Đặng Tiến viết về Tế Hanh và Tế Hanh “đấu tố ” cụ Phan Khôi trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm như thế nào !

Đặng Tiến

TẾ HANH,

DÒNG SÔNG, MÙA HẠ

                          Nguồn hình : honvietquochoc

Mùa Hạ.

Tế Hanh.

Anh đến nhân gian một ngày hạ chí, 15-5 năm Tân Dậu, suy ra ngày dương 20-6-1921, cũng vào ngày hạ chí, rồi ra đi một buổi trưa hè, 16-7-2009.

Tế Hanh sáng tác tập thơ Nghẹn Ngào chủ yếu vào kỳ nghỉ hè, 1939 và được giải khuyến khích Tự lực văn đoàn năm đó. Đến ngày anh mất là 70 năm. Những con số như là mệnh số. Đôi lời thơ giản lược đời anh :

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp lánh

Tháng 6-1956, Tuyển Tập, tr.90

Hay là :

Trái tim mùa hạ say sưa nở
Mắt nắng long lanh khắp ngã đường
(…) Hồn trưa rạo rực mong ai đó
Suối đỏ lan tràn đến tận đâu ?

Hè 1969, Tuyển Tập, tr.214

Tế Hanh bắt đầu nổi tiếng với một tác phẩm chưa hề được xuất bản là Nghẹn Ngào, sau này sẽ được tăng cường, đổi tên là Hoa Niên, nhà Đời Nay xuất bản giữa năm 1945, ít người đọc vì thời cuộc lúc đó1.

Nhiều người biết thơ Tế Hanh là qua Thi Nhân Việt Nam, 1942, do Hoài Thanh và Hoài Chân trích dẫn, là những bài Quê Hương, 1939, Lời Con Đường Quê, 1937, Vu Vơ, sau đổi tên là Những ngày nghỉ học, 1938, và Ước Ao. Riêng bàiQuê Hương được phổ biến rộng rãi nhờ dược in trong các sách giáo khoa bậc tiểu học, theo chương trình Trần Trọng Kim từ thời kháng chiến chống Pháp và nhiều khi được đổi tên, như Làng đánh cá, ngày nay nhiều người cao tuổi còn nhớ. Tại miền Bắc và cả nước sau này, bài Nhớ con sông quê hương, 1956, được giảng dạy ở các lớp phổ thông nên nhiều người biết. Tế Hanh là một tác gia có quần chúng.

Ngoài ra, về mặt văn học một số người biết hai bài Quê Hương và Những ngày nghỉ học qua lời giới thiệu trên báo Ngày Nay, Hà Nội, cuối năm 1939 khi nhóm Tự Lực Văn đoàn trao giải thưởng cho Tế Hanh. Bài viết có hiệu lực vì ký tên Nhất Linh :

« Tế Hanh có rất nhiều hứa hẹn trở nên một thi sỹ có tài, ông có một linh hồn rất phong phú, có những rung động rất sâu sắc. Và để diễn tả tâm hồn, ông có đủ nghệ thuật và cách đặt tìm câu chữ. Ông chỉ còn chờ thời gian để gặp nhiều cảnh và viết thêm được nhiều bài thơ hay 2 ».

Nhất Linh trong lời giới thiệu nhanh và khái quát đã có nhận định tinh tế – cũng như Hoài Thanh sau đó : tâm hồn phong phú, rung động sâu sắc cần « thời gian để gặp nhiều cảnh » « cảnh » đây là phong cảnh hay hoàn cảnh. Tế Hanh không làm thơ bằng trí tưởng (imaginaire) như nhiều nhà thơ khác. Đây là sở trường cũng là sở đoản của anh.

Trải dài non 70 năm, sáng tác Tế Hanh có thể thu lại trong hai chữ « tình cảnh ». Cảnh do tình cảm tạo ra như trong Nhớ Con Sông Quê Hương ; tình do cảnh ngộ tạo ra, như cuộc chia ly Nam Bắc ; cũng có bài thơ hay lọt ra ngoài quỹ đạo đó, nhưng không nhiều.

Khởi thủy thơ Tế Hanh là thơ học trò, rung cảm cũng tàn theo những mùa hoa phượng. Hoa Niên gồm 40 bài ; đưa vào Tuyển Tập 1987 còn lại 10 bài, bỏ rớt 3/4, tỷ lệ ngược lại so với Xuân Diệu, tập Thơ Thơ, 1938, đưa vào Tuyển Tập 1986 được 3/4. Lửa Thiêng của Huy Cận cũng đại khái như vậy. Cả ba vị đều là quan chức quyền thế, chắc là không ai o ép. Nhưng gạt bỏ đến 3/4 tập thơ đầu tay chắc cũng có phần đau xót.

Ví dụ bài Quyển vở Nháp dù không hay vẫn tiêu biểu cho đặc điểm của Tế Hanh, và một lối thơ thời đại :

Những vở soạn bài hay toán, luận
Địa dư, cách trí… dáng lo âu
Chỉnh tề, đầy đủ như ông giáo,
Vở nháp lôi thôi giống học trò.

Hoa Niên, 1945, tr.26

Bài này còn có tác dụng sư phạm, dạy các em tập làm văn. Bài Những Đêm Tốiđược Hoài Thanh trích đoạn :

Kìa lên em ! Rực rỡ bốn phương trời,
Đôi mắt to ném lửa sáng muôn nơi…

Hoa Niên, tr.44

Là một bài thơ hay, dù không đúng giọng, như Hoài Thanh đã nhận xét chính xác : « lời thơ còn có gì lệch so với hồn thơ » (1941). Bài này cũng bị loại. Cái Tế Hanh bị bỏ sót, cái không Tế Hanh cũng bị bỏ sót, khiến ta nhớ lời Xuân Diệu ví von : giết bao nhiêu con vịt mới làm được bát tiết canh. Và trên non 20 thi phẩm Tế Hanh xuất bản sau này, không rõ có bao nhiêu bài bị loại ; những bài được tuyển không phải bài nào cũng hay. Nhiều bài, nhiều câu tuyên truyền lộ liễu ngày nay khó đọc lại (nhưng đọc những bản dịch qua tiếng Pháp, như của Boudarel thì lại xuôi tai. Cũng là một chuyện đáng suy nghĩ).

Nói chung, nhờ kinh nghiệm sống, học tập và sáng tác, thơ Tế Hanh về sau có phần điêu luyện hơn, dù trên cơ bản anh vẫn trung thành với một phong cách, lâu dần biến thành một quan niệm lý thuyết.

Tôi muốn viết những bài thơ dễ hiểu
Như những lời mộc mạc trong ca dao.

1957, Tuyển Tập, tr.100

Lấy ví dụ cụ thể : bài Biển làm 1974, mang hơi hướm lối thơ lãng mạn thuở Hoa Niên, nhưng lời thơ trau chuốt, giàu hình tượng và âm điệu hơn :

Em chạy ùa ra phía biếc xanh
Tóc em trong gió thổi bồng bềnh
Em cười đôi mắt long lanh nắng
Muốn ôm tất cả khoảng mông mênh;

Con sóng từ xa khơi tiến đến
Lượn dài uyển chuyển cánh tay giăng
Uốn mình như múa theo chân gió
Hơi thở phồng trên mặt phẳng bằng

Và khi làn xanh vươn cao lên
Bọt trắng tung trào tỏa bốn bên
Ấy lúc gởi vào trong tiếng sóng
Lời chào của biển đến bên em.

Tuyển tập, tr.290

Lời thơ tình tứ, kín đáo, lành mạnh, có thể giảng dạy cho các em nhỏ “tập làm văn”.

Trong nghệ thuật, khó dùng khái niệm tiến bộ, nhưng rõ là bài Biển có phần điêu luyện hơn thơ thất ngôn trong Hoa Niên cùng một đề tài trữ tình. Đây là nghề dạy nghề, Tế Hanh thườngxuyên thực tập và học hỏi chớ không phải “nhờ có cách mạng, nhờ có nhân dân Tế Hanh đã đem một chất mới cho bản thân mình, riêng cho mình, rất Tế Hanh” như Chế Lan Viên đã viết trong câu kết bài bạt cho Tuyển Tập. Viết như vậy, là nói lấy được, không những là nói sai, mà còn nói ngược.

Chế Lan Viên thường nhắc câu này của Tế Hanh, không ghi xuất xứ :

Sang bờ tư tưởng ta lìa ta,
Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà.

Câu thơ diễn tả tâm trạng người nghệ sĩ thời Pháp thuộc bước sang đời Cách mạng sau 1945, phải “lột xác” để sáng tác, lìa bỏ con người trí thức tiểu tư sản, mong hòa mình với hiện thực và quần chúng. Câu thơ có hai mặt : tự nó, nó có giá trị thi pháp, tân kỳ, hàm súc và gợi cảm. Là câu thơ hay. Nhưng trong ý đồ của tác giả, và người trích dẫn, thì là một câu thơ hỏng, vì nó chứng minh ngược lại dụng tâm khởi thủy. Rõ ràng là câu thơ trí thức tiểu tư sản suy thoái. Gậy ông đập lưng ông.  Đây là một vấn đề văn học lý thú.

Tế Hanh thường kể lại, thời chống Pháp là thời kỳ sáng tác khó khăn nhất, vì “có những quan niệm chưa được giải quyết rõ ràng trong sáng tạo 3.” Anh chỉ có được bài Người Đàn Bà Ninh Thuận, 1952 kể chuyện chiến tranh, không lấy gì làm độc đáo. Nghiệm cũng lạ lùng : thơ Tế Hanh thường xuất phát từ một sự việc cụ thể : chiếc rổ may, cuốn vở nháp, con đường quê, vậy thì gặp ngọn gió chủ nghĩa hiện thực, thơ anh phải phất như diều chứ ? Nhất là Tế Hanh hăng hái tham gia cướp chính quyền từ 1945, được kết nạp vào Đảng rất sớm, tháng 11-1947, hai năm trước Xuân Diệu. Thế mới hay trong lãnh vực nghệ thuật ý chí chính trị và năng lực sáng tạo không nhất thiết phải sinh đôi. Như vậy thì cái gì lãnh đạo cái gì?

Thơ Tế Hanh bắt nguồn từ hiện thực cụ thể, lấy một ví dụ : dòng sông Tràng Giang của Huy Cận chắc cũng bắt nguồn từ một con sông nào đó vùng Nghệ Tĩnh, “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” nhưng vươn đến một con sông vô danh, một hình tượng văn học. Ai hỏi, Huy Cận cũng nói thế. Ở Tế Hanh cụ thể là con sông Trà Bồng, tên nôm là Châu Ổ, chảy qua huyện Bình Sơn, cách cửa biển Sa Cần “nửa ngày sông”, đúng như tác giả ghi nhận trong bài “Quê Hương”, 1939. Khi tập kết ra Bắc, anh Nhớ Con Sông Quê Hương, 1956, cũng là dòng sông ấy. Đến ngày đất nước thống nhất, vào mùa hè 1975, Tế Hanh Trở lại Con Sông Quê Hương, đã mô tả :

Hình dáng con sông thì chẳng khác,

Cho dù đời sống dân cư đã đổi thay :

Thuyền máy dọc ngang tỏa trắng lòng sông,
Nhà dân chài giăng những lưới ni lông
Màu xanh đỏ ngời ngời ánh nước.

Tuyển Tập, tr 273.

Con tuấn mã, xa xưa nay biến thành thuyền máy. Mảnh hồn làng nay giăng mắc trên lưới ni lông màu xanh đỏ.

Chữ “ga” gốc tiếng Pháp đã du nhập vào Việt Nam từ lâu, như trong thơ Tản Đà. Nhưng có lẽ đến bài Những ngày nghỉ học, 1938, sân ga mới thành một hình tượng văn học có chức năng truyền cảm, thay cho những bến đò, những quán trọ ngày xưa. Từ ngữ ngoại lai : lưới ni lông cũng trở thành một hình tượng văn học, chưa chắc gì đã kém nghệ thuật hơn một từ vựng cổ kính đã trở thành khuôn sáo:

Trước sân những tấm lưới giăng
Long lanh muối đọng kết bằng hạt trai

1974, Tuyển Tập, tr.289

Ba năm sau, 1978, Tế Hanh lại về quê. Cảnh vật lại đổi thay thêm. Người dân đắp đập trên sông để ngăn nước mặn dâng theo thủy triều, làm chua đất, “thoát khỏi từ đây cảnh ruộng phèn” :

Nghề nông vui, nghề biển thêm vui,
Thuyền máy đi nhanh nhiều cá tươi
Chiều về con đập đông như chợ
Bờ dưới bờ trên sóng rạng ngời

1978, Tuyển Tập, tr. 308

So với bài Quê Hương, 1939, thì vẫn ngần ấy yếu tố, nhưng cảnh quan đổi thay, tâm tình cũng đổi mới. Nhưng cấu trúc thi pháp nơi Tế Hanh vẫn nhất thiết như trước. Bài Thơ mới về con sông xưa này gồm 10 khổ, làm theo lối tự sự, đơn tuyến (linéaire) không khác bài thơ đầu tay Lời con Đường Quê bốn mươi năm trước bao nhiêu, về mặt cấu trúc. Chúng ta khó đưa ra một nhận xét như thế về thơ Huy Cận hay Xuân Diệu – và ở đây chỉ so sánh những tác giả có thể so sánh.

Chúng ta thừa dịp đi vào một phạm trù đại cương và sâu sắc hơn : cấu tứ trong thi pháp một nhà thơ mà Tế Hanh trở thành ví dụ.

Suốt đời thơ Tế Hanh nhẩn nha kể chuyện : chuyện đời mình, chuyện gia đình, giòng sông, cây mù u. Chắc anh cũng chẳng cố tình đâu, mà ý thơ cứ đến, cứ đến như thế. Dòng thời gian đơn tuyến cấu trúc tư duy Tế Hanh, ít nhất là tư duy sáng tạo. Ví dụ trật tự thời gian trong Quê Hương. Bắt đầu tác giả đo không gian bằng thời gian, cách biển nửa ngày sông, rồi tuần tự theo thời khắc : sáng mai hồng… ngày hôm sau…, con thuyền im bến…, nay xa cách. Rồi đến những động từ chuyển động : bơi thuyền đi…, đón ghe về…, nằm…, tưởng nhớ…. Trong khi đó dòng Tràng Giang của Huy Cận xuôi chảy bên ngoài thời gian :

Lòng quê dợn dợn vời con nước
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Thời gian, dòng sông, của Huy Cận, mơ sợi khói hoàng hôn, có thể là của Ulysse trong truyện Homère hay của Thôi Hiệu chảy qua lầu Hoàng Hạc. Thời gian trong Tế Hanh là thời gian cụ thể, có ngày có tháng, sống lại trong thơ. Cấu trúc thi pháp thơ Tế Hanh theo tuyến tính, là cấu trúc truyện kể (structure narrative) bài Nhớ Con Sông Quê Hương cũng vậy.  “Quê hương tôi có…, tâm hồn tôi là…, bạn bè tôi…, chúng tôi lớn lên…, tôi hôm nay…, tôi sẽ về…”. Lời con Đường Quê bài thơ đầu tay làm 1937 cấu trúc chìm cũng đại khái như thế.

Muốn kể chuyện, một là phải có chuyện, hai là cần có người nghe. Lịch sử đã cung cấp cho Tế Hanh cả hai điều kiện ấy. Trong một thời gian dài, miền Bắc đã có một quần chúng đông đảo nghe thơ, không phải vì phẩm chất của thi ca mà vì những chuyện kể có vần vè như một hiện thực được diễn ca. Mẹ Suốt, Theo chân Bác của Tố Hữu và rất nhiều bài thơ khác thuộc dạng đó, thậm chí còn phục sinh thể loại Trường ca. Còn về đề tài, với Tế Hanh là chuyện đất nước chia ly sau hiệp định Genève 1954, hứa hẹn hai năm sum họp, trở thành hai mươi năm khói lửa. Anh làm rất nhiều thơ về niềm nhớ thương Nam Bắc trong thời gian nhức nhối. Và chúng ta tự hỏi Tế Hanh phục vụ thời đại hay ngược lại, thời đại phục vụ cho Tế Hanh, cung cấp một cấu tứ cơ bản trong ý thức và tiềm thức, là thời gian. Và một quần chúng quảng đại, quảng đại trong hai nghĩa. Nói như vậy, không phải là phủ nhận tài hoa của Tế Hanh mà Nhất Linh đã hé thấy từ 1939. Nhưng để nói rằng : một số bài thơ thành công và được truyền tụng của anh là do tài hoa, tinh tế của trí tuệ, mà cũng có phần nhờ ngoại cảnh. Ngoại cảnh ở hai diện, phần tình cờ, vô thức là tuyến tính trong sáng tạo, và phần ý chí, là lịch sử, là sự kiện và quần chúng. Trường hợp Tế Hanh chưa chắc đã cá biệt ; giả thuyết cho rộng thoáng : giá các vị ấy sinh muộn mười năm, thì có thể vẫn có một Tố Hữu, mà chưa chắc đã có Xuân Diệu.

Hoàn cảnh khách quan thuận lợi cho Tế Hanh, lại là trở ngại về thi pháp : tuyến tính không phải là ưu thế của thi ca đối chiếu với văn xuôi. Một mặt, văn xuôi đơn tuyến, đi thẳng một mạch ; thơ chần chờ, vòng vo, đi tới đi lui. Nói theo Valéry : văn xuôi, so với thơ, như là đi bộ so với khiêu vũ. Mặt khác thơ không gắn bó với hiện thực, sự kiện mà có khi cần bắt nguồn từ hư tưởng, thậm chí hoang tưởng. Thích thơ Tế Hanh người đọc không bị mê hoặc, vì thơ Tế Hanh thiếu chất hoang đường để làm nên một tinh hệ riêng trên trời thơ Việt Nam.

Tế Hanh là nhà thơ bình dị, đến với văn học với những bài thơ học trò chơn chất. Trong phong trào Thơ Mới vào giai đoạn đã hoàn chỉnh và tân kỳ, thơ Tế Hanh vẫn hồn hậu. Tiếp cận với thơ Âu Tây rất sớm, Tế Hanh không chịu ảnh hưởng bao nhiêu, vì không cảm thụ được những hình ảnh xa lạ hay những rung cảm mới mẻ. Một cách tự nhiên thôi, tâm hồn non trẻ của anh chỉ rung động trước những hình ảnh thân quen : dòng sông quê, con đường đất; hiện đại lắm là sân ga với những toa đầy nặng khổ đau.

Sau này, sau 1955, kinh nghiệm sống phong phú hơn, kiến thức thơ thế giới dồi dào hơn, thơ Tế Hanh vẫn bình dị, và anh thành công nhất ở những suy cảm bình dị, như những bài thơ nửa tâm cảm, nửa chính luận, trong thời kỳ đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhưng thơ anh nhiều câu thật thà quá, nhiều bài nôm na, thô thiển khi cao giọng tuyên truyền hay khi tách rời ra khỏi những môi trường thân thuộc, ví dụ như bài Lê Nin và bản nhạc Bét tô ven, khởi thảo tại Liên Xô, 1967 (Tuyển Tập, tr 220).

Trong những người có địa vị trong phong trào Thơ Mới 1932-1945, Tế Hanh là người cuối cùng vĩnh biệt chúng ta. Về những tác gia Thơ Mới tôi đã có nhiều bài, riêng về Tế Hanh, tôi chưa từng viết được điều gì, trong khi với tôi, anh là người thân thiết nhất. Vì viết về anh rất khó, không thể nói riêng về một khía cạnh nào đó của thơ anh mà không đặt chung vào toàn cảnh của thơ Tế Hanh. Nói riêng về một đề tài, một bài thơ nào đó của Tế Hanh là lạc hướng và làm người đọc lạc hướng.

Trong bài này, tôi chủ quan cho rằng đã đề xuất vài điều chính yếu và tâm huyết, về hồn thơ và thi pháp một bậc đàn anh thân thiết.

Nhớ Tế Hanh.

Như một ngày hè xưa nhớ thương những mùa Hạ cũ.

Đặng Tiến

Orléans 15.8.2009


——————————
 

1 Hoa Niên đã được in lại, cùng với nhiều thi phẩm khác trong phong trào Thơ Mới, thành một bộ. Nxb Hội Nhà văn, 1992, TPHCM. Và trong sách Thơ Mới, tác giả và tác phẩm, nxb Hội Nhà văn, 1998, Hà Nội.

Thơ trong bài này trích từ Tuyển Tập Tế Hanh, nxb Văn Học, 1987, Hà Nội.

2 Nhất Linh, do Vương Trí Nhàn trích dẫn trong Nghiệp Văn, tr 234, nxb Văn Hóa Thông Tin, 2001, Hà Nội.

Theo bài Tế Hanh Lời Con Đường Quê trong Cây Bút Đời Người của Vương Trí Nhàn, trên blog VTN, chính Tế Hanh cung cấp bài này cho VTN.

3 Tế Hanh, Nhà Văn Việt Nam, chân dung tự họa. Lại Nguyên Ân và Ngô Thảo biên soạn, tr.99, nxb Văn Học, 1995, Hà Nội.

Nguồn : diendan.org

XEM TẾ HANH”ĐẤU TỐ CỤ PHAN KHÔI TRONG VỤ ÁN “NHÂN VĂN GIAI PHẨM’NHƯ THẾ NÀO !

15/10/2017 · by lequangchac · in Tài liệuThư giãn. ·

logo văn hóa
bồi bút

Trong đấu tố “Nhân văn-Giai phẩm”, Phan Khôi bị chửi rủa như thế nào?
—————————————-

Lại Nguyên Ân

Lại Nguyên Ân FB

PHAN KHÔI ĐI TRUNG QUỐC

Tế Hanh

Tế Hanh

Để các bạn hiểu thêm bản chất Phan Khôi, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây bài của TẾ HANH, trong đoàn đại biểu nhà văn Việt Nam sang dự lễ kỷ niệm Lỗ Tấn năm 1957. Bài này không nói đến lối làm tiền bỉ ổi của Phan Khôi, vì bài chỉ nhằm vạch trần bộ mặt phản cách mạng của tên phản động này

Trình chơi Âm thanh00:0000:00Sử dụng các phím mũi tên Lên/Xuống để tăng hoặc giảm âm lượng.

PhanKhoi

Cụ Phan Khôi

Nhân kỷ niệm 90 năm ngày chết của nhà đại văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn, Hội văn nghệ Việt Nam có ý định cử Phan Khôi đi dự vì Phan Khôi có dịch một số tác phẩm của Lỗ Tấn. Nhưng sau khi thấy trong tập “Giai phẩm mùa thu” có bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” của Phan Khôi đầy những vu khống hèn hạ, tiếp theo báo Nhân văn ra đời với tên Phan Khôi làm chủ nhiệm, các đồng chí Thường vụ Hội văn nghệ không đặt vấn đề cử Phan Khôi đi nữa. Lão ta rất hậm hực. Có lần gặp tôi lão nói: “Tôi biết mà! Họ trả thù”.
Sau đó, các đồng chí Thường vụ Hội văn nghệ có ý giúp Phan Khôi một dịp cải tạo, nên lại đặt vấn đề cho lão ta đi. Ngày 13 tháng 10 năm 1956, có cuộc họp của Thường vụ Hội để chuẩn bị cho đoàn đại biểu Việt Nam. Nhiều đồng chí lo ngại sức khoẻ Phan Khôi không biết có đi máy bay được không. Có đồng chí đã biếu lão ta cả 1 chai rượu quý để đỡ say sóng.
Phan Khôi đã đáp lại sự ân cần săn sóc ấy thế nào? Không được đi cũng chửi, mà được đi cũng chửi, đó là tâm địa Phan Khôi. Vừa đến Bắc Kinh hắn ta đã nói: “Cái bọn lãnh đạo văn nghệ hèn lắm. Chúng nó không muốn tôi đi nên mới giả vờ hỏi thăm sức khoẻ. Chúng tưởng tôi qua đây sẽ nói bậy gì. Tôi dại lắm sao? Tôi muốn nói thì nói ở nước nhà, cần gì qua đây mới nói!”.
Sự thật thì Phan Khôi đã nói bậy rất nhiều. Ở Bắc Kinh, sau lễ kỷ niệm Lỗ Tấn, Phan Khôi xin gặp nhà văn Mao Thuẫn, chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc. Lão ta tỏ vẻ hoài nghi vụ Hồ Phong nên đặt ra câu hỏi: Hồ Phong có hành động chống đối hay chỉ có tư tưởng chống đối. Thấy đồng chí Mao Thuẫn đưa ra những bằng chứng cụ thể về hành động phản bội của Hồ Phong, Phan Khôi hỏi trở qua câu khác. Lão nói nghe tin Hồ Phong được tha, có ý cho vụ bắt Hồ Phong là sai lầm nên mới tha. Đồng chí Mao Thuẫn cho biết hiện Hồ Phong đang bị giam và hỏi lại ai nói tin ấy. Phan Khôi bí thế nói loanh quanh là nghe tin đồn, rồi rút lui ra về tỏ vẻ thất vọng, đến nỗi hôm sau, đồng chí Chu Dương đến thăm lão ta nói với tôi: “Thôi lần này anh ra nói chuyện, tôi gặp ông Mao Thuẫn đủ rồi”.
Nhưng thua keo này bày keo khác, đó là tâm địa của Phan Khôi. Cách mấy hôm sau nhân dịp đi thăm sinh viên Việt Nam tại trường Đại học Bắc Kinh, Phan Khôi lại toan đem chuyện báo Nhân văn ra gieo hoang mang ở trong anh em. Lão hỏi: nào anh em có biết tình hình nước nhà không? Nào anh em chắc nghe nói xấu lão nhiều lắm, nào anh em chỉ đọc báo Nhân dân nên không thể biết hết sự thật… Nhưng trước thái độ thẳng thắn của anh em sinh viên Việt Nam cho lão biết là anh em theo dõi kỹ tình hình nước nhà và biết đâu là lẽ phải, Phan Khôi lại phải hậm hực ra về lần thứ hai (Tôi còn nhớ khi ra đi, tên Minh Đức có đem đến cho Phan Khôi một gói Nhân văn, Giai phẩm, ý định của chúng là muốn đem truyền bá nọc độc ở Trung Quốc. Nhưng người nhà kịp thời giữ gói sách, báo ấy lại).
Sau đó chúng tôi rời Bắc Kinh. Cùng đi với chúng tôi có hai đồng chí Trung Quốc, một nhà văn và một đồng chí phiên dịch. Hiểu rõ thiện ý của các đồng chí ta, các đồng chí Trung Quốc đã tận tình săn sóc Phan Khôi từ vật chất đến tinh thần. Ở Thượng Hải, Phan Khôi bị đau răng, các đồng chí đã mời cả một bác sĩ, hàng ngày trông nom. Lành bệnh, Phan Khôi nói với tôi: “Y tế người ta thì thế, y tế Việt Nam chẳng ra sao”. Cái lối khen Trung Quốc để chê ta là mánh khoé của con cáo già ấy. Đến thăm mỏ than Vũ Thuận, sau khi nghe đồng chí giám đốc trình bày về những tiến bộ của mỏ than từ 7 năm nay (nghĩa là từ khi giải phóng 1949), Phan Khôi liền phát biểu ý kiến: “Trong 7 năm nay mà Trung Quốc làm được nhiều việc quá. Ở Việt Nam chúng tôi 3 năm nay chưa làm được gì!” Đồng chí giám đốc phải vội trả lời: “Việt Nam còn ở thời kỳ khôi phục kinh tế bị chiến tranh tàn phá. Ba năm đầu của chúng tôi cũng khó khăn lắm”. Một mánh khoé khác của lão ta, là phát biểu ý kiến lập lờ hai mặt. Có lần đến thăm mộ Tôn Trung Sơn ở Nam Kinh, thấy trước mộ có cái bia khắc một hàng chữ do Tưởng Giới Thạch viết, Phan Khôi liền nói: “Ở Việt Nam thì họ phá rồi”. Nhà văn Trung Quốc không biết ý xấu của lão ta liền trả lời: “Chúng tôi thấy không cần phá, vì hàng chữ ấy ca ngợi Tôn Trung Sơn”. Phan Khôi nói tiếp “Ở Việt Nam họ phá vì hẹp hòi”. Nhà văn Trung Quốc liền đáp lại: “Ở Trung Quốc nhiều nơi người ta cũng phá. Sự phẫn nộ của nhân dân đối với bọn phản cách mạng nơi nào cũng có, và khi nào cũng chính đáng”.
Phan Khôi thường cho mình là một nhà học giả và chê ai cũng dốt. Và đây: lão ta đã nhiều lần bày tỏ cái trí học nhiều biết rộng của mình! Đi thăm nhà máy thép An Sơn, nhìn những máy tự động chỉ do một vài người điều khiển, lão ta có vẻ suy nghĩ lắm. Trong bữa tiệc, Phan Khôi nâng cốc rượu phát biểu ý kiến: “Xem nhà máy An Sơn, tôi thấy câu nói sau đây của Mác không đúng hoàn toàn. Mác nói: “Lao động sáng tạo thế giới”. Theo tôi thì phải nói: lao động và trí thức sáng tạo thế giới”. Một đồng chí Trung Quốc liền nói: “Khi Mác nói lao động là chỉ cả lao động trí thức và chân tay”. Phan Khôi cãi bướng: “Tôi chắc sau này người ta lại suy diễn ra, chớ khi ấy, Mác không có ý nói bao hàm như vậy”.
Nếu là người biết ít nhiều xấu hổ, thì người ta sẽ làm thinh học hỏi, cái này Phan Khôi vẫn dương dương tự đắc về cái hiểu biết của mình và không bỏ dịp nào là không đem khoe. Lần nay đoàn chúng tôi đã xuống phía Nam. Nhân đem cuộc triển lãm kỹ nghệ Trung Quốc ở Quảng Châu, đồng chí phụ trách hỏi ý kiến Phan Khôi, lão ta liền nói: “Theo tôi nghĩ thì nước ngoài phục Trung Quốc không phải vì chủ nghĩa cộng sản mà vì nền kỹ nghệ Trung Quốc. Ngày kia kỹ nghệ Trung Quốc sẽ chiếm thị trường thế giới!” Tôi vội nói: “Không thể tách rời chủ nghĩa cộng sản với sự phát triển kỹ nghệ, chính vì nhờ có Đảng cộng sản lãnh đạo mà kỹ nghệ Trung Quốc phát triển”. Đồng chí Trung Quốc nói tiếp: “Trung Quốc chúng tôi phát triển kỹ nghệ để cung cấp cho nhân dân, chớ không phải để chiếm thị trường thế giới” – Phan Khôi có lẽ thấy mình hớ quá vội nói: “Ý tôi nói máy móc kỹ nghệ Trung Quốc sẽ bán ra ngoài nhiều”.
Cũng ở đây, trong bữa tiệc do phân hội nhà văn Quảng Châu chiêu đãi, Phan Khôi uống nhiều rượu rồi nói giọng nhè nhè: “Tôi thấy người ta yêu chủ nghĩa cộng sản là phải…” Mọi người chờ một lời phấn khởi. Không để Phan Khôi nói tiếp: “Vì chủ nghĩa cộng sản sẽ đi đến cộng thê”. Mọi người cho lão say nên sẵn sàng cho qua, chỉ một nữ văn sĩ, vợ đồng chí Chú, chủ tịch phân hội nhà văn Quảng Châu lên tiếng: “Nếu lời ấy là của đồng chí Chu thì tôi phản đối mạnh”. Cho Phan Khôi quá chén, chúng tôi vực lão ta về.
Khi trước đi với Phan Khôi tôi chỉ cho lão ta dốt và gàn. Bây giờ nghĩ lại, tôi mới thấy không phải chỉ Phan Khôi ngu dốt và ương gàn mà nói “bậy” thôi đâu. Phan Khôi còn xấu xa nữa. Sau khi thấy cách hỏi thẳng (như hỏi đồng chí Mao Thuẫn, lúc đến trường Đại học Bắc Kinh) thất bại, Phan Khôi dùng thủ đoạn xỏ xiên. Như khen Trung Quốc chê Việt Nam. Hoặc bắt đầu ca ngợi sau mới chỉ trích. Các đồng chí Trung Quốc chắc cũng nghĩ như tôi, cho Phan Khôi lạc hậu thôi và kiên trì giúp đỡ. Nhưng không phải vì dốt mà Phan Khôi nói nước ngoài phục vụ Trung Quốc không phải vì chủ nghĩa cộng sản mà vì kỹ nghệ phát triển và kỹ nghệ Trung Quốc sẽ chiếm thị trường thế giới, không phải vì say mà Phan Khôi nói cộng sản sẽ cộng thê. Cái con người ngày trước đã chế riễu “phong trào cộng sản giống như đống lửa rơm”, gọi phong trào Xô viết Nghệ An là “loạn cộng sản”, chính là con người đểu giả (chớ không phải học giả) đã mượn cớ khen Trung Quốc để chê Việt Nam, đã xuyên tạc Lỗ Tấn, bắt chước nhà đại văn hào đả kích bất hợp pháp bè lũ Tưởng Giới Thạch để xỏ xiên chế độ ta, để lợi dụng lòng tốt của các đồng chí Trung Quốc, đã núp dưới cái nhãn hiệu “nhà văn lão thành” để nói xấu ta, thậm chí đã giả vờ say để phun nọc độc vào chủ nghĩa cộng sản.
Cái con người chửi cộng sản ấy, cố nhiên chỉ có thể là con người ca tụng đế quốc mà thôi. Tôi nhớ lại, một hôm ở Bắc Kinh, Phan Khôi khoe với tôi: “Pháp nó thích tờ Nhân văn lắm”. Thấy tôi nhìn ngạc nhiên, lão ta biết lỡ lời liền nói sang chuyện khác. Có lần Phan Khôi nói về đời mình một cách trâng tráo: “Ngày trước (tức là trước cách mạng) người ta chỉ có hai con đường: một là làm cách mạng, hai là hút xách. Tôi lựa con đường thứ hai”. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đi thăm Trung Quốc, Phan Khôi ghé thăm người con học ở Nam Ninh, tên là Phan Lang Sa. Lão ta đã giải nghĩa cái tên ấy cho tôi và đồng chí phiên dịch Trung Quốc như sau: Thằng này sinh ngày 9 tháng 3, 1945. Ngày Nhật đảo chính Pháp. Tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng Nhật lật Pháp biết là Pháp sẽ trở lại cho coi (Lang Sa là France). Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Nhân dân ta không ưa gì quân phiệt Nhật, nhưng thấy thực dân pháp bị lật đổ ai chẳng hài lòng? Chỉ có một tâm hồn vong bản loại Phan Khôi mới mong Pháp trở lại thôi.
Như con quái vật đã hiện nguyên hình, Phan Khôi không lừa được ai cả. Ở Trung Quốc có lần Phan Khôi cãi với tôi và cho nhà văn lớn thời đại nào cũng là nhà văn chống đối. Nhà văn lớn có khi nào phát biểu ý kiến dốt nát và làm việc xấu xa như vậy! Còn nhà văn chống đối thì chống đối ai? Có người lầm tương Phan Khôi gàn bướng chống đối với thực dân Pháp đâu! Phan Khôi không chống đối bọn cướp nước ta đâu! Cái con người đã nêu ra triết lý “con chó phải ăn cứt”, cái người đặt tên con là Phan Lang Sa, con người ấy chỉ làm đầy tớ cho bọn cướp mà thôi. 
TẾ HANH
Độc lập, số 357 (1-5-1958)

(photo: Phan Khôi- Tế Hanh- Lại Nguyên Ân)


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.