Gióc Ba Chóp(Mikhail Gorbachev)

Mikhail Gorbachev: Bush và tôi kết thúc chiến tranh lạnh, nhưng hòa bình vẫn bị đe dọa

Tài liệu

Mikhail Gorbachev


♦ Chuyển ngữ: Đinh Từ Thức

11.12.2018

Damau.org

(Gorbachev, từng được giải Nobel Hoà Bình, là Tổng Thống duy nhất của Liên Xô)

bush and MG

Tại hội nghị thượng đỉnh tại Malta tháng 12 năm 1989, Tổng Thống Mỹ George H.W. Bush và Tổng Thống Liên Xô Mikhail Gorbachev đã chính thức chấm dứt cuộc Chiến Tranh Lạnh 
(Hình JONATHAN UTZ/AFP/Getty Images)


V
ào ngày được tin George Bush qua đời, tôi nhớ lại những buổi gặp ông cũng là điểm mốc lịch sử trong mối liên hệ cá nhân và trong mối liên lạc giữa hai nước Liên Xô và Hoa Kỳ.

Cuộc nói truyện nghiêm chỉnh đầu tiên của chúng tôi diễn ra vào tháng Mười Hai năm 1987, trong chuyến thăm chính thức của tôi tới Washington. Vào lúc ấy, George Bush là Phó Tổng Thống và đang tranh cử chức Tổng Thống.

Cao điểm cuộc viếng thăm là ký thỏa ước về lực lượng nguyên tử tầm trung (Intermediate-Range Nuclear Forces Treaty); sau đó, tôi sẽ rời buổi họp từ một căn cứ không quân. Theo thủ tục ngoại giao, hay có lẽ theo ý muốn riêng của ông, Phó Tổng Thống tháp tùng tôi tới đó. George đề nghị đi chung xe với tôi, đó là điều khác thường – chắc chắn không theo thủ tục ngoại giao.

Sau này, trong nhiều trường hợp, chúng tôi đã nhắc lại “cuộc thảo luận trên xe” đó. Nó đã vượt xa tầm truyện gẫu thường tình. Chúng tôi đã đồng ý rằng chuyện bang giao giữa hai nước hiện ở thời điểm mới và do những cơ hội mới đang được phát triển, nên được tối ưu hóa. Phó Tổng Thống đoan chắc với tôi rằng, nếu đắc cử, ông sẽ tiếp tục những gì chúng tôi đã khởi sự với Tổng Thống Reagan. Và điều quan trọng, như chúng tôi đã hứa với nhau, là trong mối liên lạc với các nước thứ ba, chúng tôi sẽ không làm hại quyền lợi của nhau.

Tuy nhiên, sau khi ông Bush đắc cử Tổng Thống, có báo cáo từ phía truyền thông Mỹ rằng, chính quyền mới chưa sẵn sàng tiếp tay với chúng tôi, rằng cần phải ngừng lại một thời gian để suy tính. Tại sao chính quyền [Mỹ] lại phải đợi? Chúng tôi nhận được nhiều tín hiệu xung đột, nhưng rõ ràng là phe cứng rắn đã gia tăng áp lực.

Mối liên lạc của chúng tôi đã mất đà tiến. Chúng tôi biết một số thành viên trong Chính Phủ đã thúc đẩy Bush tiếp tục trò chơi đợi chờ. Bởi đó, thông điệp gửi tháng Chín 1989 đã rất quan trọng: Tổng Thống sẵn sàng thương lượng tại điểm chung, ngay cả trước khi có trao đổi về các cuộc thăm viếng chính thức.

Những gì đã xảy ra tại hội nghị thượng đỉnh Malta vào tháng Mười Hai năm đó có thể mô tả không quá đáng như một đột phá lịch sử. Nổi bật trên hậu cảnh những xáo trộn tại Trung và Đông Âu và sự gia tăng tốc độ của tiến trình thống nhất nước Đức, bao gồm cả việc phá bỏ bức Tường Bá Linh, Bush nói: “Tôi phải đối phó thận trọng,” ông thêm, “Tôi sẽ không nhảy lên bức tường, bởi vì còn quá nhiều bất trắc.”

Khi phái đoàn hai bên gặp mặt, Bush phác họa một chương trình hợp tác giữa hai nước trong nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm dự án tài giảm vũ khí, nói chung là khả quan. Tôi đáp lại bằng tuyên bố: “Tân Tổng Thống Mỹ nên biết rằng, Liên Bang Xô Viết sẽ không phát động chiến tranh dưới bất cứ trường hợp nào … Hơn nữa, Liên Xô chuẩn bị để không còn coi Hoa Kỳ là kẻ thù nữa và công khai nói ra điều này.” Đây không phải là lời nói ngẫu hứng, nhưng là thái độ đã được khối lãnh đạo Xô Viết chấp thuận. Cuộc đối thoại của chúng tôi với Tổng Thống Hoa Kỳ đã tiếp tục với tinh thần đó.

Thượng đỉnh Malta là ranh giới cuối cùng của cuộc Chiến Tranh Lạnh. Điều này đã trở thành hiển nhiên khi những sự việc tại Trung và Đông Âu và việc thống nhất nước Đức đạt tốc độ nhanh chóng. Làm việc cùng nhau, chúng tôi đã thành công trong việc giữ cho tiến trình diễn ra trong hoà bình.

Vài tháng sau có một thử thách mới: Cuộc tiến quân vào Kuwait của Saddam Hussein, và ý đồ toan sát nhập nước này vào Iraq. Cuộc khủng hoảng này chứng tỏ rằng Chiến Tranh Lạnh đã là chuyện của quá khứ. Liên Xô và Hoa Kỳ giữ lập trường như đã cam kết. Cuộc xâm lăng đã bị lật ngược, nhưng Hoa Kỳ đã không chiếm giữ Iraq, không có “thay đổi chế độ.”

Tất cả những việc này đã xảy ra cùng với những biến cố trong nước tôi, trong thời điểm chuyển đổi sang dân chủ và thị trường kinh tế tự do, cũng đã có một bước ngoặt bất ngờ. Khuynh hướng cải tổ từng giai đoạn của tôi đã bị tấn công từ nhiều phía khác nhau – không chỉ từ những người muốn chặn tiến trình dân chủ để quay về chính sách cũ nhưng còn có cả những kẻ tìm cách phân tán đất nước và được sự ủng hộ của giới hăng máu tại Nga.

Trong những tình huống này, điều rất quan trọng cho tôi là phải có một ý tưởng rõ ràng về đường hướng của Hoa Kỳ. Tôi đã hỏi thẳng khi gặp Tổng Thống [Bush] tại London vào tháng Bảy năm 1991, trong kỳ họp của G-7, mà Tổng Thống Liên Xô đã được mời tham dự lần đầu tiên.

Bush đã trả lời: “Tôi tin rằng, thành công của ông phù hợp với lợi ích sâu xa của Hoa Kỳ. Nước Mỹ có lợi khi nhìn thấy ông giải quyết những vấn đề liên hệ tới các cộng hòa (trong liên bang Xô Viết). Sự tan rã của Liên Xô không có lợi cho chúng tôi.” Mặc dầu tại cuộc họp G-7 các đối tác Tây phương của chúng tôi đã không có những bước cụ thể giúp cho sự chuyển đổi của Liên Xô, tôi đã chấp nhận quan điểm của George Bush một cách nghiêm chỉnh.

Trong dịp thăm Liên Xô hơn hai tuần sau đó, chúng tôi đã có một cuộc thảo luận nghiêm túc và về tầm xa. Chúng tôi không chỉ ký Thoả hiệp giảm võ khí chiến lược (Strategic Arms Reduction Treaty) nhưng còn thảo luận lần đầu về dự án tương lai cho kế hoạch an ninh quốc tế (future international security system), sẽ được tạo ra bởi nỗ lực chung.

Tuy nhiên, dự kiến đó đã bị nhận chìm bởi cuộc đảo chánh hụt tại Liên Xô vào tháng Tám 1991. Biến cố này, dấy động bởi lực lượng phản loạn, đã thất bại, nhưng làm suy yếu vị thế Tổng Thống Liên Xô của tôi. Chúng tôi đã không thể duy trì được Liên Xô.

Tôi còn nhớ rõ ràng cuộc nói chuyện qua điện thoại của chúng tôi ngày 25 tháng 12, vài giờ trước khi tôi loan báo từ chức Tổng thống Liên Xô. Chúng tôi đã duyệt lại kết quả những hợp tác của chúng tôi. Thành quả chính là chúng tôi đã đồng ý phá hủy hàng ngàn võ khí hạt nhân, cả chiến lược và chiến thuật. Cùng nhau, chúng tôi đã giúp chấm dứt những xung đột tại nhiều nơi trên thế giới. Chúng tôi đã đặt nền tảng cho sự hợp tác giữa đất nước chúng tôi.

Những thành quả lịch sử đó đang trong tình trạng hiểm nguy. Thế giới hiện đang ở trên bờ một cuộc xung đột mới và một cuộc thi đua võ khí mới.

George và tôi, sau khi rời chính quyền, thường thảo luận về những chiều hướng đe dọa hoà bình thế giới. Thỉnh thoảng chúng tôi cũng bất đồng về cách nhận định các sự việc nhưng đồng ý trên một điểm: sự chấm dứt Chiến Tranh Lạnh không phải là thắng lợi của bên này đối với bên kia. Đó là thành quả của nỗ lực chung. Ngày nay, chỉ có nỗ lực chung mới có thể tránh được một cuộc đối đầu mới và sự đe dọa của một cuộc chiến tàn phá, nhờ đó, tái tạo tiềm năng một trật tự thế giới mới – an ninh hơn, công bằng hơn và nhân bản hơn.

* Dịch lại từ bản dịch tiếng Anh của Pavel Palazhchenko, đăng trên tạp chí TIME, ngày 05 tháng 12, 2018.

Gorbachev: những bài học từ cuộc đảo chính liên xô

Tài Liệu

Mikhail Gorbachev


♦ Chuyển ngữ: Đinh Từ Thức

23.08.2011

Moscow_19_August_1991-1

Hai mươi năm trước vào cuối tuần này (tuần 19-21 tháng 8 năm 1991), một nhóm thành viên của Bộ Chính Trị và các giới chức trong chính quyền Liên Xô đã toan làm một cuộc đảo chính. Họ đã lập ra một tổ chức vi hiến mệnh danh “ủy ban quốc gia khẩn trương”, cô lập tổng thống Liên Xô và tước đoạt quyền hành của ông.

Các biến cố vào tháng Tám đó là kết quả của cuộc tranh đấu chính trị gay go trong khoảng cuối những cố gắng lâu dài của chúng tôi để cải tổ Liên Bang Xô viết.

Vào những năm tái cấu trúc (perestroika), những thay đổi lớn đã biến đổi đất nước chúng tôi. Nhân dân ủng hộ cởi mở (glasnost); những cuộc bầu cử tự do tranh cử; và bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Nhưng bọn quan lại của Đảng Cộng Sản và trong chính quyền cuối cùng thấy rằng những thay đổi đó đe dọa địa vị của họ.

Những thay đổi ở tầm mức đó tại một đất nước lớn như thế, đa chủng tộc, quân sự hóa và toàn trị là điều không dễ. Phải công nhận rằng, là những lãnh đạo việc tái cấu trúc, chúng tôi cũng phạm những sai lầm. Chúng tôi đã hành động quá trễ để thay đổi Đảng Cộng Sản, điều này đã biến nó thành cái thắng trên tái cấu trúc, thay vì là động cơ; bản thân đảng đã phát động một cuộc tấn công tôi trong khi tôi là tổng bí thư của đảng, và cuộc tấn công này đã đạt đỉnh điểm tại hội nghị trung ương đảng vào tháng Tư năm 1991. Cuộc tấn công đã trở thành độc địa tới nỗi tôi đã loan báo từ chức.

Sự loan báo này làm ngạc nhiên những người tổ chức chiến dịch chống lại tôi, họ đã nghĩ rằng có thể cưỡng bách tôi chấp nhận các biện pháp khẩn trương để giải quyết những vấn đề quan trọng mà chúng tôi phải đối phó trong tiến trình cải tổ. Sau cuộc họp trong nhiều giờ, Bộ Chính Trị yêu cầu tôi rút lại quyết định từ chức và trở lại cuộc họp. Bây giờ tôi nghĩ mình đã sai lầm khi đồng ý với yêu cầu của họ. Đáng lẽ tôi nên đi đến cùng, vì những toan tính loại bỏ tôi, bằng cách này hay cách khác, đã đang tiến hành.

Vào tháng Bảy, Thủ Tướng Valentin Pavlov, Tổng Trưởng Quốc Phòng Dmitry Yazov và Vladimir Kryuchkov, chủ tịch KGB đã thuyết trình trước quốc hội, kêu gọi các biện pháp khẩn trương, và chuyển nhượng một số quyền hành từ tổng thống sang thủ tướng. Họ đã làm như vậy khi tôi vắng mặt: Tôi đang tham dự một cuộc họp ủy ban soạn Hiệp Ước Mới giữa các tiểu bang thuộc Liên Xô tại cư sở chính thức của tổng thống.

Hôm sau, tôi nói với quốc hội rằng tôi chống lại “các giải pháp khẩn trương”, và các dân biểu ủng hộ tôi.

Trong cuộc tranh đấu chính trị công khai, những kẻ chống lại tái cấu trúc đã thua. Nhân dân đã trở thành công dân; họ ủng hộ thay đổi ngay cả khi gặp khó khăn. Chúng tôi đã sửa soạn một chương trình chống lại khủng hoảng kinh tế, mà tất cả các cộng hòa, kể cả các tiểu bang vùng Baltic, đều sẵn sàng để thực hiện. Bản thảo Hiệp Ước Liên Bang đã được định ký vào ngày 20 tháng Tám. Một đại hội đảng đặc biệt đã được dự trù triệu tập vào mùa Thu, và có vẻ nó sẽ chia đảng thành hai phe cải cách và bảo thủ.

Chúng tôi đã lên kế hoạch, sau khi Hiệp Ước Liên Bang được ký kết, sẽ có bầu cử, và chúng tôi lập kế hoạch về những thay đổi lớn trong hàng ngũ lãnh đạo Liên Xô. Tôi đã thảo luận điều này với Tổng Thống Nga Boris Yeltsin và Tổng Thống Nursultan Nazarbayev của Kazakhstan ngay trước khi lên đường đi nghỉ ngắn hạn ở Crimea vào đầu tháng Tám.

Tôi đã kiệt sức sau nhiều tháng chiến đấu gay go, nhưng tôi đã đánh giá thấp sự chống đối của các lực lượng phản động. Đáng lẽ tôi nên hoãn lại kỳ nghỉ.

Vào ngày 18 tháng Tám, tôi nói chuyện điện thoại với các phụ tá và với Yeltsin về các chi tiết sau cùng của nghi lễ ký hiệp ứơc. Tôi đã định sẽ bay về Moscow vào ngày 19 tháng Tám để dự lễ ký kết, nhưng một nhóm không được mời đã kéo đến nơi cư ngụ của tôi. Mấy phút trước khi phái đoàn của những kẻ âm mưu đảo chính đến, tất cả các điện thoại của tôi – đường dây thành phố, các điện thoại chính thức và đường thông tin chiến lược – đều chết. Tôi hoàn toàn bị cô lập. Rõ ràng là những kẻ chống đối tôi trong Bộ Chính Trị và trong chính quyền đã chọn con đường đảo chính.

Tôi cho gia đình tôi biết rằng tình trạng này rất nguy hiểm cho đất nước và chúng tôi và tôi không biết tình hình sẽ kết thúc ra sao. Tôi nói rằng tôi không đồng ý với bất cứ toa rập nào với những người đó. Cả vợ tôi, Raisa, và gia đình chúng tôi đều nói rằng họ sẽ ở bên tôi dù chuyện gì xẩy ra.

Phái đoàn đòi tôi phải tạm thời nhường quyền hành cho Phó Tổng Thống Gennady Yanayev hay từ chức. Tôi từ chối thẳng thừng và đời triệu tập Viện Dân Biểu hay một phiên họp của Xô Viết Tối Cao.

Vài người viện lẽ rằng tôi chỉ cốt câu giờ, hy vọng sẽ thắng dù chuyện gì xẩy ra. Các luận điệu này đều sai và vu khống.

Đáp ứng của tôi với những kẻ mưu đảo chính là cú giáng đầu tiên vào kế hoạch của họ. Cũng quan trọng không kém là sự kiện họ đã không thể làm cho nhân dân sợ hãi. Xã hội của chúng tôi đã biết kháng cự, phản đối và đòi hỏi. Tổng Thống Yeltsin đã giữ lập trường vững vàng, lên án bọn mưu phản và gọi hành động của những kẻ âm mưu là một cuộc đảo chính. Tôi đã biết ơn và ca ngợi hành động của Yeltsin trong những ngày đó.

Những kẻ tham dự vào âm mưu này nói rằng, và một số người khác vẫn còn nói như thế, rằng họ muốn cứu liên bang của chúng ta. Nhưng, như tôi đã nói từ đầu, chung cuộc là họ đã phá hư đất nước. Mặc dầu cuộc đảo chánh đã sụp đổ ba ngày sau đó, nó đã làm hư các nguyên tắc của một đất nước chung, gia tốc cho các bang “thoát khỏi liên bang” – một tiến trình mà các nhà lãnh đạo Nga đã phát khởi từ lâu trước cuộc mưu phản. Bang nọ sau bang kia, các nền cộng hòa bắt đầu tuyên bố độc lập.

Tình trạng mà chúng tôi phải đối phó thực sự nghiêm trọng. Nhưng chúng tôi đã có thể triệu tập Viện Dân Biểu, và cơ chế này đã chấp thuận việc sửa soạn một bản dự thảo khác của Thỏa Ước Liên Hiệp, dựa trên khái niệm của một nước liên bang. Dù gặp đủ thứ khó khăn, nhưng chúng tôi đã mau chóng có được một dự thảo mới và bắt đầu trình bầy cho các nền cộng hòa.

Một lần nữa, lại có triển vọng chúng tôi có thể làm việc với nhau để chấm dứt tình trạng khủng hoảng này. Nếu không có sự toa rập giữa các nhà lãnh đạo của Nga, Ukraine và Belarus, gặp nhau tại Belovezhskaya Pushcha, thỏa ước mới đã có thể ký kết vào cuối năm 1991. Liên hiệp, có thể được gọi là Liên Hiệp các Bang có Chủ quyền (Union of Sovereign States), có thể được cứu vãn – dưới một dạng thức khác, trong đó tăng rất nhiều quyền cho các cộng hòa.

Nếu điều này thành sự thật, tôi tin chắc là việc cải tổ kinh tế sau đó sẽ bớt đau khổ hơn, sự sụp đổ của sản xuất kỹ nghệ sẽ có thể tránh được và sự suy thoái nguy hiểm của mực sống tại Nga sẽ có thể không xẩy ra.

Trên 20 năm qua, Nga đã trải qua bao nhiêu khốn khó. Giá của tự do đã trở thành cao hơn nhiều, và con đường tới đó đã khó khăn hơn nhiều, so với những gì chúng tôi ước tính khi chúng tôi chọn con đường đó. Ngay cả bây giờ, chúng ta vẫn còn ở nửa đường tiến tới một nền dân chủ ổn định. Nhưng chúng ta không có đường nào khác.

Những năm tới đây phải trở thành một thời đại tiến nhanh hơn về phía trước. Để điều này có thể sẩy ra, chúng ta phải đoàn kết toàn thể những người hỗ trợ việc thay đồi hơn nữa về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa tại Nga.

Tôi tin rằng điều này có thể được. Cơ hội đã trong tay, và chúng ta đừng để mất.

Tác giả là cựu tổng thống Liên Xô, và hiện đứng đầu “International Foundation for Socio-Economic and Political Studies”, một cơ sở nghiên cứu tại Moscow.

Nguồn: Mikhail Gorbachev, Lessons from the U.S.S.R. coup attempt, The Washington Post (Friday, August 19, 2011).


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.