“Kẻ bị dứt phép thông công -ex-communié-Trần Đức Anh Sơn, viết về trò chơi dân gian :”Bài chòi”

TRÒ CHƠI BÀI CHÒI

Trên tạp chí của Air Vietnam “Heritage Magazine

Trần Đức Anh Sơn

Bài chòi là trò chơi phổ biến ở các tỉnh miền Trung Việt Nam, thường diễn ra trong dịp đầu năm. Mỗi nơi có một lối chơi bài chòi riêng, mang đậm dấu ấn văn hóa từng vùng. Sự khác biệt ấy thể hiện ở nội dung câu hò, điệu hò, ở số người tham dự và số lần chơi trong một cuộc bài. Người ta đến với bài chòi trong dịp năm mới không phải vì say mê trò sát phạt, mà chỉ là dịp để thử vận hên xui trong ngày đầu năm và để được đắm mình trong không khí rộn ràng, đầy lạc thú từ những điệu hò dí dỏm, những giọng cười sảng khoái và cả niềm hy vọng thắng cuộc nho nhỏ mà trò chơi này mang lại.
Trò chơi bài chòi sử dụng 28 trong 30 cặp bài của bộ bài tới. Bộ bài tới gồm 3 pho: văn, vạn, sách và 3 cặp bài yêu. Pho văn có các con bài: gối, trường hai, trường ba, voi, rún, sáu tiền, liễu, tám tiền, xe. Pho vạn có các con bài: học trò, tám cẳng, ba đấu, xơ, quăn, nhọn, bồng, thầy. Pho sách có các con bài: nọc đượng, nghèo, gà, gióng, dày, sáu hột, sưa, tám giây, đỏ mỏ. Các cặp bài yêu gồm: ông ầm, thái tử, bạch tuyết. Khi chơi bài chòi, 2 cặp bài nọc đượng và bạch tuyết không được sử dụng.
Các con bài được in theo kiểu tranh mộc bản trên những mảnh giấy dài 12 cm, rộng 3 cm, rồi dán lên mảnh bìa cứng màu đỏ hoặc màu xanh cùng kích thước. Tên gọi và hình vẽ các con bài rất lạ lùng và kỳ bí. Có người cho là các hình vẽ này vừa mang dấu ấn của bùa chú, vừa phảng phất nét u uất của văn hóa Champa, lại vừa pha phách những kiểu thức trang trí của các sắc tộc thiểu số trên dải Trường Sơn. Người ta khắc hình lên khuôn gỗ, bôi mực lên và in. Ðó cũng là một lối in tranh trên giấy dó mà người dân ở làng Sình, một làng ngoại ô ở phía đông bắc kinh thành Huế, dùng để in tranh thờ cúng, bán trong các dịp lễ Tết, cúng giỗ. 


Nhiều ý kiến cho rằng bộ bài tới và lối chơi bài chòi có gốc gác từ Bình Ðịnh, nơi trò chơi này rất phổ biến và các điệu hò bài chòi vô cùng phong phú.
Tết đến, trên khoảng sân rộng trước đình làng hay ở nơi họp chợ của một làng quê, người ta dựng lên 11 cái chòi bằng tranh tre. Chính giữa là một chòi lớn hình lục giác dành cho những người tổ chức cuộc chơi, gọi là chòi trung ương. Hai bên chòi trung ương có 10 chòi nhỏ, là nơi các chân bài ngồi dự cuộc chơi. 
Vào cuộc chơi, một người trong ban tổ chức giữ chân chạy cờ, thường được gọi là anh hiệu, gióng một hồi trống, dõng dạc mời các tay chơi lên chòi. Cùng lúc ban nhạc gồm kèn, trống, đàn nhị, sênh… cử một bản hòa tấu mở đầu cuộc chơi. 
Anh hiệu buông dùi trống, đem 10 lá cờ ngân, mỗi lá tượng trưng cho giá trị của một lần tiền đặt cược trong cuộc bài chòi, đi bán cho người chơi. Tiếp đến, hai người trong ban tổ chức mang một ống tre đựng các con bài đến từng chòi, mời người chơi chọn 5 con bài bất kỳ. Các con bài tới bằng giấy nay được dán vào những chiếc thẻ bằng tre có phần trên to và dẹp, phần dưới nhỏ và tròn. Mỗi chòi, kể cả chòi trung ương, đều được nhận 5 con bài. Con bài thứ 56 được anh hiệu dùng để đi chợ, tức là con bài được xướng lên để mở đầu cuộc chơi. 
Phát bài xong, anh hiệu mở lời rao: “Hai bên lẳng lặng mà nghe con bài đi chợ, là con…”. Anh ta xướng tên con bài đi chợ bằng tiếng hò ngân dài, xen lẫn trong tiếng trống, tiếng đàn rộn rã. Người chơi nào trên tay mình có con bài giống với con bài anh hiệu vừa rao, thì hô to tên nó lên, rồi rút kèm với một con bài khác, đưa cho anh hiệu. Anh hiệu tiếp nhận 2 con bài, bỏ con bài đi chợ vào cái ống tre treo trước chòi trung ương, rồi xướng tên con bài mới bằng một câu hò khác. 


Trò chơi cứ thế tiếp diễn. Những câu hò ứng với tên của từng con bài lần lượt vang lên. Cho đến khi có người chơi gõ lên cái mõ tre treo cạnh chòi của mình và hô lớn: “Tới rồi! Tới rồi!”, thông báo con bài anh hiệu vừa hò trùng với con bài cuối cùng có trên tay mình, thì đó là người thắng cuộc, ván bài kết thúc. 
Anh hiệu vội vã mang đến cho người thắng cuộc một lá cờ ngân, giắt lên mái chòi, để cho nó bay phần phật trong làn gió xuân ấm áp, rồi bắt đầu ván khác. 
Có 11 lá cờ ngân được bán ra trong một cuộc chơi bài chòi, nhưng người ta chỉ chơi 10 ván bài thì dừng. Lá cờ ngân thứ 11 là phần lãi của ban tổ chức. Kết thúc cuộc chơi, các tay chơi mang những lá cờ ngân đoạt được đến chòi trung ương để đổi thành tiền. Một cuộc bài chòi thắng được một lá cờ ngân là hòa vốn; được hai, ba cờ trở lên coi như vận đỏ đầu năm đã gõ cửa. 
Cái hấp dẫn của thú chơi bài chòi là ở giọng hò và điệu bộ của anh hiệu. Ðó vừa là người bày trò, vừa là diễn viên hát bội, tếu táo, giỏi ứng đối, thì mới điều khiển cuộc chơi và tạo hứng thú cho trò vui này. 
Vì thế, nên mỗi khi mở hội bài chòi, tiếng cười, tiếng nhạc, tiếng trống… vọng đến tận thôn cùng ngõ hẻm, đủ sức hấp dẫn nam phụ lão ấu tìm đến hội bài chòi ngày xuân để mua vui.
****
Ngày 25.8.2014, Bộ VH, TT&DL Việt Nam đã công nhận nghệ thuật bài chòi ở các tỉnh: Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình và thành phố Đà Nẵng, là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thuộc loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian.
Ngày 7.12.2017, tại kỳ họp thứ 12 diễn ra tại Jeju (Hàn Quốc), Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, đã vinh danh “Nghệ thuật bài chòi Trung bộ của Việt Nam” là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Trần Đức Anh Sơn

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.