NHÂN TRẦN ĐỘ, NHÌN VỀ MỘT HƯỚNG-Tinh Tiến Đặng Phúc Lai

NHÂN TRẦN ĐỘ, NHÌN VỀ MỘT HƯỚNG


Tinh Tiến (Đặng Phúc Lai)

Từ rất lâu, thập niên 50, Trần Độ đã là một cái tên khá quen thuộc ở miền Bắc. Riêng tại Hà nội, đặc biệt trong giới thanh niên chúng tôi, Trần Độ nổi tiếng như một chính uỷ tài ba, đi kèm nhiều giai thoại của một sư đoàn còn nhiều giai thoại hơn nữa là sư 312 – mà người Pháp gọi là “sư đoàn thép ” (la division de fer). Người ta còn biết tên ông qua nhiều tùy bút, ký sự đăng rải rác trên các tờ Văn nghệ, Nhân dân, qua những buổi nói chuyện thời sự, văn học. Các sinh viên tiểu tư sản chúng tôi hồi đó phải thừa nhận ông là một trong số rất ít diễn giả cộng sản hấp dẫn, phóng khoáng, dễ gần, khác với số đông còn lại.


Thế rồi ông tiếp tục “con đường của Bác”, dọc ngang trên khắp hai miền Nam Bắc. Còn chúng tôi thì chết cay chết đắng vì đã “chọn nhầm” vào tháng 10 năm 1954 fatal (chết người) ấy, nên chẳng buồn bận tâm chuyện ông tướng nọ nói gì, làm gì. 
Thế rồi ánh sáng bắt đầu lóe ra, không phải từ bờ Nam sông Bến Hải. Ôi chao, nơi đó nói ra chỉ thêm não can tràng, mà từ… chỗ ta chẳng thể ngờ. Rồi Mùa Xuân Praha và Công đoàn Đoàn kết, rồi “Đại cách mạng văn hóa vô sản” và các cuộc xung đột đẫm máu bên bờ sông Ô-tô-lý, rồi Gorbachev và các chính sách Perestroika, Glasnost (Tái thiết, Công khai), và cuối cùng là sự sụp đổ bức tường Berlin. Việt nam nối tiếp bằng một “cao trào tính sổ với cách mạng” nổi lên một thời gian ngắn, nhưng cũng đủ làm một đột phá khẩu cho các nhà bất đồng chính kiến sau này. 


Cuối năm 1997 tôi tình cờ được một người bạn dúi cho một bài văn của Trần Độ. Chắc nó phải thế nào anh ta mới giấm giúi đưa cho tôi chứ, nên tôi chịu khó đọc vậy; không ngờ, phải nói thực rằng đọc xong tôi hết sức ngạc nhiên. Ngạc nhiên không phải vì giá trị lý luận mang tính phê phán chế độ của nó; tôi hết sức vui sướng, vui sướng không phải vì thấy được một người bắt đầu khinh ghét chế độ sau khi đã toàn tâm, toàn ý cả một cuộc đời tin yêu nó. 
Mà ngạc nhiên vì… 
Mà vui sướng vì… 
Trần Độ sinh ra trong một gia đình nông dân vùng quê Thái Bình, có lẽ cũng nghèo thôi. Ông thoát ly gia đình, tham gia hoạt động cách mạng cùng với chị ruột. Bà chị bị Pháp bắt và chết trong Hỏa Lò, gần như dĩ nhiên là chết mất xác. Bản thân ông cũng bị bắt và bị đày lên Nghĩa Lộ, Sơn La. 
Một Trần Độ, cuộc đời như thế, chống Tây là quá đúng, khỏi phải lôi lòng yêu nước, yêu cái ấy ra để tô điểm cho ông. Một Trần Độ, cuộc đời như thế, đi theo cách mạng là quá đúng, khỏi phải viện đến tình thương dân, yêu dân để quảng cáo cho cách mạng. 
Trong thế kỷ 20, trên toàn thế giới này, không một lý thuyết chính trị nào, bao trùm cả thượng thiên văn, hạ địa lý, trung nhân sự, như lý thuyết cộng sản, không một lý luận chính trị nào lập luận chặt chẽ, đầy đủ, vững vàng trước các phản biện như lý thuyết cộng sản, không một lý thuyết chính trị nào dễ thuyết phục, dễ cảm hóa lòng người hơn lý thuyết cộng sản. 


Biết bao nhiêu trí thức lẫy lừng tên tuổi, học vấn hàng container, từng đầu quân tự nguyện vào hàng ngũ cộng sản, một số còn mê muội đến chết không thôi. Thậm chí, ngay giờ đây, ” cách mạng “đã tan tành hết rồi mà tôi vẫn cảm thấy cái mùi cộng sản ấy nơi dăm ba Việt kiều phú quý rồi trở nên ngu lâu! Vậy thì nói gì đến một thanh niên nông dân ít học, tránh sao khỏi bị thu phục cả phần hồn lẫn phần xác. 
Huống nữa, đằng sau Trần Độ là cuộc đời bị chà đạp, bị áp bức bởi hai tầng “Tây thực dân và Ta phong kiến”. Ngoài hai thế lực trùm lên tất cả ấy, nói của đáng tội, cũng còn một. . . một cái gì nhỉ? Nhân dân ư? Ôi chao, một hữu thể mà tính bất định còn cao hơn nhiều nguyên lý Heisenberg, vì nhân dân chính là cá nhân này và cá nhân kia, mà ta gặp lúc này và lúc kia; nó có thể tốt, có thể xấu, có thể tử tế, có thể đểu cáng, có thể lương thiện, có thể phản phúc, có thể. . . tuốt mo. . . 50 % là chí ít. 
Huống nữa, hiện tại và đằng trước Trần Độ là cuộc đời lên đến những đỉnh điểm mà tuyệt đại đa số người khác nằm mơ cũng không thấy!
Năm 1997, ông già Trần Độ đã về hưu, gia đình êm ấm trong một căn nhà rộng rãi, tọa lạc ở một phố thuộc loại sang nhất Hà nội. 


Quá khứ thì như thế, hiện tại thì như thế, Trần Độ lại biết hơn ai hết thế nào là tổ chức đảng, là kỷ luật đảng, là lòng trung thành với đảng. Tổ chức ấy do một nhóm nhỏ mặc sức thao túng mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ một định chế thành văn nào. Lòng trung thành ấy được “cân, đong, đo, đếm”một cách rất thủ công, rất “nhà quê” bởi tổ chức ấy. Kỷ luật ấy không phải tuân thủ một thứ quy định nào trong việc quyết định hình thức trừng phạt, biện pháp chế tài: hành hạ thân xác, , sống khổ nhục, chết âm thầm… Được hết nếu cách mạng yêu cầu; rồi lại còn bố đói, vợ rách, con mất việc, cháu thất học… ;quả thật không có một thứ lô-gíc nào, hình thức hay biện chứng nào lý giải được cung đoạn cuối cùng trên con đường hành quân của Trần Độ. 
Trần Độ không dừng lại ở bài viết năm 1997; tôi theo dõi thấy ông viết ngày càng mạnh mẽ, ngày càng dứt khoát, ngày càng triệt để. Cuối cùng, ít người có thể có một khẳng định đanh thép như ông: “Cái chế độ này nó tàn bạo hơn cả Tần Thuỷ Hoàng, dã man hơn cả Hitler! “
Thời đã đổi; thế không còn; lực hồ cạn; tổ chức đảng, kỷ luật đảng, dù có hú ba hồn chín vía Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn về phù hộ thì vẫn chẳng làm gì được ông già Trần Độ, mà thực tế vốn chẳng có một thế lực hữu hình nào để dựa dẫm. Chẳng làm được gì ngoài vài ba trò ranh chẳng khác gì phủi bụi, thậm chí lại còn có tác dụng phong thánh cho Trần Độ trước dư luận trong và ngoài nước. Thậm chí khi ông đã hai tay buông xuôi, họ chỉ biết thò ra dăm mẹo vặt – tuy vặt về cường độ nhưng lại hết sức đê tiện, hết sức ngu xuẩn về tính cách, khó lòng hình dung được nơi một đảng chính trị, một nhà nước cầm quyền. Nhưng nghĩ lại cũng thấy đúng thôi, lại hay nữa là đằng khác. “Khi Thượng đế muốn kẻ nào đó bị diệt vong, người làm cho nó thành mù tịt ” (Quand Jupiter veut perdre quelqu’un, il le rend aveugle ). 
Hay tin Trần Độ mất, dư luận trong và ngoài nước dành cho cụ nhiều phẩm chất cao quý, như: yêu nước, thương dân, trung thực, dũng cảm, anh hùng, một lòng một dạ vì tự do hạnh phúc của dân tộc, vì hòa bình, phú cường của đất nước. 
Đúng hết và đúng hết. Ông xứng đáng được tặng tất cả những phẩm chất ấy.
Nhưng tôi vẫn cảm thấy tất cả dường như chỉ là những từ ngữ dễ dãi, áp dụng cho những bộc lộ biểu kiến trên trường hiện tượng. Dường như dưới phần nổi của những từ trên là cả phần chìm của cái động lực, của cái nguồn gốc, của cái bao quát. Những từ ấy chỉ là tên gọi cho những hành vi, những ứng xử nhất định, trong những tình huống nhất định của kiếp nhân sinh. Dường như vẫn phải lần ra một cái gì đó… một cái gì… À, có lẽ “ông ta” nói đúng. . 


Lev Trotsky từng phân biệt ba loại can đảm. 
– Can đảm thể xác (courage physique), một người lính điềm nhiên xông pha bình thản trên chiến trường bão lửa, mặc cho tên đạn trút như mưa khắp chung quanh, điềm nhiên bình thản như dạo chơi trong công viên hoa lá. Chúng ta ai chẳng ngưỡng một thứ can đảm này. Trotsky cho đó là can đảm hạng… chót. Thoạt nghe chúng ta uốn phản đối ngay, nhưng nghĩ lại mới thấy ông ta có lý đấy: một lần trên chiến trường đang gầm rú đủ loại pháo to nhỏ, một anh lính sợ quá, cuống cuồng tìm chỗ ẩn, Napoléon điên tiết bạt tai anh ta mà quát: đồ ngu xuẩn, nếu quả đạn nào đó trời định cho ngươi rồi thì dù ngươi có chui sâu dưới ba thước đất, nó vẫn cứ tìm ra ngươi thôi! Can đảm loại này, ít ra đây chỉ là một niềm tin, một thói quen lặp lại nhiều lần một cách đơn giản. 
– Can đảm chính trị (courage politique). Chính trị, đơn giản là nghề cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ. Làm chính trị thường có nghĩa là phải đương đầu không ngừng nghỉ với đủ loại âm mưu hãm hại, có đủ độ thâm độc, quỷ quyệt, tàn bạo, độc ác. . . được sắp đặt, tính toán không ngưng nghỉ, 24 giờ trên 24, bởi đủ loại người, thù đã đành, cả bạn nữa, sơ đã đành, cả thân nữa. Có nghĩa là trực diện với mọi cái chết, thuộc đủ loại hình, có thể xảy đến bất cứ lúc nào, giờ tý hay giờ sửu, giờ tuất hay giờ hợi. Chính trị thường có nghĩa là mưu tính, thiết kế một công trình rối ren, phức tạp, đầy bất trắc, cạm bẫy, phần thua thì nhiều, phần thắng thì ít. 
Tôi ghét cay ghét đắng những mẫu người như Sadam Hussein hay Ben Laden. Họ là một bên của mối đe dọa cho sự sống còn của nhân loại – điều này thì ai cũng công nhận; còn bên kia lại, theo tôi, chính là nền văn minh đang tìm diệt họ, điều này thì chắc ít ai đồng ý. Nhưng nếu xét theo tiêu chuẩn can đảm chính trị thì cả Sađam Hussein, cả Ben Laden lại có quá thừa. Cho nên thành thực tôi khâm phục họ, mặc dù tôi ghét cả họ, cả đám quần chúng. . . khâm phục họ!
– Can đảm trí tuệ (courage intellectuelle): tôi rất tâm đắc tư tưởng của Pascal. Cái gì cũng là thói quen hết. Thói quen còn một tên gọi gợi mở hơn nhiều là Niềm Tin. Thói quen chỉ là cơ chế sinh học của niềm tin mà nguồn gốc bất định chìm mất trong một quá khứ tù mù. Anh hay chị tin một điều gì đó, đã dành cả cuộc đời phấn đấu cho thắng lợi của niềm tin ấy. Kết quả có thể là anh hay chị được đền bù hậu hĩnh; nó đem lại cả danh, cả quyền, cả của. Thế rồi không hiểu sao một ngày nào đó anh hay chị ngộ ra rằng cái niềm tin quý hóa đó thực chất là sai bét, là láo khoét, là đáng vứt vào sọt rác. Nhưng vứt vào sọt rác trong trường hợp này cũng có nghĩa là vứt luôn cả quá khứ của mình, cả sự nghiệp của mình, cả cuộc đời của mình với đủ danh, đủ quyền vào sọt rác. Nói ngắn gọn, phủ định niềm tin đã từng phụng sự chính là tự phủ định chính mình. Mấy ai trên đời này có được cái can đảm ấy!
Nhưng cái can đảm ấy sao gọi là trí tuệ? Bởi vì nó lộ thể dưới sức đẩy của nhận thức thị, phi; thiện, ác; chính, tà. Nhận thức ấy dính dáng gì đến thói quen? Pascal dã nói rồi mà; cái gì cũng là thói quen hết, kể cả tự nhiên! Theo thuật ngữ Phật học, cái gì cũng đều là Nghiệp, là Hành, là Tư, là Chủng tử. . . Tất cả đều hàm dung thói quen trong yếu nghĩa. 
Thực ra điều này không quá siêu hình, phi lý, hoang đường như thoạt đầu ta tưởng. Mỗi người chúng ta thử ngẫm lại bản thân cuộc đời mình mà xem, từ khi còn là xích tử – mà cả Lão tử, cả Nietzsche đều sùng bái như mô hình tuyệt vời của trí tuệ -, rồi ngày một khôn lớn, – một ma quái thì đúng hơn -, bởi vì dần dần đã ních được vào trong đầu cả kho tri thức, đúc kết trong một bảng giá trị dùng làm kim chỉ nam để hướng dẫn đường đi nước bước trong cuộc đời này. Bảng giá trị đó, bao giờ cũng phải được, tự nhiên là phải được chấp nhận bởi thân xác đặc thù. Mà thân xác đặc thù lại chính là thói quen đặc thù đầu tiên và cuối cùng của một kiếp người đặc thù. 
Và kiếp người đặc thù Trần Độ; thực chất qua lời nói, việc làm của mình, ông đã tự phủ định đời mình trước đây. Sự tự phủ định ấy dĩ nhiên đâu đó vẫn có cái gì đó lơ mơ, chưa triệt để, nhưng cứ làm được như ông đã là quý hóa quá rồi, đã là “của độc” rồi. Và chúng tôi thành thực ngưỡng mộ Trần Độ, không phải vì cuộc đời rất “rempli” của tướng quân, không phải vì những đóng góp cho “nước đã có độc lập” của tướng quân, mà đơn giản vì tướng quân đã thể hiện được cái can đảm cao nhất, cái can đảm trí tuệ, trong khi những người khác. . . 
Những người khác. . . Sao? Thiếu gì người trong hàng ngũ bất đồng chính kiến hiện nay chẳng từng chứng tỏ cái can đảm trí tuệ ấy khi họ vứt bỏ cái chủ nghĩa mà một thời họ từng tín ngưỡng, mà một thời nhờ nó họ đã leo lên những đỉnh cao xã hội. 
Thiếu gì, đúng vậy, và còn hơn cả thiếu gì, những người có cái can đảm ấy. 
Nhưng sao lại nảy nòi cái can đảm ấy? Sao chỉ là ” can đảm “? Sao gọi là đặc thù?
Rút cục dường như vẫn còn thiếu một cái gì đó căn bản hơn, phổ quát hơn, tối hậu hơn cái “can đảm” mà tự thân nội hàm đã tự hạn chế khuôn viên ứng dụng cưa nó rồi. 
Nói cách khác, ông Trotsky sâu sắc thật nhưng dường như vẫn còn đó cho ta “truy cập” cái gì đó khác với cái can đảm của Trotsky, của “le démon de la révolution” (con quỷ cách mạng), theo cách gọi của các vị bolchevik chính cống. 
Cái đó may thay, thời đại này, từ Đông sang Tây, lại đang khá gọi là ” thời thượng”. Thật vậy!
Trong nước, tôi nghe nhiều người đế yêu cầu”phải có cái Tâm” vào một nhận định, một phê phán của mình. Thậm chí dường như “Tâm” chưa đủ mức “phi vật chất ” nên người ta năng dùng “Tâm linh” hơn! Mới ra nước ngoài “ít bữa”, tôi lại được nghe chữ “Tâm” ấy ở một đôi chỗ, đôi lúc. 
Các bạn trong nước hiểu “Tâm” một cách trừu tượng, như một cái gì đó vượt quá khuôn viên thời – không của cõi tục, của kiếp nhân sinh, một cách cụ thể, như một cái gì đó giúp đảm bảo một cuộc sống nhiều phúc, ít họa. 
Các bạn ngoài nước có lẽ quan niệm về “Tâm” như một khuynh hướng vị tha, nhân ái, vì đại nghĩa, vì chân lý. Nói ngắn gọn, Tâm chỉ là sự chú trọng đạo đức, lý tưởng. 
Cả hai cách tư duy về Tâm đều hội tụ vào cùng một điểm trên thực tiễn ứng xử qua phương châm hướng thiện, nhưng khá phân kỳ trên mặt nhận thức luận và bản thể luận. 
Để minh họa cho sự khác biệt này tôi xin kể một chuyện thật: một Việt kiều trẻ, trí thức, có tên tuổi, đến thăm Trần Độ. Chuyện nọ xọ chuyện kia thế nào lại dẫn đến vấn đề có hay không có linh hồn. Nhà trí thức đầy ắp khoa học và hiện đại của chúng ta “chắc ” phải mỉm cười thương hại cho ông già lẩm cẩm, mê tín Trần Độ ; vì ông rất tin linh hồn là có thật, sau một lần nhờ gọi hồn ông ã tìm ra được chỗ chôn và bốc được hài cốt của bà chị bị Pháp giết mất tích. 
Cái Tâm của một số bạn Việt kiều dường như chính là cái Tâm thấm nhuần tư tưởng Phục Hưng, tư tưởng Ánh Sáng, thường được gọi là tư tưởng Nhân bản, thuộc nền văn minh phương Tây, một nền văn minh đang “toàn cầu hóa” thế giới này. 
Cái Tâm nhiều bạn trong nước thiên về mặt “thác là thể phách, còn là tinh anh”, nói nôm na về cái hồn, cái vía hơn là chỉ thuần ý đạo đức, mặc dù đạo đức là phó sản (sous-produit) tất yếu của Tâm, vẫn sống sau khi sống (life after life), và thuộc về văn hóa Đông phương, lúc này đây đang bị văn hóa phương Tây – mà lộ thể tất yếu là xã hội tiêu thụ – dồn vào những mảnh đất cuối cùng, giống như người Mohican xưa kia. 
Cái Tâm kiểu Tây rõ ràng là có minh bạch hơn, có sáng suốt hơn, có nhân đạo hơn cái Tâm kiểu Ta, nhưng chính nó đã không thể ngăn chặn, thậm chí trong một chừng mực nào đó có thể nói chính nó là động lực cho những cuộc chiến tranh và tàn sát mà cường độ và quy mô, chỉ riêng trong thế kỷ 20 cũng vượt quá nhiều lần cường độ và quy mô phá huỷ người và của của tất cả các cuộc chiến tranh và tàn sát trước kia cộng lại. Và nguy hiểm hơn nữa, dễ thấy hơn nữa, nó hoàn toàn không tìm ra được lối thoát, nếu không muốn nói chính nó là tác nhân của những thách thức sống còn đối với nhân loại như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, xung đột sắc tộc, tôn giáo, và gần gũi nhất là nạn khủng bố. Đợi chi đến. . . Và 9/11/01, và Bali, và Nhà hát Moscou, và không bao giờ chấm dứt, dù các cường quốc phương Tây tự trang bị những phương tiện thông tin siêu hạng, những phương tiện di chuyển thần kỳ đến đâu chăng nữa. Thậm chí càng siêu hạng, càng thần kỳ thì hồi chuông báo tử càng kế cận. Khả năng chế tạo vũ khí giết người hàng loạt không lâu nữa sẽ nằm trong tầm với và sử dụng chỉ của một nhóm nhỏ cá nhân. Tôi rất tâm đắc với một và chỉ một nhận định này của Alain Genestar trong xã luận Guerre et Pensée trên tạp chí Science et Vie sau vụ khủng bố Bali. “Ngày 11 tháng 9 năm 2001, trong cảnh sụp đổ của Tòa tháp đôi, biểu tượng cho sức mạnh và cái tất định, lý luận đã thay đổi bản chất và Lịch sử đã thay đổi ý nghĩa; không còn suy nghĩ như trước được nữa về bất kỳ vấn đề nào. Cảnh hung bạo ngọan mục của thảm kịch mà nhân loại trực tiếp sống đã đảo lộn những chuẩn mực, những biểu đồ, những quy chiếu của chúng ta, bằng cách nghiền nát ra cát bụi khả năng tưởng tượng, tiên đoán và nhận diện của chúng ta về tương lai khả dĩ của thế giới này. “
Nói ngắn gọn, cái Tâm kiểu Tây ấy từ lâu đã coi thường, đã quên đi lời dạy của người Thầy vĩ đại nhất của. . . Tây, Pascal: ” Câm mồm lại, đồ lý trí vô năng, khấu đầu xuống, quân dốt nát bẩm sinh, và hãy lắng nghe Thượng Đế ” (-Tais-toi, raison impuissante, humilie – toi, nature imbécile et écoute Dieu! )
Dù sao cái Tâm kiểu Tây ấy quả thật vẫn có một cái gì đó thực sự nhân đạo, chứng cớ là chính nó đã ủng hộ tích cực nhất, hữu hiệu nhất cho cuộc đấu tranh vì dân chủ và tự do. Đơn giản bởi vì chính nó cũng là một dạng lộ hình, dù có bị khúc xạ. 
Còn cái Tâm kiểu Ta, thành thực mà nói, không phải vì tôi là ta mà vơ vào cho ta, tôi xác tín rằng nó có một số ưu điểm so với của Tây, chí ít thì cũng ở chỗ nó vượt quá được sự trói buộc của “logique des solides”, nó nhìn ra được cái mà cả kính hiển vi điện tử, cả kính viễn vọng Hubble đều không thấy. Nhưng chính nó cũng như sự phản tỉnh của Trần Độ vẫn chỉ là một dạng lộ hình thế tục của . . . cái Tâm tối hậu, cái Tâm ôm trọn cả trời, cả đất. Nói rõ hơn, cả trời cả đất chỉ là sự phóng xuất điều kiện hóa của cái Tâm. Do đó cả Thượng đế và Satan, cả Roosevelt và Hitler, cả Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông, cả Trần Độ và Lê Đức Thọ, . . . tất cả đều có một cái Tâm; trên phương diện bản chất tuyệt đối, nhưng khác nhau như sự phóng xuất bị điều kiện hóa trên phương diện hiện tượng tương đối. Chính vì thế mà gọi là Đặc Thù. 
Hướng về cái Tâm tối hậu, tối thượng ấy; tin tưởng tính hiện thực của nó, phá bỏ chín tầng địa ngục giam hãm nó, đó là mục tiêu duy nhất mà nhân loại cần thành tựu. Hãy tạm thành tựu những mặt lộ thể tương ứng với yêu cầu của xã hội công dân như các trường hợp Trần Độ, những người dân chủ trên đất nước ta. 
Nói cụ thể, chúng tôi thừa hiểu rằng cuộc đấu tranh cho dân chủ và tự do, trên trường hiện tượng, tức là trên thực tế thế tục, không thể tiến hành trong đám tinh vân tư biện của cái Tâm tối thượng mà vẫn cần thực hiện trong ánh sáng của cái Tâm kiểu Tây. 
Các bạn, những người kính mến tướng quân Trần Độ, đã nghĩ như thế và chắc chắn sẽ làm như thế. 
Tưởng niệm Trần Độ, chúng tôi nêu ra vài ý kiến, vì nghĩ đến cái phải tính đến ngay từ bây giờ cho giai đoạn” sau Trần Độ”.

TINH TIẾN (ĐẶNG PHÚC LAI)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.