam sút giảm về kinh  tế. Và cuộc xâm lăng của người Chân Lạp khiến Phù Nam sụp đổ. Có thể đó là một nguyên nhân nhưng không phải nguyên nhân cơ bản. Từ cuộc khai quật của Malleret năm 1944 tới những cuộc khai quật ở Nền Chùa, Gò Tháp … sau này, các nhà khảo cổ chứng kiến các di chỉ đều nguyên vẹn chứng tỏ vùng đất này không trải qua thời gian bị chiếm đóng, cướp bóc. Như vậy là không có cuộc xâm lăng hay cuộc xâm lăng chỉ xảy ra một cách hạn chế.

Thực tế, Phù Nam sụp đổ do nguyên nhân khác. 15 năm trước, trong bài viết “Từ Óc Eo nhìn về đồng bằng sông Cửu Long” đăng trên tạp chí Xưa&Nay, chúng tôi cho rằng, đó là do Hải xâm Holoxen IV. Nhà địa chất học người Pháp H. Fontaine cho thấy bức tranh khái quát của việc biến đổi mực nước biển như sau:

“Cuối Đại Trung sinh (Pleixtoxen) đầu Đại Tân sinh (Holoxen) có một đợt hải thoái, mực nước biển hạ thấp khoảng 100 – 120 m so với ngày nay, khiến cho Biển Đông chỉ còn là một vũng nhỏ. Tiếp đó là thời kỳ băng hà Wun cách nay 60.000 đến 11.000 năm. Sau giai đoạn chuyển tiếp kéo dài 750 năm (từ 11.000 đến 10.250 năm trước) là thời kỳ băng tan và nước biển bắt đầu dâng. Sau đó vào năm 4850 trước Công nguyên, nước biển dâng lên bằng mực nước ngày nay. Sau thời kỳ này là 4 đợt hải xâm và 3 đợt hải thoái xen kẽ nhau:

Hải xâm Holoxen I từ năm 4850 đến năm 1650 trước Công nguyên, kéo dài 3.200 năm với 3 giai đoạn đỉnh cao: 4 m (năm 3900), 3 m (năm 2950 ), và 2 m (năm 2350 ).

Hải thoái Holoxen 1 từ năm 1650 đến năm 1.150 trước Công nguyên, thời gian 500 năm với mức hạ thấp nhất -0,8 m xảy ra vào năm 1400 trước Công nguyên.

Hải xâm Holoxen II từ năm 1150 đến năm 850 trước Công nguyên, thời gian 300 năm, đỉnh cao nhất xảy ra vào năm 950 trước Công nguyên.

Hải thoái Holoxen 2 từ năm 850 đến năm 200 trước Công nguyên, thời gian 650 năm, với cực tiểu 1 m xảy ra vào năm 550.

Hải xâm Holoxen III từ năm 200 đến năm 50 trước Công nguyên, kéo dài 150 năm, mức cao nhất khoảng 0,4 m vào năm 50.

Hải thoái Holoxen 3 từ năm 50 trước Công nguyên đến năm 550 Công nguyên, kéo dài 500 năm với mực nước thấp nhất -0,5 m vào năm 200.

Hải xâm Holoxen IV từ năm 350 đến năm 1150, kéo dài 800 năm với mức cao trung bình 0,8 m vào năm 650.

Từ năm 1150 đến 1950 nước biển dao động 1 m, xem như ổn định hơn các thời kỳ trước.

Điều đáng chú ý là khi so sánh những vết tích hải xâm, hải thoái ở Việt Nam, các nhà khoa học đã tìm thấy sự tương đồng với những dấu tích hải xâm hải thoái ở bờ bên kia của Thái Bình Dương, trên đất Mỹ: Hải thoái Óc Eo cách nay 1750 năm tương đương Hải thoái Florida -3 m cách nay 2000 năm; Hải thoái Rạch Giá cách nay 3350 năm tương đương Hải thoái Crane Key -2 m cách nay 3300 năm.

Trong những đợt hải xâm, hải thoái trên, đáng chú ý là Hải xâm Holoxen IV. Sau khi hiệu chỉnh niên hạn theo phương pháp C14, các đặc tính của lần hải xâm này như sau:

Thời hạn 800 năm, từ năm 350 đến năm 1.150, đỉnh cao vào năm 650.

Mực nước cao nhất từ 0,5 đến 1 m trong 30 năm, từ năm 635 đến năm 665.”[6]

Thời điểm Hải xâm Holoxen IV hoàn toàn trùng với thời gian sụp đổ của nhà nước Phù Nam. Sau thời điểm này, vùng phía nam châu thổ sông Cửu Long trở nên hoang vu thời gian dài cho tới tận thế kỷ XIII mà ta thấy ghi chép trong Chân Lạp Phong Thổ Ký của sứ thần nhà Nguyên Chu Đạt Quan. Cho đến thế kỷ XVII vùng đất mênh mông này tuy danh nghĩa thuộc Chân Lạp nhưng vẫn trong tình trạng hoang vu vô quản.

Một câu hỏi được đặt ra: người Phù Nam đi đâu? Có hai khả năng: Bộ phận những người mà tổ tiên xưa từ biển vào, nay họ lại trở ra biển, về lại Mã Lai hay đảo Java.

Một bộ phận đi lên phía Nam Trường Sơn, sống chung với đồng bào của mình, trở thành những tộc người Nam Trường sơn hôm nay như đồng bào Mạ.

III. Kết luận

Cho đến nay, những tư liệu và tư tưởng làm nên lịch sử Đông Nam Á phần lớn dựa trên thư tịch cổ Trung Hoa và Đông phương học của Viễn Đông bác cổ Pháp. Tuy nhiên, cả hai nguồn tri thức này đều có những hạn chế. Thư tịch Trung Hoa chỉ xuất hiện từ đầu Công nguyên nên không có những ghi chép xa hơn, tuy rất quý nhưng chỉ phản ánh những sự kiện vào thời gần, trong khi thời tiền sử quá dài bị khuất lấp. Trong khi đó, Đông phương học của người Pháp mang quan niệm sai lầm khi xác định chiều hướng lịch sử phương Đông theo con đường Nam tiến: người từ phương Tây vào Nam Hoàng Hà tạo ra văn minh Hoa Hạ rồi người Hán mang văn minh Hoa Hạ khai hóa các sắc dân man di phía Nam. Quan điểm như vậy đã chi phối nền sử học phương Đông suốt thế kỷ XX. Nhưng sang thế kỷ XXI, sự thật trái ngược được phát lộ: người tiền sử đặt chân trước hết tới Việt Nam rồi trên đất Việt, con người hòa hợp về huyết thống, tiếng nói và văn hóa sau đó tỏa ra chiếm lĩnh châu Á. Do vậy, chiều hướng lịch sử của phương Đông được đảo ngược: chính con người cùng văn hóa Việt tạo nên dân cư và văn hóa phương Đông. Ngôn ngữ Việt là mẹ của tiếng nói các tộc người châu Á.

Nhìn vào bối cảnh toàn khu vực, Đông Nam Á mà theo ý kiến của Solheim, bao gồm cả Nam Dương Tử, ta thấy, đây là giang sơn của người Việt. Suốt thời đồ đá là hai chủng Indonesian và Melanesian. Sang thời kim khí chuyển hóa thành chủng duy nhất Mongoloid phương Nam.

Cho tới một vài thế kỷ TCN, dân cư Đông Nam Á quy tụ quanh trung tâm Văn Lang của các vua Hùng do mối quan hệ nguồn gốc, huyết thống, ngôn ngữ và văn hóa. Chứng cứ cho việc này là những trống đồng Heger I tìm thấy khắp vùng.

Có ý kiến cho rằng đó là sản phẩm mang tới từ thương mại. Nhưng cũng khó phản bác một khả năng, đó là quyền trượng mà các Vua Hùng ban cho thủ lĩnh khu vực. Tới vài thế kỷ TCN, sau khi Văn Lang diệt vong và nhất là sau khi Việt Nam bị phương Bắc chiếm đóng, mối liên kết truyền thống của Việt Nam với phía Nam bị đứt đoạn, lực hướng tâm không còn, các thủ lĩnh khu vực theo chiều hướng chung đứng lên lập nhà nước riêng. Những quốc gia cổ ra đời. Do hấp lực của văn hóa Ấn Độ, các nhà nước này theo chính trị Ấn Độ và đem văn hóa Ấn phủ lên nền tảng văn hóa Việt. Dù sự phát triển như vậy sau hàng nghìn năm, thì trên địa bàn Đông Nam Á vẫn tồn tại một nền văn hóa chung mang đậm bản sắc Đông Nam Á. Riêng Việt Nam, hình như cái bản sắc này có vẻ nhạt nhòa hơn nên được cho rằng Việt Nam thuộc cuối nguồn khiến cho chất Đông Nam Á từ các hải đảo tác động tới thiếu phần sâu đậm. Tuy nhiên, hôm nay nhìn lại từ nguồn gốc, ta thấy chính Việt Nam là gốc của văn hóa Đông Nam Á.

Về phương diện ngôn ngữ. Khoảng 150 năm, từ giữa thế kỷ XIX đến nay, những nhà ngữ học hàng đầu của phương Tây đã võ đoán phân chia ngôn ngữ phương Đông ra các họ ngôn ngữ Hán-Tạng, Tày-Thái, Môn-Khmer, Nam Á… Riêng tiếng Việt từng được xếp vào họ Hán-Tạng, sau thấy không ổn thì xếp vào Tày-Thái. Khi vẫn thấy không ổn thì chuyển sang họ Môn-Khmer rồi Nam Á… Cho đến nay lại xuất hiện ý kiến đưa trở về họ Hán-Tạng! Sở dĩ như vậy bởi lẽ có sự thật: tiếng Việt là mẹ các ngữ phương Đông. Tuy rất gần gũi với mọi ngữ hệ phương Đông nhưng khi xếp vào bất cứ khuôn nào thì rồi cũng tới lúc nó cựa mình phá tung cái khuôn nhỏ hẹp áp đặt. Chỉ tới hôm nay, khi nhận thức ra người Việt là chủ thể của mọi dân cư châu Á thì người ta mới bừng tình thừa nhận ý kiến của nhà ngữ học H. Ferey từ năm 1892: “Tiếng Việt là mẹ các ngữ”.[7]

Từ thực tế trên có thể kết luận như sau:

Đông Nam Á là giang sơn của cộng đồng người Việt với dòng máu, tiếng nói cùng văn hóa Việt. Cho tới vài thế kỷ TCN, toàn bộ khu vực hướng vào trung tâm Văn Lang của các vua Hùng theo lực hướng tâm liên kết bởi nguồn gốc, huyết thống, tiếng nói và văn hóa. Vào những thế kỷ đầu CN, do Văn Lang bị diệt vong rồi bị xâm lược, lực hướng tâm đứt đoạn, các thủ lĩnh khu vực đứng lên lập quốc gia riêng. Trong quá trình lịch sử, giữa các quốc gia của người Việt liên tục có sự tranh chấp lãnh thổ. Biên giới như hiện nay là kết của của những sự tương nhượng và được xác lập bởi công pháp quốc tế. Mọi ý tưởng về “quyền sở hữu lịch sử” là phi lịch sử và không có cơ sở thực tế.

Do vậy, đất đai Phù Nam xưa là một phần của đất nước Việt Nam hôm nay. Lịch sử Phù nam là một bộ phận của lịch sử Việt Nam, là lịch sử của người Việt từng xây dựng đất Việt.

—————

[1] J.Y. Chu et al. Genetic Relationship of Populations in China, https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC21714/

[2] Stephen Openheimer. Out of Eden: The Peopling of the Worldhttp://www.bradshawfoundation.com/journey/introduction.html

[3] Hà Văn Thùy. Góp phần nhân thức lại lich sử văn hóa Việt. (NXB Hội Nhà văn. H, 2015)

[4] Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á (NXB DH&THCN, H. 1983)

[5] Hà Văn Thùy. Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực (NXB Hội Nhà văn. H, 2017)

[6] Liêu Kim Sanh. Hải xâm hải thoái xưa ảnh hưởng đến vùng đồng bằng Nam Bộ. Trong Văn hóa Óc eo và các văn hóa cổ ở đồng bằng Cửu Long. Sở Văn hóa thông tin An Giang- 1984.

[7] Frey, H. L’annamite, mére des langues; communaute d’origine des races celtiques, semitiques, soudanaises et de l’lndo-Chine) Paris, Hachette et cie, 1892.

MỘT HÀNH ĐỘNG XUYÊN TẠC LỊCH SỬ, XÚC PHẠM TỔ TIÊN

Hà Văn Thuỳ

Lâu nay nghe dư luận xôn xao: người Trung Quốc khuyên dân Việt “lãng tử hồi đầu!” Nghĩ rằng đó là việc rất nghiêm trọng, vừa xuyên tạc lịch sử vừa xúc phạm tổ tiên, chắc cơ quan chức năng như Tuyên giáo, Hội Sử phải nhanh nhạy ra tay… Nhưng chờ mãi chỉ thấy im ắng, dường như chẳng có vấn đề, không đáng chấp! Trong khi đó dân tình nháo nhác, không hiểu do cơn cớ nào người ta khuyên như vậy và khuyên vậy là có ý gì? Mới đây người bạn chuyển cho bài Bác bỏ luận điệu Tàu khuyên Việt Nam ‘Lãng tử hồi đầu’ trên Nghiên cứu quốc tế, bảo đọc rồi cho ý kiến nên chúng tôi viết bài này.     

Hà Văn Thuỳ                                                                               *

 Vào đầu thế kỷ XXI, di truyền học phát hiện loài người xuất hiện ở châu Phi khoảng 200.000 năm trước rồi từ đó lan tỏa ra thế giới, làm nên nhân loại. Riêng việc con người đến châu Á, giữa các nhà di truyền lại có hai quan điểm khác nhau. Phái con đường phương Nam cho rằng, từ châu Phi, người tiền sử sang bán đảo A Rập rồi theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam 70.000 năm trước. 40.000 năm cách nay, nhờ khí hậu ấm hơn, người từ Việt Nam đi lên Đông Á. Từ Đông Á có một dòng rẽ sang phía Tây, tới Trung Á rồi vào châu Âu. Tại đây họ gặp người Europid từ Trung Đông tới. Hai dòng người hòa huyết cho ra tổ tiên người châu Âu. 30.000 năm trước, từ Đông Á người tiền sử vượt qua eo Bering chiếm lĩnh châu Mỹ. Dòng di cư này làm nên đại bộ phận loài người ngoài châu Phi. (1)Đối chọi với nó là phái chủ trương con đường phương Bắc, cho rằng, có chuyến di cư theo con đường phương Nam nhưng chuyến ra đi 45.000 năm trước, người tiền sử từ châu Phi, vào Trung Đông, lên Trung Á rồi sang phương Đông mới quan trọng vì tạo ra đại bộ phận nhân loại ngoài châu Phi. (2)Nhiều nhà di truyền Trung Quốc theo trường phái con đường phương Bắc, cho rằng, người từ châu Phi vào Trung Quốc tạo nên cộng đồng Bách Việt mà người Hán là trung tâm. Dựa theo cổ thư viết: “ Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, một bộ phận người Việt chạy vào Bắc Việt Nam, trở thành người Việt Nam.” Từ “khám phá lịch sử” đó dẫn tới chủ trương kêu gọi đám con đi hoang hãy trở về nhà!Tuy nhiên đó là sự lầm lẫn ê chề của giới khoa học. Thực tế khảo cứu cho thấy, có con đường phương Bắc nhưng dòng di cư này không hề làm nên dân cư Đông Á. Ở trên chúng tôi nói, 40.000 năm trước, có dòng người từ Đông Á qua Trung Á vào châu Âu. Khoảng 15.000 năm trước, một dòng người từ châu Âu qua Trung Á, đi ngược lại con đường cũ để tới phương Đông.(1) Nhưng khoảng 10.000 năm trước, người ở phía Tây Hoa lục đã đông và có những bộ tộc du mục dũng mãnh như bộ tộc Tần đã ngăn không cho người di cư phương Tây vào Trung Quốc. Đoàn di cư này buộc phải chia đôi: một bộ phận trượt xuống Tây Nam, trở thành dân thiểu sổ Uighur sau này. Một nhánh lên phía Bắc rồi tới Đông Bắc Trung Quốc, làm nên các sắc dân thiểu số ở Bắc Trung Quốc hiện nay. Thất bại trong việc xâm nhập Trung Quốc nhưng về mặt di truyền, cuộc di cư vẫn để lại những dấu hiệu (marks) trong bộ gen của dân cư. Do vậy, một số nhà di truyền học khi khảo sát bộ gen con người đã sa vào cái bẫy của cuộc xâm nhập bất thành. Nếu dòng di cư này vào được Hoa lục, sẽ để lại ba hệ quả: i.                     Người Trung Quốc phải mang mã di truyền Ấn-Âu mà không phải Mông Cổ phương Nam như hiện nay.ii.                   Người Trung Quốc sẽ có chỉ số đa dạng sinh học (Bio-diversity) cao nhất châu Á (sinh vật có tuổi sinh học càng già tức càng gần tổ tiên thì chỉ số đa dạng sinh học càng cao.) Trong khi thực tế cho thấy, chỉ số đa dạng sinh học của người Hán gần như thấp nhất châu Á.iii.                  Với con đường di cư từ Tây Bắc xuống Đông Nam như vậy, mặc nhiên những di chỉ khảo cổ ở Tây Bắc sẽ có tuổi cao hơn và tiến bộ hơn các di chỉ ở Đông Nam. Tuy nhiên, sự thực ngược lại. Những di chỉ khảo cổ phía Nam không chỉ sớm hơn mà còn tiến bộ hơn so với ở Tây Bắc. Năm 2016, sau 80 năm khai quật và nghiên cứu văn hóa Lương Chử vùng Thái Hồ, học giả Trung Quốc kết luận: “Nhà nước Lương Chử sớm và tiến bộ nhất phương Đông. Triều đại Hạ và Thương trước đây được coi là sớm nhất, nay phải trả lại danh hiệu đó cho Lương Chử.”Và “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.”(3)Kết luận được rút ra là không có chuyện người châu Phi theo con đường phương Bắc làm nên dân cư Đông Á.Trên thực tế, chỉ có duy nhất con đường phương Nam đưa người tiền sử tới Việt Nam 70.000 năm trước làm nên dân cư châu Á. Tại đây hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Người Indonesian chiếm đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ, sau này được gọi là Lạc Việt. Cũng có một số nhóm người Mongoloid do “thiếu tinh thần tập thể” không chịu chơi với ai nên đi tới Tây Bắc Đông Dương và sống cách biệt trong môi trường lạnh giá. 40.000 năm cách nay, do khí hậu ấm lên, người từ Việt Nam đi lên Quảng Đông rồi lan tỏa ra trở thành dân cư Hoa lục. Tại di chỉ Điền Nguyên Động thành phố Chu Khẩu Điếm phát hiện xương chân người đàn ông 40.000 năm tuổi, được xác nhận là tổ tiên người Đông Á và là thủy tổ người châu Mỹ bản địa (4) Riêng nhóm người Mongoloid từ Tây Bắc Đông Dương theo hành lang phía Tây đi lên Tây Bắc Trung Quốc và đất Mông Cổ. Ban đầu họ sống 
Bản đồ phân bố các nhóm người từ Việt Nam đi lên chiếm lĩnh Hoa lục                                                             (O: Indonesian, C: Melaanesian, N: Mongoloid và D: Negritoid) (7)       bằng săn bắn hái lượm. Khi kỷ Băng hà kết thúc, họ chuyển sang du mục ở bờ Bắc Hoàng Hà. Do giữ được nguồn gen thuần chủng nên sau này được gọi là chủng Mongoloid phương Bắc (North Mongoloid). Khoảng 9000 năm trước, tại lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, dân Việt đã đông, làm nên nền văn hóa nông nghiệp trồng lúa, trồng kê, nuôi gia súc ở Giả Hồ Hà Nam… Khoảng 7000 năm trước, tại bờ Nam Hoàng Hà, người Việt Australoid gặp gỡ người du mục Mông Cổ bên bờ Bắc để trao đổi hàng hóa. Việc hôn phối luyến ái diễn ra, lớp con lai Mông-Việt ra đời, mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. (5) Người Mongoloid phương Nam tăng số lượng, dần thay thế người Australoid, thành chủ thể dân cư lưu vực Hoàng Hà. Họ sáng tạo văn hóa Long Sơn, xây dựng hai trung tâm văn hóa rực rỡ Thái Sơn và Trong Nguồn (đồng bằng Hán Thủy), sau này được gọi là người Hán.  

Người Điền Nguyên
Khoảng giữa thiên niên kỷ III TCN, một bộ phận người Việt từ lưu vực Hoàng Hà di cư về phương Nam, đem nguồn gen Mongoloid chuyển hóa dân cư Nam Dương Tử và Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Từ khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận người Việt Nam mang mã di truyền Mongoloid phương Nam. Như vậy, người Việt Nam và người Trung Quốc trước đây cùng chủng tộc Australoid thì từ 2000 năm TCN cùng chủng tộc Mongoloid phương Nam. (6)Tuy nhiên, vì người Việt Nam được sinh ra từ tổ tiên 70.000 năm trước nên có tuổi sinh học già hơn do đó có chỉ số đa dạng sinh học cao nhất trong dân cư châu Á. Do được hình thành như vậy, nên tiếng Lạc Việt là tiếng nói chung của dân cư phương Đông. Nhưng ở lưu vực Hoàng Hà, do tiếp xúc với người Mông Cổ nên tiếng nói chuyển theo cách nói Mông Cổ (phụ trước chính sau) đồng thời biến âm theo giọng Mông Cổ. Còn chữ viết thì chữ Giáp cốt xuất hiện 9000 năm trước ở văn hóa Giả Hồ. Khoảng 4000 năm trước, tại Cảm Tang, Lương Chử, chữ Giáp cốt đã trưởng thành. Vào đời Thương 1300 năm TCN, Giáp cốt văn được nâng cấp, sau đó được chuẩn hóa thành văn tự chính thức của Trung Quốc. Như vậy, về bản chất, tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa, chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa, văn hóa Việt là chủ thể của văn hóa Trung Quốc.Bách Việt là gì? Sách đầu tiên nói về Bách Việt là cuốn Lã thị Xuân Thu, cho biết: năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt, con cháu vua Việt là đầu lĩnh từng vùng, cùng đứng lên lập quốc, lấy tên đất làm tên nước, như Mân Việt, Đông Việt… bên cạnh những nước Việt có từ trước như Lạc Việt và những nước Việt trên đất Thái Lan, Miến Điện ngày nay. Cố nhiên, trong chiến tranh con người phải chạy loạn. Nhưng không hề có chuyện dân nước Việt chạy xuống thành người Việt Nam. Bởi lẽ, người Giang Nam và người Việt Nam đều là Lạc Việt, cùng mã di truyền Mongoloid phương Nam từ 2000 năm trước. Dân số Việt Nam lúc này đã đông nên vào đầu thời  thuộc Hán, nhiều hơn số dân hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Bách Việt là những nước nhỏ, riêng lẻ chỉ tồn tại 200 năm (333-111 TCN). Sau này, các sử gia nhà Hán căn cứ theo tên Việt, gộp thành Bách Việt. Lạc Việt cũng được gộp vào Bách Việt một cách tự nhiên như vậy. Khi Bách Việt ra đời thì người Tần chưa vượt qua Dương Tử nên nói rằng “người Hán là trung tâm của cộng đồng Bách Việt” là không đúng sự thật.Dù thừa nhận hay không thừa nhận thì cũng không ai có thể phủ định sự thật này:1.       Đất Việt Nam là nơi phát tích của tất cả các dân tộc châu Á.2.       Ra đời từ 70.000 năm trước nên người Việt Nam gần với Tổ tiên nhất, có tuổi sinh học cao nhất. Sinh ra từ 7000 năm trước, người Hán là lứa con cháu muộn mằn của tộc Việt.3.       Do cội nguồn như vậy nên tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Hoa. Chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa. Văn hóa Việt là chủ thể làm nên văn hóa Trung Hoa.Từ sự thực trên, việc khuyên người Việt Nam “lãng tử hồi đầu” là việc làm xuyên tạc lịch sử, đảo lộn tôn ty, xúc phạm Tổ tiên. Những kẻ vô hậu như vậy sẽ bị quả báo.                                                                                                                 Sài Gòn, Thu 2019
Tài liệu tham khảo.1.        Stephen Oppenheimer. Out of Eden: The Peopling of the World.https://www.amazon.co.uk/Out…Stephen-Oppenheimer/dp/1841198942.        Spencer Wells. The Journey of Man: A Genetic Odyssey.                                                                                                https://www.amazon.com/Journey-Man-Genetic…/dp/069111532X                                                      3.良渚文化_互动百科  www.baike.com/wiki/4.        Sergio Prostak. DNA Analysis Reveals Common Origin of Tianyuan Humans and Native Americans, Asians. Jan 24, 2013   http://www.sci-news.com/othersciences/anthropology/article00842.html5.       15. YANGSHAO CULTURE (5000 B.C. to 3000 B.C.) | Facts and Detailsfactsanddetails.com/china/cat2/sub1/item32.html6.       Hà Văn Thùy. Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt. NXB Hội Nhà văn, H.2016 7.       Chuan-Chao Wang, Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y chromosomes,           https://investigativegenetics.biomedcentral.com/articles/10.1186/2041-2223-4-11


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.