Bằng hữu tưởng nhớ Tô Thuỳ Yên :Mặc Lâm,Đinh Yên Thảo..

Tô Thùy Yên, gõ cửa thiên thu

23/05/2019


Nhà thơ Tô Thùy Yên.
Nhà thơ Tô Thùy Yên.

Tôi biết làm thơ từ khi còn rất nhỏ nhưng mãi tới gần tuổi năm mươi mới thật sự đọc được thơ qua một người mà càng đọc tôi càng được mở ra những cánh cửa khác của sự mầu nhiệm từ thi ca. Người làm thơ ấy là Tô Thùy Yên, một ánh sáng khơi gợi niềm cảm hứng, một cành khô giữa rừng có khả năng giúp người đi lạc trong cơn mê muội thẳm sâu của hưng phấn tìm được lối ra, một lẻ loi của cây xương rồng giữa sa mạc có khả năng chống lại sự cô đơn mà thượng đế giao phó.

Thơ của Tô Thùy Yên được rất nhiều người yêu mến vì chất tĩnh trong cái động của nó. Nếu 10 năm tù là trạng thái “động” của những buốt nhức của cơn đau thể xác thì “thế giới vui từ nỗi lẻ loi” là cái tĩnh thiền đạo của một người đã hiểu tường tận nỗi lẻ loi có sinh lực như thế nào. Lẻ loi ấy chỉ có thể hiện hữu trong một tâm thế vị tha, tha thứ những hằn học, những miệt thị, những oán khí của người khác đã dành cho mình. Lẻ loi vì sẽ không có nhiều người làm được. Lẻ loi vì tuy cúi mái đầu sương đã điểm nhưng vẫn tin vào tâm lượng của đất trời vẫn nặng trĩu niềm vui.

Niềm vui ấy Tô Thùy Yên đã tìm thấy sau khi từ giã trại cải tạo về nhà sau hơn 10 năm biệt xứ:

“Ta về cúi mái đầu sương điểm / Nghe nặng từ tâm lượng đất trời / Cảm ơn hoa đã vì ta nở / Thế giới vui từ mỗi lẻ loi.”

Chất thiền trong thơ Tô Thùy Yên có lẽ được hình thành từ những cơ cực mà cuộc đời ông chứng kiến. Những cái chết anh liệt nhưng thảm thương, những chia ly tràn khỏi bến bờ đau đớn, sự phân hủy cuộc sống đến vô tận đã đày ải tâm linh trước khi chính bản thân ông sụp đổ. Trong bài Qua sông ông viết:

“Áo quan phong quốc kỳ anh liệt / Niềm thiên thu đầm cỗ xe tang / Quê xa không tiện đường đưa tiễn / Nghĩa tận sơ sài, đám lạnh tanh / Thêm một chút gì như hối hả / Người thân chưa khóc ráo thâm tình…”

Những câm nín ấy vẫn ám ảnh ông nhiều năm sau trong bài Ta về, nỗi ám ảnh chiến tranh và tình người, một “hội chứng nghiến răng” của nhân loại: xông vào cái chết để bảo vệ ảo tưởng. Tô Thùy Yên sống và gậm nhấm thời kỳ ấy nên biết từng mùi vị của những lần hành quân đầy máu, máu của bạn bè lẫn đối phương. Máu không những đổ ra từ súng đạn nó cũng đổ ra từ tàn khốc của trại giam. Ám ảnh trở thành thói quen và Tô Thùy Yên lẩm bẩm sợ cho cơn thất lạc của chính mình:

“Ta về như bóng ma hờn tủi / Lục lại thời gian, kiếm chính mình / Ta nhặt mà thương từng phế liệu / Như từng hài cốt sắp vô danh”

Trong những cuộc hành quân ấy Tô Thùy Yên không ít lần thấy vẻ đẹp tiềm ẩn phía sau những quả mìn tàn nhẫn, những bức tranh được ông phác thảo vội vã miêu tả cái mỏi mệt của thiên nhiên quyện lấy con người như một định mệnh khắc nghiệt. Con người thì rã rời trời thì thấp và ướt sũng, mây trên trời lục bình dưới sông tất cả như hòa nhịp cho một bản nhạc buồn chỉ có chiến tranh mới có thể tạo ra được:

“Đây ngã ba sông, làng sát nước / Xuồng ba lá đậu kế chân bàn / Trời mới tạnh mưa còn thấp ướt / Lục bình, mây mỏi chuyến lang thang”

Tô Thùy Yên là một nhà thơ, đã hẳn, tuy nhiên ông còn là một họa sĩ thiên tài. Thơ ông đầy màu sắc quyết liệt chói chang của mặt trời, lạnh lẽo cô đơn như nước biển, và hơn cả tranh, màu sắc trong thơ ông phảng phất hình bóng con người. Trong “Trường sa hành”, một bài thơ quan trọng trong sự nghiệp thi ca của ông chúng ta có thể đồng ý với nhau ở điểm: màu sắc đã tạo thơ ông khác biệt vượt qua rất nhiều tác giả khác củng thời. Chỉ có điều không như hội họa, chúng ta chỉ thấy hai màu xanh lơ và đen trong cả bài thơ nhưng trong lòng lại bùng vỡ hàng loạt những gam màu khác: Đỏ úa của mặt trời trong ánh chiều tà mà tác giả gọi là “chiều rã” Những thay đổi quang phổ của rong biển, những long lanh từ muôn vạn tầng màu làm hồn ta lay động, màu lửa cháy rực cả đào khiến chim cũng đen úa cả tiếng xao xác quần bay. Miếng mồi cháy một màu khét khói cũng không khỏi ngậm ngùi…

Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng
Những cụm rong óng ả bập bềnh
Như những tầng buồn lay động mãi
Dưới hồn ta tịch mịch long lanh

Mặt trời chiều rã rưng rưng biển 
Vầng khói chim đen thảng thốt quần
Kinh động đất trời như cháy đảo…
Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân

Ta ngồi bên đống lửa man rợ
Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi
Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi

…..

Rồi nữa, kế sau màu sắc là âm thanh. Thứ âm thanh kinh khủng của tiếng gọi không thành lời. Âm thanh bị bóp nghẹt giữa hư vô. Âm thanh rơi vào một khoảng cách đặc sệt của không gian đóng kin:

“Đất liền, ta gọi, nghe ta không? / Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng / Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc / Con chim động giấc gào cô đơn”

Viết về Tô Thùy Yên phải cần cả cuốn sách, một vài trang giấy không những bất toàn mà còn hời hợt. Nhưng sự ra đi của ông nếu không thể thắp bằng đuốc để tưởng nhớ thì đành dùng một nén nhang cũng đủ để tiển đưa ông. Trong tâm thế ấy cùng chia sẻ với những gì mà năm 1991 ông đã viết trong trại biệt giam 3C Tôn Đức Thắng:

Ta nằm xuống

Dỗ mình hãy cố ngủ

Tập quen dần với giấc thiên thu

Hãy ngủ, ông nhé và tôi tin rằng những gì ông để lại thế gian này cũng thiên thu không kém….

Tô Thùy Yên, cánh chim còn để vệt

23/05/2019


Tô Thùy Yên qua nét vẽ Đinh Cường.
Tô Thùy Yên qua nét vẽ Đinh Cường.

Đinh Yên Thảo

“… Tôi được gặp nhà thơ Tô Thùy Yên một lần tại Houston, hôm nhà thơ Phan Xuân Sinh ra mắt cuốn sách Sống Với Thời Quá Vãng. Buổi trò chuyện tại nhà anh Sinh đến nửa đêm, trong tiếng đàn thùng của anh Ngu Yên, giọng ngâm không dứt của anh Trần Khánh Hoà, liên khúc Trần Thiện Thanh do anh Đỗ Xuân Quang từ Atlanta bắt nhịp. Anh Trần Hoài Thư, Trần Phù Thế, Lương Thư Trung, Hoàng Định Nam, Trà Nguyễn… có cả, mỗi người mỗi vẻ ngây thơ trong đôi mắt già nua bất luận. Một đêm thơ nhạc sẽ còn hoài trong ký ức những người dính líu tới con chữ ở hải ngoại.

Ngoài hiên, nhà thơ Tô Thùy Yên trò chuyện cùng tôi và Đinh Yên Thảo như những người quen gặp lại. Dù chỉ gặp lần đầu, trong chữ “Duyên” cửa Phật mà thành lấn cấn tới hôm nay. Ngồi đọc lại bài thơ “Ta về” trong tiết tháng Tư, nơi sân sau nhà vắng. Chút gió Xuân nồng nàn nhà bên cắt cỏ. Giấc mơ chiều, người nông dân chỉ mong được “về quê vỡ đất, tháng tư đi tậu trâu bò, để ta tiếp tục làm mùa tháng năm”…”. (trích từ bài viết “Ta Về” của tác giả Phan)

Đó là đoản văn của anh bạn Phan (Vỉa Hè) của tôi viết ngay sau lần đầu gặp được nhà thơ Tô Thùy Yên chừng đâu 10 năm trước. Còn tôi thì trước đó gặp ông đã vài lần, tại Dallas và cả Houston, Texas. Lần đầu tại đám cưới thứ nam của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng gần 20 năm trước, có đông đúc văn nghệ sĩ về tham dự khá chân tình. Vừa tiệc đám cưới lại xem như cuộc họp mặt các văn nghệ sĩ bay về bởi sự quý mến nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp. Tôi dẫn chương trình nên có khách quen đến đề nghị rằng, bên dưới nghe có nhà thơ Tô Thùy Yên hiện diện, hãy mời ông lên nói vài điều cho mọi người biết mặt. Ông lên sân khấu theo lời mời. Nhưng nói rất ít, hầu như chỉ chào hơn là nói điều gì đó, tôi còn nhớ vậy. Cả vài lần sau gặp lại, ông cũng chỉ là người trầm ngâm, nghe nhiều hơn nói. Chỉ có lần như nhà báo Phan viết ở trên, không hiểu tại sao ông tỏ ra vui vẻ, trò chuyện rất nhiều. Giữa buổi tiệc, tôi hỏi ông, “Anh kể về bài thơ Chiều Trên Phá Tam Giang đã viết như thế nào?”. Như nhiều bài thơ khác của ông, đúng hơn là những trường thi hàng trăm câu của ông, “Chiều trên Phá Tam Giang” là một trong những trường thi mang tầm vóc lớn lao về cuộc chiến khốc liệt trên quê hương Việt Nam. Ông cật vấn lịch sử và chiến tranh bằng cái nhìn nhân bản trong tình dân tộc, lồng thêm thân phận con người và tình yêu tuổi trẻ giữa chiến tranh.

Ông kể đó là một ngày của mùa Hè đỏ lửa năm 1972, ông bay theo tướng Bùi Thế Lân, vị Tư Lịnh Thuỷ Quân Lục Chiến để thị sát chiến trường, trong vai trò một ký giả báo chí. Từ trực thăng nhìn xuống phá Tam Giang, hình ảnh một vị Thiếu Tá đứng giữa gió lộng, mênh mông nước trời phía dưới đã tạo cho ông một cảm xúc mãnh liệt về thân thận nhỏ bé của con người trong chiến tranh, trong không gian điêu tàn của vòng vây tử thần . Thế rồi bài thơ ra đời. Tôi đọc lại, quả thật là vậy.

“Chiếc trực thăng bay là mặt nước,

Như cơn mộng nhanh,

Phá Tam Giang, Phá Tam Giang,

Bờ bãi hỗn mang, dòng bát ngát,

Cát hôn mê, nước miệt mài trôi,

Ngó xuống cảm thương người lỡ bước

Trời nước mông mênh, thân nhỏ nhoi…” (*)

Ông tiếp, ông muốn viết bài trường thi làm ba phần, về người lính trẻ Việt Nam Cộng Hòa, về người chiến binh Bắc Việt và sự cứu rỗi của tình yêu trước sự mong manh của phận người trong thời chiến. Thế là bài thơ ra đời như chúng ta đã đọc. Là người lính, một Thiếu Tá Tâm Lý Chiến, nhưng cũng là người nghệ sĩ, ông nhìn cuộc chiến đang diễn ra như một cuộc chiến ủy nhiệm huynh đệ tương tàn mà cả hai bên đều là nạn nhân của lịch sử. Cái nhìn cảm thông, độ lượng đến cả kẻ địch quân bị dẫn dụ chuyện “sinh Bắc tử Nam”.

“Ta thương ta yếu hèn,

Ta thương ngươi khờ khạo

Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng

Nên cả hai cùng mắc đường lịch sử

Cùng mê sa một con đĩ thập thành

Chiều trên Phá Tam Giang rộn ràng tiếng chiến trận

Chiều trên Phá Tam Giang im lìm âm cảm thông…”

Dường như đó là một đêm mưa. Cả ba chúng tôi ra hiên trước hút thuốc như Phan kể. Ông châm thuốc rồi nở nụ cười khoan thai, quay sang tôi: “Sao em không hỏi về cô gái trong bài thơ?”. Tôi cười chống chế, “em muốn nghe về cả bài thơ trước”. Ông kể đó là mối tình với một thiếu nữ xinh đẹp, nhà có cửa tiệm trong thương xá Tam Đa. Ông đem cuộc tình của mình viết thành cuộc tình của người lính sống chết nơi tuyến đầu, nhớ về người yêu như sự một hy vọng và cứu rỗi, tìm sự bình an ở một nơi xa xôi, trong khi người yêu là cô sinh viên bé nhỏ tuổi đôi mươi luôn canh cánh nỗi lo sợ ly biệt, mất mát.

“Chiều trên phá Tam Giang

Anh sực nhớ em

Nhớ bất tận.

Anh yêu em, yêu nuối tuổi hai mươi,

Coi chuyện đó như lần đi tuyệt tích

Trong nước trời lãng đãng nghìn trùng,

Không nghe thấy cả tiếng mình độc thoại…”



“Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh,
Cơn nghĩ tới không sao cầm giữ nỗi
Như dòng lệ nào bất giác rơi tuôn.
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Của chiến tranh mà em không biết rõ.
Nghĩ tới, nghĩ tới một điều hệ trọng vô cùng
Một điều em sợ phải nghĩ tới…”

Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã chọn và viết lại thành ca khúc “Chiều Trên Phá Tam Giang” cho đoạn thơ tình yêu này, nhưng ông bảo đó không phải tứ thơ ông hài lòng nhất. Tôi bảo, ít ra nó đã mang một phần bài thơ đến với đại chúng. Ông gật đầu. Tôi không rõ ông gật đầu đồng ý hay về điều gì đó đang suy tưởng trong đầu.

Có lẽ tôi không phải là người đầu tiên hỏi ông về bài thơ và cũng có thể ông chẳng phải mẫu người dễ dàng kể lại câu chuyện tương tự ở mọi nơi. Tôi không chắc. Nhưng tôi nghĩ một con người lặng lẽ trong lời nói và ngạo mạn trong tư tưởng như ông có lẽ không cần những lý giải, phụ chú khi trở về với nơi bình yên khởi đầu. Bởi ông từng bảo rằng, làm người sao như cánh chim bay qua bầu trời, chẳng để lại dấu vết gì. Đó là cảm thức đời sống của riêng ông. Còn với chúng ta, có là cánh chim bay qua thì ông vẫn để lại những vệt dài hơn những bài thơ, bản nhạc của mình. Bởi chúng là những chứng nhân bi hùng và ngậm ngùi của một giai đoạn lịch sử dân tộc.

(22/05/2019)

Dallas, Texas

(*) Trích từ bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang”

Để lại lời nhắn

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.