Chuyện của một ông cựu lãnh đạo(kách mệnh vô sản) Tàu có tinh thần tiến bộ(có cảm tình với phong trào Thiên An Môn 1989): Triệu Tử Dương

Những câu chuyện của Triệu Tử Dương khi bị giam lỏng (phần I)

Tác giả: Tôn Phượng Minh

.KD: Mình nhận được văn bản ghi chép “Những câu chuyện của Triệu Tử Dương khi bị giam lỏng (phần I)- của Tôn Lệ Minh- sách do NXB Khai phóng xb- do bạn bè gửi cho.

Triệu Tử Dương là ai? Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “Triệu Tử Dương (17/10/1919– 17/1/2005) là một chính trị gia Trung Quốc. Ông từng giữ chức vụ Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ năm 1980 tới 1987 và Tổng Bí thưĐảng Cộng sản Trung Quốctừ năm 1987 tới 1989. Là một quan chức cao cấp trong chính phủ, ông đã lãnh đạo phe cải cách tiến hành những biện pháp cải cách thị trường đóng góp lớn vào tăng trưởng sản xuất và tìm kiếm các biện pháp giải quyết tình trạng quan liêu cũng như chiến đấu chống tham nhũng. Từng được đề cử là người kế tục Đặng Tiểu Bình, Triệu Tử Dương đã bị thanh trừng vì có tình cảm với những sinh viên tham gia biểu tình trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 và sống mười lăm năm cuối cuộc đời trong hoàn cảnh bị quản thúc tại gia”.

Từng là Tổng Bí thư ĐCS Trung Quốc- để rồi số phận cuối cùng bị quản thúc tại gia, chính trị- từ cổ chí kim, vốn là cuộc cờ, là “trò chơi” khắc nghiệt và tàn nhẫn của phe nhóm, gắn với vận mệnh của một đất nước, một quốc gia.

Thắng hay bại- vẫn là sự bất ngờ của số phận- và đương nhiên, vận mệnh đất nước đó, quốc gia đó đi trên ‘đường ray” nào- sẽ tùy thuộc vào cá nhân lịch sử đó, vào phe nhóm đó- văn minh hay độc tài? Thì dân tộc đó hoặc may mắn, hoặc phải chịu rủi ro…

Trí tuệ, phẩm cách, nhân cách một nhân vật lịch sử Trung Quốc hiện đại sẽ dần hiện lên dưới ngòi bút của Tôn Phượng Minh ra sao. Xin giới thiệu một số trang để bạn đọc chia sẻ

Kimdung/Kyduyen

(người yêu cần tri kỷ,viết cần tri âm)

——————-  

Kính tặng

Triệu Tử Dương hiến thân mình để kiên trì chính nghĩa, để Trung Quốc hướng tới nền chính trị dân chủ.

Tôn Phượng Minh

Triệu Tử Dương

Hạo nhiên chính khí, nhân gian vĩnh tồn

(tính cách ngay thẳng, tồn tại mãi trong dân gian)

Lời tựa của Lý Nhuệ

IVậy là bản thảo cuốn sách “Những câu chuyện của Triệu Tử Dương khi bị giam lỏng” đã được xuất bản, thật đáng mừng, đáng chia vui. Đồng chí Tôn Phượng Minh bảo tôi viết lời Tựa, quả là việc nghĩa khó mà từ chối được.

Tôi là người Hồ Nam. Tử Dương là người Hà Nam. Cả hai đều theo  học tại Vũ Hán, nơi nằm giữa hai tỉnh này. Tôi lớn hơn Tử Dương hai, ba tuổi. Khi tôi học tại Đại học Vũ Hán, thì Tử Dương đang học Trung học ở Vũ Xương. Trong phong trào “9-12”, tôi tham gia hoạt động trong liên minh học sinh bí mật Vũ Hán. Các bạn học của Tử Dương như Mật Gia Phàm và Tôn Sĩ Tường có quan hệ rất mật thiết với tôi. Năm 1980, khi Tử Dương công tác tại Quốc vụ viện, chúng tôi mới thường xuyên gặp nhau.

Những năm 1980, khi Tử Dương còn đương chức, tôi đã có hai cuộc tiếp xúc quan trọng với ông1. Một lần là bàn về vấn đề Tam Hiệp năm 1982. Ông tương đối tán thành quan điểm của tôi, từng phê chuyển bài viết của tôi “Những ý kiến về công tác thủy lợi” làm Văn kiện số một trong Hội nghị công tác thủy lợi được tổ chức lúc đó.

Lần khác là bàn về vấn đề Đặng Lực Quần. Tôi nói với Tử Dương là có người đang tìm cách để Đặng Lực Quần làm Tổng Bí thư, và trao đổi cách nhìn của tôi đối với vấn đề này, con người này. Sau đó, tôi đã viết một bức thư gửi “Đồng chí Tử Dương và đồng chí Tiểu Bình”. Tử Dương đã nhanh chóng trình bức thư đó lên Đặng Tiểu Bình. Và Đặng đã kịp thời đưa ra lời phê “Xoá hết mọi chức vụ của Đặng Lực Quần”. Việc này chỉ giải quyết  trong thời gian ba, bốn ngày.

Sau khi Tử Dương bị giam lỏng, tôi đã trực tiếp gặp ông ba lần. Hai lần tại nhà riêng của ông, một lần là tại phòng bệnh ông năm.

Chi tiết sự việc liên quan đến hai lần gặp gỡ giữa tôi và Triệu Tử Dương, xin tham khảo bài viết “Nhớ những lần gặp gỡ với Triệu Tử Dương”, đăng trên tạp chí “Khai Phóng”, kỳ số 4 năm 2006.

Hai lần gặp Tử Dương tại nhà riêng, một lần tôi đi một mình, một lần tôi cùng đi với Tôn Phượng Minh2. Chúng tôi thảo luận rất nhiều vấn đề.

Nhớ khi đó, tôi từng đề nghị Tử Dương viết hồi ký, viết ra những sự việc quan trọng đã trải qua, nhất là sự kiện “4 tháng 6” để lưu lại lịch sử chân thực cho đời sau. Ông là người trong cuộc của rất nhiều sự kiện lịch sử đương đại Trung Quốc. Nếu ông không nói ra, có thể thế hệ sau sẽ không hiểu rõ những sự kiện lịch sử quan trọng này. Tử Dương nói, sẽ suy nghĩ về đề nghị của tôi. Sau đó, ông nhờ riêng Tôn Phượng Minh nói với tôi, để tôi yên tâm, chí ít thì ông cũng lưu được những tài liệu có liên quan đến sự kiện “ngày 4 tháng 6” (4), sẽ nói lại cho thế hệ sau đúng sự thực về những sự việc mà ông đã trải qua, đã biết có liên quan đến sự kiện “ngày 4 tháng 6”.

Vẫn nhớ khi đó, Tử Dương đã canh cánh trong lòng việc Ngô Giang viết sai về mình. Trong cuốn “Con đường mười năm – Những năm tháng cùng ở với Hồ Diệu Bang”, Ngô có nói năm 1984 Tử Dương đã gửi một bức thư cho Đặng Tiểu Bình và Trần Vân. Nội dung bức thư là tố cáo tội của Hồ Diệu Bang. Tử Dương nói với tôi, đúng là lúc đó có gửi thư cho Đặng Tiểu Bình và Trần Vân, nhưng nội dung thư lại bàn đến việc khác, chứ không phải là tố cáo tội Hồ Diệu Bang. Rất may là còn giữ lại được bản thảo gốc của bức thư, xin gửi anh một bản phôtô. Tử Dương còn nói, mình đang ở vào tình trạng bị giam lỏng, không thể đứng lên để nói rõ sự tình, phân tích thật giả, chỉ hy vọng Ngô Giang nên có một bài thuyết minh cải chính; thế nhưng Ngô Giang mặc kệ, khiến Tử Dương vô cùng đau buồn. Nghe những thuyết minh của Tử Dương, đọc nguyên văn bức thư của ông, tôi cảm thấy những điều ông nói là rất thực.

Hôm gặp Tử Dương ở phòng bệnh tôi đi cùng với vợ tôi. Nhờ vợ tôi kiên trì, chúng tôi đứng một hồi lâu trước cửa phòng, mới được cho vào thăm. Sau khi gặp mặt, tôi đại diện nhiều đồng chí cũ hỏi thăm Tử Dương, mong đồng chí chú ý điều dưỡng hơn. Trong khi nói chuyện, chúng tôi đề cập đến hai cuốn sách, một cuốn có tên “Lý tưởng, niềm tin, sự theo đuổi” của Tôn Phượng Minh, một cuốn là “Cuộc đấu tranh chính trị trong những năm tháng.

2- Về lần gặp mặt này của hai chúng tôi với Triệu Tử Dương, tham khảo ở Tiết thứ hai Chương 45 sách này.

cải cách của Trung Quốc” của Dương Kế Thằng. Cả hai cuốn sách đều nói đến Tử Dương và đường lối cải cách Trung Quốc do ông đề xuất cùng những đối xử bất công mà ông phải chịu.

Tử Dương rất quan tâm đến cảnh ngộ của hai tác giả, chỉ lo hai tác giả vì nói thay mình mà bị liên lụy. Tôi nói với Tử Dương, lãnh đạo đơn vị của hai tác giả này đều đã tìm họ nói chuyện, thẩm tra truy hỏi vì sao lại ra hai cuốn sách đó; thế nhưng trước mắt họ vẫn sinh hoạt bình thường. Tử Dương nói: “Thế thì tôi yên tâm”.

Đây là lần gặp mặt cuối cùng của tôi với Triệu Tử Dương. Hơn mười ngày sau ông từ trần. Có lẽ tôi là một lão đồng chí mà ông gặp mặt cuối cùng. Trong những người từng đảm nhiệm vai trò lãnh đạo của Đảng, Triệu

Tử Dương là một người hiếm có. Ông vừa tiếp thu những bài học kinh

nghiệm lịch sử của Đảng và vừa có thể tiếp thu một số mặt tốt của phương Tây, tôn trọng qui luật phổ biến của sự phát triển xã hội loài người, cố hết sức để đưa Trung Quốc đi con đường đúng đắn.

Ông chủ trương, không những Trung Quốc phải phát triển kinh tế mà còn phải xây dựng dân chủ và pháp trị, chính vì vậy đã nảy sinh bất đồng với Đặng Tiểu Bình. Mấu chốt của bất đồng này rốt cuộc là cải cách Trung Quốc có bao gồm vấn đề cải cách chính trị hay không.

Đặng Tiểu Bình chỉ tán thành cải cách kinh tế, không cho phép cải cách chính trị, chủ trương thực hiện kinh tế thị trường dưới tiền đề nhấn mạnh đến sự khống chế toàn diện xã hội của Đảng. Kết quả dẫn đến nền kinh tế thị trường hủ bại mọc lên như nấm, có thể nói đó là chủ nghĩa tư bản quyền quí buông thả, mà trong đó đầy rẫy những hiện tượng giao dịch quyền và tiền, những hiện tượng bất công trong xã hội, đồng thời cũng vì đó mà làm gay gắt hơn các mâu thuẫn xã hội, như mâu thuẫn giữa cán bộ và quần chúng, giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông thôn v.v…Đến nay, những mâu thuẫn xã hội này vẫn đang phát triển, có khả năng thai nghén thành những khủng hoảng xã hội.

Triệu Tử Dương chủ trương không những phải cải cách thể chế kinh tế, mà còn phải cải cách thể chế chính trị, nhất định phải đi theo con đường kết hợp giữa kinh tế thị trường với dân chủ pháp trị.

Ông quyết tâm thay đổi thể chế chỉ cần một người nói là xong của Đảng này, ra sức chủ trương mở rộng dân chủ trong Đảng, biến nguyên tắc chế độ tập trung thành nguyên tắc chế độ dân chủ. Ông từng đề nghị trong ban lãnh đạo hạt nhân ở Trung ương không lập chức vụ Tổng Bí thư, áp dụng phương thức luân lưu đứng đầu trong Thường vụ Trung ương, nhằm ngăn chặn chuyên quyền cá nhân.

Ông còn quyết tâm thay đổi tình trạng Đảng lũng đoạn, độc quyền tất cả (bao gồm lũng đoạn mọi quyền lợi của người dân) tại quốc gia này, ra sức mở rộng dân chủ xã hội, thay đổi Nhà nước một Đảng chuyên chính thành Nhà nước dân chủ pháp trị. Ông chủ trương phải thực hiện công khai nhiệm vụ của Đảng, công khai nhiệm vụ của chính quyền, công khai tài chính; trực tiếp bầu cử cán bộ lãnh đạo các cấp ở thôn, xã, huyện, thành phố, giảm tuyển cử cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh và trên cấp tỉnh; thực hiện phân chia tách bạch Đảng và chính quyền. Các Bộ, Uỷ ban thuộc Quốc vụ viện không thành lập các Ban cán sự Đảng; Đảng ủy không thành lập những ban ngành trùng lặp; đồng thời bảo đảm quyền lợi công dân, thực hiện công nhân tự trị, thôn dân tự trị, cho mọi người tự do ngôn luận.

Tử Dương còn tích cực chống “phái tả”. Năm 1983, ông và Hồ Diệu Bang đã cùng nhau ngăn chặn màn kịch “Quét sạch ô nhiễm tinh thần” của một số người như Đặng Lực Quần và Hồ Kiều Mộc, khiến hoạt động trở lại của phái tả này chỉ diễn ra trong 28 ngày đã tắt ngấm.

Năm 1987, Hồ Diệu Bang bị ép phải từ chức, phái tả một lần nữa phản công, bùng lên làn sóng điên cuồng “phản đối tự do hóa của giai cấp tư sản”. Triệu Tử Dương đã kịp thời phát biểu bài nói chuyện “ngày 13 tháng 5” kiên quyết ngăn chặn sự lan tràn của làn sóng điên cuồng đó, lập tức giải tán luôn “ngôi chùa phái tả” của Đặng Lực Quần tức là “Tổ nghiên cứu của Ban Bí thư TW” và đổi tên Tạp chí “Hồng Kỳ” thành tạp chí “Cầu Thị”.

Năm 1989, Hồ Diệu Bang qua đời, nổi lên phong trào học sinh sinh viên. Tử Dương đã kiên trì xử lý sự việc nảy sinh bất ngờ này trên cơ sở dân chủ và pháp trị, chủ trương đối thoại hòa bình, phản đối thiết quân luật, không lo vì chuyện này mà mất chức và mất tự do, chịu giam lỏng lâu dài không thời hạn, cho tận đến lúc qua đời.

Trong lịch sử của Đảng, liên tục xuất hiện Hồ Diệu Bang và Triệu Tử Dương, cả hai đảm nhiệm chức Tổng Bí thư, là một may mắn không dễ có. Có người nói, người trước là “lương tâm” của Đảng, người sau là “bộ não” của Đảng.

Hai vị Tổng Bí thư đều tích cực thúc đẩy sự nghiệp cải cách, hơn nữa đều chủ trương cải cách kinh tế phải đồng bộ với cải cách chính trị. Do vậy, trong vấn đề này đã vượt qua Đặng Tiểu Bình, cũng bởi vậy mà đã khiến Đặng Tiểu Bình tức giận, dẫn tới bi kịch lịch sử.

Nhưng hai vị Tổng Bí thư này cũng có chút khác nhau. Trên con đường dân chủ hóa chính trị, Diệu Bang có bước đi sớm hơn, còn Tử Dương thì đi xa hơn, cứ như là để làm giảm bớt sự lãnh đạo của Đảng thì phải hủy bỏ Ban Cán sự Đảng tại cơ quan nhà nước. Về kết cục chính trị cá nhân, cuối cùng Diệu Bang đã làm kiểm điểm trái với lương tâm, còn Tử Dương thì từ chối làm kiểm điểm trái với lương tâm, chính vì thế phải trả giá bằng việc mất tự do.

Tôi đã gặp trực tiếp Diệu Bang để hỏi vì sao phải làm cuộc kiểm điểm đó. Ông trả lời: “Tôi còn phải nghĩ tới đất nước này”. Ông lo lắng vì vấn đề của mình mà liên lụy đến người nhà.

Về sau, Tử Dương cũng phải đối mặt với vấn đề mà năm đó Diệu Bang đã phải đối mặt, cũng phải lo nghĩ liệu những quyết định mình đưa ra có liên lụy đến người nhà hay không. Vì thế, ông đã triệu tập cuộc họp gia đình, trưng cầu ý kiến của mọi thành viên trong gia đình. Người nhà đều đồng tình ủng hộ ông, không hề oán thán và hối hận.

Tử Dương không còn phải trăn trở lo nghĩ, nên đã đưa ra quyết định phản đối giới nghiêm và từ chối kiểm điểm. Quyết định này của ông thật tuyệt vời:

Một là, quyết định vì kiên trì chân lý sẵn sàng hy sinh bản thân. Khi đó, ông đã chuẩn bị cho việc phải ngồi tù.

Hai là, quyết định viết, sửa lại lịch sử đời sống chính trị trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông là vị Tổng Bí thư mất chức đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc kể từ khi dựng nước đã từ chối làm kiểm điểm và cũng là vị Tổng Bí thư mất chức thứ hai của Đảng CS Trung quốc sau Trần Độc Tú từ chối làm kiểm điểm.

Tóm lại, Tử Dương đưa ra những quyết định đó, là vì có trách nhiệm với Đảng, với quốc gia này và với giai đoạn lịch sử này.

II

Được Tôn Phượng Minh ủy nhiệm tôi đã đọc bản thảo đầu tiên của cuốn sách này. Sau đó lại được sự ủy nhiệm của Tôn Phượng Minh và người nhà Triệu Tử Dương, tôi đã đọc bản thảo thứ hai của cuốn sách. Mỗi lần, tôi đều đọc rất kỹ. Còn nhớ lần đọc bản thảo thứ hai, đã đọc trong suốt một thời gian rất dài, đọc đến nỗi mờ cả mắt.

Tôi đọc tương đối kỹ vì suy nghĩ về việc bản thân Tử Dương không để lại hồi ký, còn người khác cũng không thể liên tục nói chuyện chân thành với ông và ghi chép tỉ mỉ được một quãng thời gian dài tới mười mấy năm đó. Do vậy, cuốn sách này của Tôn Phượng Minh có ý nghĩa lấp đầy khoảng trống đó.

Cuốn sách này đã ghi chép chân thực nhiều lần nói chuyện của Tử Dương khi bị giam lỏng, nhiều cuộc nói chuyện về một loạt vấn đề trọng đại liên quan tới Đảng và đất nước này, nhất là những câu chuyện liên quan tới vấn đề cải cách của Trung Quốc đương đại. Suy nghĩ kỹ, nếu như không có cuốn sách này, nhiều tư tưởng quan trọng của Tử Dương sẽ không được bảo tồn, ít ra cũng không có được một cách rõ ràng như cuốn sách này đã ghi.

Mặc dù những ghi chép trong cuốn sách này chỉ có thể nói là một số tư tưởng quan trọng của Tử Dương, không thể nói là mọi tư tưởng quan trọng của Tử Dương.

Nhưng xét từ tổng thể, bản thảo của cuốn sách này vẫn rất đáng quí. Có thể nói giá trị nổi bật nhất của bản thảo là ở “tính duy nhất” của nó, tức “duy nhất” ghi chép một cách liên tục hơn một trăm lần trò chuyện của Tử Dương

trong thời gian bị giam lỏng mười mấy năm, nhờ đó tái hiện lại một cách chân thực quỹ đạo tư tưởng của ông trong thời kỳ đó.

III

Trong nhiều năm tiếp xúc với Tôn Phượng Minh, tôi cảm nhận được ông là một người thật thà chất phác, khiêm tốn và cũng rất thực tế.

Nhiều đồng chí lớn tuổi chúng tôi đều cho rằng ông là một người vô cùng trượng nghĩa, để có thể vào thăm lão chiến hữu đang bị giam lỏng đã dám dùng danh nghĩa “thầy dạy khí công” để vượt qua cửa gác nghiêm ngặt của họ Triệu một cách thành công.

Chính vì thế, trong mười mấy năm, trên thực tế ông đã trở thành liên lạc viên giữa một số đồng chí già chúng tôi với Triệu Tử  Dương. Một mặt, nói cho Tử Dương những tình hình chúng tôi lĩnh hội được cũng như những cách nhìn của chúng tôi đối với thời cuộc; mặt khác, lại mang những ý kiến của Tử Dương về nói lại cho chúng tôi. Điều quan trọng hơn là trong mười mấy năm ấy ông đã nghiêm túc ghi chép lại nhiều lần các buổi nói chuyện cùng Tử Dương và chỉnh lý những lần trò chuyện đó thành cuốn sách mà chúng ta thấy hiện nay. Dù gì đi nữa thì đó quả là một việc làm rất tuyệt vời.

Như tôi đã nói ở trên, Triệu Tử Dương phản đối giới nghiêm và từ chối làm kiểm điểm là có trách nhiệm với Đảng, quốc gia và giai đoạn lịch sử này. Ở đây tôi còn muốn nói, Tôn Phượng Minh viết cuốn sách này, không chỉ là có trách nhiệm đối với Đảng, quốc gia và giai đoạn lịch sử này, mà còn có trách nhiệm với cá nhân Triệu Tử Dương cũng như với lịch sử. Vì vậy, những đồng chí già chúng tôi đây đều cảm thấy vui sướng hạnh phúc vì Tử Dương đã có một lão chiến hữu nghĩa hiệp như vậy.

Tóm lại, đồng chí Tôn đã rất vất vả khi viết ra quyển sách này. Ông không ngẫu nhiên ghi lại mấy cuộc nói chuyện với Tử Dương, mà là trong suốt mười mấy năm liền ông đã ghi lại hơn một trăm lần trò chuyện với Tử Dương. Mặc dù ông không xuất thân từ văn chương và cũng chưa từng làm phóng viên, chỉ đến cuối đời mới bắt đầu công việc viết lách, thế mà vừa bắt đầu đã viết ngay ra một cuốn sách rất quan trọng, những khó khăn của công

việc này ai cũng thấy rõ. Bởi vậy, chúng ta nên bày tỏ lòng kính trọng với lão đồng chí Tôn.

Nghe nói một số bộ ngành có liên quan đã tìm đồng chí Tôn để nói chuyện, tra hỏi việc đồng chí viết cuốn sách này, chưa rõ là đã tra hỏi ra được kết quả gì. Tôi nghĩ thời đại đã tiến bộ rồi, nói chung cần phải nói tới đạo lý “người nói vô tội, người nghe phải lấy đó sửa mình”. Cuối cùng, ông già đã chín mươi tuổi là tôi đây, xin chúc ông già sắp chín mươi tuổi, phấn khởi vui vẻ viết sách, bình an yên ổn xuất bản.

Lời tựa của Bảo Đồng

Tôi và ông Tôn gặp nhau tuy không nhiều, nhưng quen biết nhau đã 20 năm. Thời gian trước, sau năm 1986 gì đó, chị Lương Bá Kỳ, phu nhân của Tử Dương có nói với tôi, Bí thư Đảng uỷ của Học viện Hàng không Tôn Phượng Minh đã thôi chức, với tấm lòng nhiệt tình cải cách, mong muốn làm việc, nếu như Uỷ ban Cải cách có những loại công việc như nghiên cứu điều tra gì đó, có thể mời ông ấy tham gia được không? An Chí Văn biết chuyện, rất vui mừng mời Tôn Phượng Minh kiêm nhiệm làm nghiên cứu viên của Hội Nghiên cứu cải cách thể chế kinh tế.

Sau này, tôi may mắn được gặp ông Tôn một lần, nghe ông nói về điều tra tại mỏ dầu Bộc Dương. Ông chủ trương cùng với việc tăng thêm thu nhập tài chính cho đất nước, cũng không được xem nhẹ lợi ích của dân cư khu vực và tài chính của địa phương. Điều ông Tôn theo đuổi là cả xã hội đều được lợi. Mãi đến nay, tôi vẫn nhớ lời cảm thán của ông: Bộc Dương là khu vực căn cứ địa kháng chiến chống Nhật, đã 50 năm rồi, nhưng người dân nơi đây vẫn còn rất nghèo, rất khổ. Rất nhiều doanh nghiệp quốc doanh loại lớn trước đó còn tranh chấp lợi ích với người dân. Từ nay về sau, cần chủ động quan tâm đến lợi ích của quần chúng nhân dân; mỏ dầu càng giúp đỡ quần chúng nhân dân thì quần chúng nhân dân sẽ càng bảo vệ mỏ dầu. Ấn tượng ông để lại cho tôi hôm đó là lòng nhiệt tình cho cải cách, nhiệt tình với lợi ích xã hội của một nhà chủ nghĩa xã hội coi xã hội làm bản vị.

“Lý luận CNXH khoa học” hai lần được phổ cập mạnh mẽ ở Trung Quốc, có thể nói đó là sự khác biệt lớn. Lần thứ nhất, nó được Mao Trạch

Đông giới định bằng “Đảng Cộng sản lãnh đạo tất cả + đấu tranh giai cấp + xoá bỏ chế độ tư hữu”, làm cho “Chủ nghĩa xã hội” được trở thành giáo điều cho những người yêu thích quan chức và đấu tranh cùng nhau tiến lên thực tiễn. Lần thứ hai, nó được Đặng Tiểu Bình giới hạn bằng “Đảng Cộng sản lãnh đạo tất cả + ổn định áp đảo tất cả + phát triển là đạo lý đúng đắn + một lớp người giàu trước”, khiến “Chủ nghĩa xã hội” trở thành hiện thực cho những người yêu thích quyền lực và tiền bạc. Sau khi trải qua hai lần phổ cập mạnh mẽ này, nhà chủ nghĩa xã hội vẫn nhiệt tình coi toàn bộ xã hội là gốc, không quên quần chúng nhân dân lao động khổ cực không có thế lực, không có tiền như thế này (ông Tôn), ngày càng ít đi ở Trung Quốc.

Đấy là ấn tượng lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau.

II

Sau đó, tôi không có dịp gặp lại ông Tôn nữa, mãi mới được trùng phùng sau khi tôi ra tù.

Khách của gia đình tôi từ trước đến nay không nhiều. Bỗng nhiên, vào một buổi tối năm 1985, con gái của Đặng Tiểu Bình đột nhiên ghé thăm, nói rằng Uỷ ban Khoa học kỹ thuật mời bố cô tới phát biểu tại Hội nghị công tác KHKT toàn quốc được tổ chức vào ngày kia. Bố cô nói rằng, các anh chuẩn bị bài viết trước cho tôi, viết tốt thì tôi mới nói, viết không tốt thì tôi không nói. Tuy đã không còn công tác ở Uỷ ban KHKT 5 năm rồi, nhưng không thể thoái thác được mấy “lời đề nghị khẩn cấp” của con gái Tiểu Bình, tôi được động viên tới nơi đón tiếp Phong Đài để làm việc buổi đêm. Vào ngày thứ hai, cô ấy nói tới tôi. Đặng Tiểu Bình đã xem bản thảo rồi và nói rằng “tốt, ngày mai bố sẽ nói chuyện”. Đây là nguồn gốc của bài viết “Cải cách thể chế KHKT là giải phóng sức sản xuất” trong tập “Văn tuyển Đặng Tiểu Bình”. Mới đầu tạm nói vậy đã, chúng ta quay trở lại câu chuyện chính nào.

Trong ngần ấy năm, những người khách không mời mà đến tính ra liệu được mấy người. Sau khi tôi bị giam, những người thăm hỏi ngược lại đến nườm nượp. Trước đây, chống phái hữu thì bị phê bình, trong thời kỳ Cách mạng Văn hoá thì bị đấu đá. Khi đó, ngay cả các đồng nghiệp trong cùng cơ quan cũng bị ép vào tình thế cần phải “giữ khoảng cách, chia rõ ranh giới” với tôi. Lần này là “ngồi tù”, là “tù hình sự”, có thể thấy được tính chất nghiêm trọng, hơn nữa trong tình hình toàn Đảng, toàn quốc “đang tổng kiểm tra, giám sát” lại gặp được một số khách quý quen và chưa quen. Ông Tôn là người trong số đó.

Ông lớn tuổi hơn tôi, sức khoẻ không tốt, tim yếu. Từ Học viện Hàng không vội vã đến Mộc Tê, đường rất dài, nhưng trong vòng 8 năm đó, kiên trì cứ mấy tháng lại đến thăm tôi một lần. Ông Tôn là người chân thành nhiệt tình như vậy đấy, mỗi lần đến thăm tù là truyền đạt lại “những ai gửi lời hỏi thăm”, “những ai muốn ông phải giữ gìn sức khỏe”. Điều này khiến tôi vô cùng cảm động, “thời thế” thay đổi rồi, những kẻ độc tài, những tên tội phạm đối với nhân dân và đất nước không thể thao túng mãi lòng người được nữa. Trong lòng ngẫu hứng nổi lên câu nói: “Bạn cũ kết giao với bạn mới như một giấc mơ”.

Biết tôi bị kết án 7 năm tù, đến tháng 5 năm 1996 mới mãn hạn. Lúc ông đến thăm tôi, lại không gặp. Vì Trung ương ĐCS Trung Quốc sau khi ra lệnh cho toà án tuyên án tôi 7 năm tù, dường như chưa thoả mãn, lại quyết định vượt qua luật pháp, một lần nữa dùng xe cảnh sát hú còi áp giải tôi đưa đến sân một khu ký túc xá của cán bộ công nhân viên chức nằm dưới ngọn núi phía Tây, rồi lại đưa tôi vào bốn bức tường được quân giải phóng canh  giữ nghiêm ngặt. Cho dù thế nào, có thêm một năm nữa thì vào cuối tháng 4 năm 1997, cuối cùng tôi đã được về nhà. Dưới sự lãnh đạo thống nhất của ĐCS Trung Quốc, cả gia đình tôi cũng bị quét ra khỏi nhà. Từ Mục Tê bị đưa đến Bát Bảo Sơn, ông Tôn lại chạy đến Bát Bảo Sơn để thăm tôi. Thật may là các thiết bị hiện đại dùng để giám sát và khống chế chưa vận hành ngay được. Những công trình thiết kế như lan can sắt, cửa sắt lớn, cửa sắt nhỏ, trạm gác v.v.. cũng chưa được trang bị. Những người đứng gác cả 24 giờ cũng chưa được bố trí đủ. Vì vậy thật là may mắn ông Tôn đương nhiên là qua được cửa lên gác.

Đây là lần thứ hai, chúng tôi gặp nhau. Thế là tôi được biết Tử Dương bị Trung ương ĐCS Trung Quốc giam lỏng, những bạn cũ bị cách ly hết. Mấy năm gần đây, duy chỉ có Tôn Phượng Minh với danh nghĩa “thầy dạy khí công”, còn có thể ra vào ngõ Phúc Cường. Mỗi lần gặp, Triệu đều nói. Sau khi nói, Tôn ghi chép. Trong vòng mấy năm, nói nhiều lần, ghi chép cũng nhiều, đã đóng thành được một tập. Tôn đưa tập này cho Tử Dương, bản thân Tử Dương chưa xem qua, nhưng nói tương lai để Bào Đồng đánh giá. Lần  này Tôn đến, chính là muốn cùng tôi thương lượng việc này, hy vọng tôi “sửa chữa tập sách”.

Nhưng Bào Đồng không thể nhận nhiệm vụ được. Cuộc nói chuyện  giữa hai ông bạn già cần duy trì nguyên trạng của lịch sử, huống hồ là thân phận của Bào Đồng đã thay đổi, không phải là Bào Đồng được hạ cố nửa đêm chuẩn bị bản thảo cho con gái của Đặng Tiểu Bình để cha cô nói chuyện. Bộ Chính trị Trung ương ĐCS Trung Quốc đã phán quyết Bào Đồng là một kẻ phản cách mạng. Nếu như kẻ phản cách mạng này và nguyên Tổng Bí thư ĐCS Trung Quốc – người bị coi là kẻ đầu sỏ có “mối quan hệ”, thì các nhà lãnh đạo mới của Trung ương ĐCS Trung Quốc sẽ có phản ứng thế nào? Tử Dương sẽ chịu những tổn hại gì? Khi đó, tôi dùng một câu nói không khách sáo để trả lời ông: “Tôi không thể sửa được”. Điều này làm ông Tôn thất vọng, nhưng tôi không có sự lựa chọn nào khác.

IV

Tử Dương đã mất vào năm ngoái. Không ai còn có thể làm hại ông được nữa. Thế là, ông Tôn chuẩn bị xuất bản sách và trăn trở muốn tôi viết lời Tựa. Đây là việc nghĩa tôi khó từ chối được.

Tử Dương nói “đánh giá tập bản thảo”, đại thể vì ông không muốn “ngọn núi nổi tiếng bị chôn vùi”. Việc công bố những bản ghi, chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm chú ý của đông đảo mọi người. Vị nguyên Thủ tướng, nguyên Tổng Bí thư bị giam lỏng 17 năm, từng làm bao nhiêu việc cho nhân dân, bỏ bao nhiêu công sức ra. Vì vậy, mọi người đương nhiên muốn biết những năm cuối đời của vị lão thành cách mạng này. Huống hồ, tập sách này ghi chép lại lời nói của hai ông bạn già, được “đóng thành tập” mà do người ngoài viết, “tác giả” đọc, còn thế hệ sau ca ngợi, thật khó có thể so sánh và đánh giá được. Nếu như để người đọc tự do lựa chọn, tôi tin chắc rằng, những người muốn đọc quyển sách này nhất định sẽ nhiều hơn rất nhiều những người tự nguyện mua cuốn “Văn tuyển Giang Trạch Dân”. Cho dù nghe nói rằng quyển thứ ba của Giang Trạch Dân đã in ra rất nhiều rồi, trở thành cuốn tiêu thụ lớn nhất ở Trung Quốc hiện nay (có lẽ còn là cả thế giới nữa).

Tính hợp pháp để xuất bản tập Nói chuyện với Triệu Tử Dương quả là không có vấn đề gì. Cũng như tính hợp pháp trong xuất bản “Văn tuyển  Giang Trạch Dân” tuyệt đối không có vấn đề gì. Chỉ cần Hiến pháp của Trung Quốc là Hiến pháp thật sự, chỉ cần tự do xuất bản của người Trung Quốc là tự do thực sự, chỉ cần tất cả công dân Trung Quốc đều bình đẳng thật sự trước pháp luật thì quyền tự do xuất bản của công dân Tôn Phượng Minh cũng giống như quyền tự do xuất bản của công dân Giang Trạch Dân.

Triệu Tử Dương nắm vững chủ nghĩa Mác không ít hơn bất cứ người Trung Quốc nào, bao gồm cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình, những người nổi tiếng từ đây trở xuống không cần phải nói. Tôi nói như vậy là lấy danh ngôn của riêng Đặng Tiểu Bình làm căn cứ, xin mời mở trang 296 tập 3 “Văn tuyển Đặng Tiểu Bình”, Đặng Tiểu Bình nói, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội 13 “một chữ cũng không được thay đổi”. Theo như tôi được biết, những người báo cáo trong các Đại hội Đảng trước đây, khi vinh dự nhận được câu khen của Đặng Tiểu Bình “một chữ cũng không được thay đổi” thì duy chỉ có bài báo cáo này, những báo cáo khác không được khen như vậy, mà người báo cáo tại Đại hội 13 là Triệu Tử Dương. Đây là vai trò của Triệu Tử Dương trong mắt của Đặng Tiểu Bình.

Ông Tôn Phượng Minh nói với tôi, Tử Dương nói với ông ấy rằng điều đáng tiếc nhất trong đời ông là “chưa hoàn thành cải cách thể chế chính trị mà đồng chí Tỉểu Bình khai sáng (hoặc được phó thác)”. (Đại ý là như vậy). Về mặt chọn lọc từ ngữ, cũng có thể thấy được tâm hồn và phong cách của Tử Dương. Đặng Tiểu Bình và cải cách thể chế chính trị của Trung Quốc có hai mối quan hệ, vừa là người đề xướng, vừa là người bóp chết. Coi trọng chỉ ra cải cách chính trị từng nhận được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình, phù hợp với tình hình của thời kỳ đầu, có lợi để nhiều người tranh thủ tham gia. Sau sự kiện ngày 4 tháng 6, tầng lớp lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc tồn tại căn bệnh sợ cải cách chính trị một cách phổ biến. Nguyên Tổng Bí thư giống như một ông già tốt bụng, dạy bảo những người đang sợ sệt đó rằng: các bạn trẻ, không nên sợ hãi, cải cách thể chế chính trị không đe doạ đến mọi người, đấy chính là việc tốt mà bản thân đồng chí Tiểu Bình đưa ra để cứu dân, cứu nước, cứu Đảng.

Giữa Triệu Tử Dương và Đặng Tiểu Bình tồn tại nhiều tranh luận. Đặng Tiểu Bình cho rằng Đảng Cộng sản không trấn áp quần chúng thì nhất định không phải là Đảng Cộng sản của chủ nghĩa Mác. Triệu Tử Dương lại cho rằng, Đảng Cộng sản trấn áp quần chúng nhất định không phải là Đảng Cộng sản mà người Trung Quốc cần. Triệu Tử Dương nói không với Đặng Tiểu Bình, những điều ông nói là chân lý, những chỗ dựa vào là dũng khí. Hơn mười năm rồi, những nhà lãnh đạo mới cuối cùng nói là Hội nghị Trung ương 4 khoá 13 đã đưa ra kết luận chính xác cho cuộc đấu tranh giữa Triệu và Đặng, không thể thay đổi được nữa. Những lời nói bên ngoài thì mạnh bạo, bên trong lại tỏ ra yếu ớt, tôi thấy rằng, nếu còn có chút lương tâm ngay cả bản thân người nói những câu này, thì họ cũng không tin tưởng. Quyết định của Trung ương ĐCS Trung Quốc năm 1989, cũng giống như với Quyết định của Trung ương ĐCS Trung Quốc các năm 1957, 1959, 1966 và tất cả các quyết định khác, đều là những đặc quyền không chịu sự kiểm nghiệm của thời gian, cần những người đời sau tự do tiến hành thẩm tra và phân định.

Ngoài Hiến pháp ra, Trung Quốc còn có các cơ quan thẩm tra sách báo. Vai trò của các cơ quan thẩm tra sách báo xem ra thấp hơn rất nhiều so với Hiến pháp. Nhưng quyền lực mà nó có không biết nhiều hơn, lớn hơn bao nhiêu lần so với Hiến pháp. Ở Trung Quốc, cơ quan thẩm tra sách báo có quyền áp dụng những hành động tương xứng với Hiến pháp, có quyền quy định những quan điểm nào bị cấm tuyên truyền, những sự kiện nào không được đưa tin, tên của người nào không được xuất hiện trên sách báo. Ví dụ, nói đến lịch sử trở về của Hồng Kông, chỉ cho phép đề cập đến người ký tên của nước Anh là bà Thatcher, không cho phép đề cập đến người ký kết bên phía Trung Quốc là Triệu Tử Dương. Điều này đã để lọt một bí mật: khi đó tên của Thủ tướng nước CHND Trung Hoa đã được các cơ quan thẩm tra sách báo nước này liệt vào trong danh sách đen. Vì vậy, hiện nay những câu chuyện của Triệu Tử Dương được xuất bản ở Trung Quốc đại lục vẫn tồn tại một khó khăn mà Hiến pháp không thể khắc phục được. May là ngoài đại lục ra còn có Hồng Kông. Ngày 1 tháng 7 năm 2003, người Hồng Kông đã diễu hành phản đối những điều luật độc ác, nói với toàn thế giới: cần phải thực hiện lời hứa người Hồng Kông quản lý người Hồng Kông, một nước hai chế độ là bằng chứng nghiêm túc do Đặng Tiểu Bình đích thân nói ra nhiều lần. Những cơ quan thẩm tra sách báo muốn cãi, e rằng cũng rất khó. Vì vậy, khi mà Tôn Phượng Minh không thể tìm được tự do mà được Hiến pháp bảo vệ, thì có thể ở Hồng Kông. Tôi chúc cuốn sách này cuối cùng được xuất bản tại Hồng Kông. Tâm tư của tôi cũng giống như tất cả những người quan tâm đến sự tiến bộ của Trung Quốc; hy vọng vui mừng được xem sớm.

(Tái bút: Viết đến đây, nghe nói Quốc vụ viện đã ban hành những quy định mới về tăng cường quản lý giới truyền thông trong và ngoài nước. Tôi không biết những cơ quan có liên quan giải thích thế nào đối với việc này, và cũng không biết họ sẽ dùng những phương thức nào để thực hiện. Nhưng tôi nghĩ không nên làm ảnh hưởng đến việc chuyển cuốn sách này từ Hồng Kông sang Đại lục. Triệu Tử Dương cho đến lúc qua đời vẫn là Đảng viên Đảng Cộng sản. Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ động đắp lá cờ Đảng hình búa liềm lên trên di thể của ông. Cơ quan quản lý thẩm tra sách báo dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc không nên đi ngược lại với Trung ương Đảng để kiểm tra và ngăn cấm cuốn sách của Đảng viên Triệu Tử Dương. Tôi không tin rằng các quan chức của đơn vị quản lý kiểm tra sách báo lại có thể nghĩ ra những ma thuật dựng đứng truyện và tìm ra lý do gì đó để kiểm tra hay ngăn cấm từ trong những bài nói chuyện của công dân vĩ đại Triệu Tử Dương.

Tự đề tựa của Tôn Phượng Minh

 Vì sự kiện “ngày 4 tháng 6” mà Triệu Tử Dương bị mất chức! Vụ thảm án “ngày 4 tháng 6” không chỉ là một việc hệ trọng của Trung Quốc đương đại mà còn là một sự kiện lớn của quốc tế! Nó không chỉ có tác dụng thúc đẩy làm thay đổi Đông Âu, Liên Xô giải thể, tạo ra chứng hoảng sợ “cuộc sống nguy hiểm dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản”, làm cho phong trào cộng sản quốc tế nảy sinh bước ngoặt; hơn nữa còn làm cho Trung Quốc bị quốc tế cấm vận về kinh tế, tổn thất rất to lớn. Điều quan trọng hơn là, nó đã làm dao động lòng tin của mọi người trong nước, tạo ra ‘khủng hoảng lòng tin’, từ đó làm cho tổ chức Đảng Cộng sản tan rã.

Trong bàn luận người ta nói: Ngay cả Viên Thế Khải, quân phiệt Bắc Dương, Tưởng giới Thạch, Quốc Dân Đảng đều không dám làm việc đó, nhưng ngược lại Đảng Cộng sản đã làm. Phong trào “ngày 4 tháng 6” vốn là một phong trào dân chủ yêu nước tự phát của học sinh thanh niên, của đông đảo quần chúng nhân dân phản đối hủ bại, phản đối những điều bất chính trong xã hội. Thế nhưng nhà đương cục đã điều động mấy chục vạn đại quân, sử dụng súng máy, xe tăng dùng cái gọi là “bạo loạn phản cách mạng” để trấn áp! Quả là việc ít thấy trên thế giới. Lúc đó khi xử lý sự việc này, trong tầng lớp lãnh đạo có hai chủ trương khác nhau: một là với Lý Bằng là đại diện, căn cứ vào báo cáo của Lý Tích Minh, Trần Hy Đồng, thành ủy Bắc Kinh, mang định tính là “hoạt động phản cách mạng, có tổ chức, có kế hoạch” phải trấn áp; chủ trương khác do Triệu Tử Dương làm đại diện, chủ trương dưới phương châm tỉnh táo, lý trí, kiềm chế, trật tự và dân chủ pháp trị, dùng đối thoại để giải quyết, phản đối giới nghiêm, phản đối đưa quân đội ra để trấn áp. Do đưa ra ý kiến khác mà Triệu Tử Dương bị qui là “ủng hộ bạo loạn”, “chia rẽ Đảng”, bị giam lỏng và bị tiến hành thẩm tra chuyên án.

Triệu Tử Dương đã trải qua hơn ba năm bị thẩm  tra, vào trước thềm  của Đại hội 14 mới tuyên bố “kết thúc thẩm tra” với ông. Nhưng kết luận  “ủng hộ động loạn”, “chia rẽ Đảng” vẫn không thay đổi. Triệu Tử Dương yêu cầu công bố kết quả thẩm tra và tài liệu sự thực, nhưng không được quan tâm. Chỉ có “chụp mũ”, không có sự thực, không thể khiến người ta tâm phục được.

Trong bàn luận người ta nói: Đâu có chuyện không căn cứ sự thực để kết luận? Không thể tưởng tượng và lý giải nổi! Làm gì có chuyện đưa ra những ý kiến khác nhau mà bị trị tội? Không phải bàn cãi gì nữa! Lại càng không có   chuyện Tổng Bí thư chống Đảng? Không thể tưởng tượng được! Theo tôi biết, kết quả thẩm tra là “tìm không ra chứng cớ thực”, vì thế hai kết luận trên không thể đưa ra được. Sự thực cho đến tận hôm nay vẫn chưa tìm ra được rốt cuộc người nào đã thi hành “hoạt động phản cách mạng có tổ chức, có kế hoạch”. Trước sau nhà đương cục vẫn không làm rõ và trình bầy việc này. Người ta tự nhiên có lý do để nói: đó là áp đặt cho đông đảo thanh niên, học sinh và nhân dân “có lẽ có” tội.

Biểu hiện của Triệu Tử Dương trong vấn đề “ngày 4 tháng 6” là điều hiếm thấy trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. Thà không cần “ngôi báu” Tổng Bí thư, cam chịu “ngục tù”, nhưng vẫn kiên trì chân lý, kiên trì thực sự cầu thị, chủ trì con đường chung. Đúng như bình luận của Hồng Kông đã nói: Trong sự kiện ngày 4 tháng 6, Triệu Tử Dương mới thực sự thể hiện được “phong độ của một nhà chính trị”, “khiến hình tượng của ông trở nên sâu đậm hơn”, “nêu một tấm gương cho đời sau, khiến người ta tán thưởng khâm phục cốt cách của ông”. Nhưng điều này đòi hỏi phải có “đạo đức, dũng khí lớn lao” phải “chịu những rủi ro cực lớn thậm chí có khả năng chết oan uổng”.

Năm 1989, Hội nghị TW khóa 13 của ĐCS Trung Quốc phê phán ông trong không khí chính trị nghiêm khắc, Triệu Tử Dương vẫn giương cao ngọn cờ dân chủ nói: “Tôi cảm nhận một cách sâu sắc rằng, thời đại đã khác rồi, quan niệm tư tưởng của xã hội và mọi người cũng đã thay đổi. Dân chủ đã trở thành trào lưu của thế giới…Quan niệm dân chủ của mọi người đã phổ biến hơn, phát triển hơn… Hơn nữa, nếu như Đảng ta không giương cao ngọn cờ dân chủ thì sẽ bị người khác đoạt mất”. Ông còn nói: “Tôi cảm thấy, sớm muộn gì chúng ta cũng phải đi theo con đường đó. Nếu chúng ta đi một cách bị động thì chẳng bằng đi một cách tự giác, một cách chủ động”. Triệu Tử Dương không những ra sức thúc đẩy cải cách mở cửa về kinh tế, mà hơn nữa còn đột phá lập trường cứng nhắc của Đặng Tiểu Bình trong lĩnh vực chính trị, trở thành nhân vật đại diện thúc đẩy chính trị dân chủ trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Không chỉ có vậy, Triệu Tử Dương còn kiên trì chân lý không đựơc dao động, cho rằng điều gì đã là chính nghĩa thì phải kiên trì, đã là chính nghĩa thì không thể kiểm điểm, bất chấp ngồi tù, bất chấp giam lỏng vẫn thể hiện được khí khái “lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (lưu lại tấm lòng son trên sử sách – thơ Văn Thiên Tường, trong bài: Qua linh đinh dương). Mặc dù trong “nhà giam” nhưng vào đêm trước của Đại hội 15 Đảng Cộng sản Trung Quốc, Triệu Tử Dương vẫn gửi thư cho Chủ tịch đoàn và toàn thể đại biểu, nói rõ nếu coi phong trào học sinh ngày 4 tháng 6 “mang định tính động loạn phản cách mạng là không có căn cứ”, yêu cầu đánh giá lại sự kiện “ngày 4 tháng 6”, đề xuất kiến nghị: “Giải quyết sớm tốt hơn giải quyết muộn, chủ động giải quyết tốt hơn bị động giải quyết”; nhưng đối với oan khuất mà mình phải chịu thì nửa chữ cũng không hề nói đến, thản nhiên đòi công bằng đạo lý cho sự kiện làm chấn động thế giới này; không thèm để ý đến những hậu quả do hành động này có thể mang lại, coi việc kiên trì chính nghĩa là nhiệm vụ của mình. Có người nói, Triệu Tử Dương đã tạo ra “mô hình Triệu Tử Dương” trong Đảng, cho thấy giá trị của chân lý và lòng tin, cho rằng trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc từ Bành Đức Hoài đến Lưu Thiếu Kỳ, từ Đặng Tiểu Bình đến Hồ Diệu Bang, những việc làm mà trước đây bị phê phán đều được lịch sử chứng minh là đúng, dù cho họ bị buộc phải nhận “sai”, nhận “tội” đến nỗi làm cho trong Đảng một thời gian dài không phân rõ đúng sai, mù quáng nghe theo, phục tùng bề trên; Triệu Tử Dương đã thay đổi truyền thống sai lầm đó.

Vì thế tôi cho rằng, Triệu Tử Dương là tiêu biểu cho ngọn cờ thực hiện cải cách dân chủ trong Đảng, bất kể là từ đó trở đi ông ở địa vị nào, giam lỏng cũng được, phục chức cũng được, thậm chí vào nhà giam cũng được, ngọn cờ của ông là huy hoàng, hình tượng của ông là cao thượng. Cuộc cải cách “khoán sản phẩm tới hộ” mà ông và Vạn Lý thực hiện tại nông thôn đã giải phóng cho đông đảo nông dân thoát khỏi tình trạng bị nô dịch trong công xã nhân dân; lý luận giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội do ông xác lập trong Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã làm cho công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc đi theo con đường phát triển đúng đắn. Những công lao thành tích lịch sử đó của ông sẽ mãi in đậm trong trái tim mọi người. Nguyên chuyên gia lâu năm về vấn đề nông thôn của TW Đảng Cộng sản Trung Quốc là Đỗ Nhuận Sinh từng nói: Người lãnh đạo đất nước như Triệu Tử Dương đã thoát ra từ ý thức hệ cũ, từ khuôn khổ mô hình thể chế cũ, vừa muốn mở cửa về kinh tế lại vừa muốn mở cửa về chính trị là rất hiếm có. Tôi tin là vai trò của Triệu Tử Dương trong lịch sử đương đại Trung Quốc không ai có thể xoá bỏ.

Sau khi biết Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, với tư cách là chiến hữu cũ, tôi thường gọi điện thoại hỏi thăm. Tôi nhận thức sâu sắc rằng ông nhiều năm là người lãnh đạo của Đảng và Nhà nước và cũng là một nhân vật nổi tiếng trên quốc tế, trong phút chốc bị mất chức, bị giam lỏng, chắc là phải chịu sức ép tư tưởng rất lớn, vô cùng đau khổ về tinh thần. Sự quan tâm và ủng hộ của tôi đối với Triệu Tử Dương không chỉ là tình nghĩa cách mạng được hun đúc trong những năm tháng chiến tranh cùng sống chết với nhau trước đây mà hơn nữa xuất phát từ chủ trương và tính chính nghĩa của ông về sự kiện “ngày 4 tháng 6”.

Vốn xuất thân từ phong trào học sinh sinh viên, nên tôi rất đồng tình và ủng hộ hành động cao cả “dân chủ yêu nước” của đông đảo học sinh thanh niên phản đối hủ bại, phản đối làn gió bất chính trong xã hội là lẽ rất tự nhiên. Tôi phản đối cử quân đội đàn áp và vô cùng tán thành chủ trương giải quyết vấn đề do Triệu Tử Dương đề xuất trong thời gian phong trào học sinh.

Tôi rất đau lòng trước sự việc đàn áp học sinh thanh niên, quả thật đã làm rạn nứt lòng tin lý tưởng mà mình suốt đời phấn đấu. “Quân đội nhân dân đàn áp nhân dân”, đưa tới mấy chục vạn đại quân, dùng xe tăng, súng máy đối phó với những học sinh tay không vũ khí. Đó là điều chưa từng thấy, đó là một đại bi kịch của lịch sử. Tôi rất muốn tìm hiểu vì sao lại có quyết sách như vậy. Tôi càng muốn hiểu hơn vì sao vào giờ phút cực kỳ nghiêm trọng đó, thậm chí nguy hiểm phải ngồi tù Triệu Tử Dương vẫn một mình giương một ngọn cờ và ngay tại hội nghị phê đấu công kích dữ dội vẫn kiên quyết không chịu kiểm điểm mà còn phá bỏ tiền lệ của Đảng Cộng sản, chứng tỏ đã hạ quyết tâm như thế nào. Vì vậy, tôi đã đề nghị với Triệu Tử Dương đến gặp ông tại nơi ở. Lúc đó ông đang trong thời gian bị thẩm tra, bị giám sát chặt chẽ, chúng tôi rất lo, ngộ nhỡ có xẩy ra phiền phức gì, vì thế chưa thể làm được như mong muốn. Nhưng tôi vẫn nghĩ cách thông qua người nhà của ông, để duy trì liên lạc với ông. Trong thời gian này, Triệu Kiến Dân (nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn Đông) cũng thông qua người nhà ông để trao đổi một số tình hình. Mãi cho đến mùa hè năm 1991, ông mới đồng ý để tôi dùng danh nghĩa thầy dạy khí công đến nhà, do vậy mới có thể thường xuyên tiếp xúc và nói chuyện trực tiếp. Đến tháng 10 năm 2004, chúng tôi ước tính đã nói chuyện với nhau trên một trăm lần, (có một vài lần trò chuyện không đưa vào cuốn sách này). Tôi chủ yếu nghe ông nói, căn cứ vào những vấn đề mà ông đề cập, có khi trình bầy, bình luận (để nói rõ vấn đề), có khi hỏi lại;  tôi và ông xuất phát từ chỗ cùng làm rõ tình hình, trao đổi quan điểm theo  kiểu mạn đàm, chứ không mang tính chất phóng viên phỏng vấn, vì thế trong ghi chép có chỗ nội dung trước sau trùng lặp. Để giữ nguyên hiện trạng vốn có, tôi đều giữ lại những chỗ trùng lặp, mong độc giả thông cảm. Tôi thấy vấn đề mà mỗi lần ông nói, nhìn chung ông đều đã suy nghĩ rất kỹ. Theo trào lưu thế giới, để đưa Trung Quốc đi theo các quốc gia hiện đại văn minh là xuất phát điểm, các mặt cải cách, chính sách, hướng đi của Trung Quốc dường như đã được thiết kế trong bộ não của ông. Sau mỗi lần trò chuyện, tôi đều ghi lại. Trong khi ghi lại, tôi đều tách bạch một cách nghiêm túc những lời nói của Triệu Tử Dương với những thuật lại của người khác cùng những lý giải và quan điểm của tôi; bây giờ sau nhiều lần chỉnh lý để những ai hứng thú thẩm tra và xem xét.

Đáng tiếc là những chuyến thăm ghi chép của tôi có lúc bị gián đoạn, do Triệu Tử Dương gửi bức thư nói trên cho Đại hội 15, đã nêu kiến nghị gì đó nên ngay lập tức bị thêm tội, “không cho phép người ngoài vào thăm”. Do vậy những cuộc trò chuyện của tôi với ông đã bị gián đoạn giữa chừng, nhưng không lâu sau, tôi vẫn dùng cái thân phận “thầy dạy khí công” nên may mắn khôi phục lại các buổi nói chuyện. Nhưng những nội dung thảo luận cũng khác đi, những định kiến cũng có phần thay đổi. Những cuộc nói chuyện này tôi gọi là “phần tiếp” tiến hành chỉnh lý quy nạp. Trong đó những cuộc trò chuyện năm 2001 do nội dung gần nhau nên trình bầy thành một tổng thuật.

Tôi tin tưởng lịch sử sẽ trả lại cho lịch sử bộ mặt chân thực, cuối cùng không để người ta xuyên tạc và khống chế.

Lời nói đầu của Nhà xuất bản 

Triệu Tử Dương (1919 – 2005) là nhà chính trị thế hệ thứ hai sau khi thành lập nước, bước vào tầng lớp lãnh đạo Trung ương sau Cách mạng Văn hoá, từng đảm nhiệm chức Thủ tướng Quốc vụ viện, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, trở thành nhà lãnh đạo trong thời kỳ chuyển đổi mô hình chưa từng có ở Trung Quốc, đảm nhiệm chức vụ được 10 năm, thúc đẩy con đường “cải cách mở cửa”, đặt cơ sở cho sự trỗi dậy về kinh tế của Trung Quốc thời kỳ này. Cuộc đời chính trị của Triệu Tử Dương đột nhiên kết thúc vào năm 1989. Trong phong trào sinh viên Đại học Bắc Kinh và sự kiện ngày 4 tháng 6 năm đó, ông đã đi ngược lại với truyền thống của Đảng Cộng sản, đứng về phía sinh viên, phản đối sử dụng vũ lực để trấn áp phong trào nên bị các vị nguyên lão trong Đảng hạ bệ. Năm đó ông 70 tuổi.

Trong đêm tối kéo dài 16 năm, Triệu Tử Dương bị giam lỏng một cách ngặt nghèo, bị tước đoạt quyền lợi chính trị và tự do thân thể mà một công dân và một Đảng viên cần có cho đến tận lúc mất vì bệnh tật. Trong thời gian này, Triệu Tử Dương đã nhìn lại, phản tỉnh sâu sắc với những gì trải qua đối với lịch sử, chính sách cho đến ý thức hệ của Đảng và Nhà nước. Những kết quả của việc xem xét này, thông qua một người bạn đồng hương của ông là ông Tôn Phượng Minh ghi lại. Tôn Phượng Minh ít tuổi hơn Triệu Tử Dương 3 tháng. Thời thiếu niên khi Nhật Bản đưa quân xâm chiếm Trung Quốc, họ đã đầu quân tham gia ĐCS Trung Quốc, cùng nhau công tác lâu dài tại khu vực Trung Nguyên. Sau năm 1949, ông Tôn chuyển sang ngành KHKT, đảm nhiệm chức lãnh đạo Đảng uỷ của Đại học Hàng không vũ trụ, rồi về hưu với chức vụ cố vấn Uỷ ban Cải cách thể chế quốc gia. Đồng tình với phong trào sinh viên năm 1989 và với sinh mệnh của Triệu Tử Dương, đã khiến cho ông trở thành người khách thường xuyên của Triệu trong lúc bị giam lỏng. Ông dùng danh nghĩa thầy dạy khí công để thăm Triệu Tử Dương hơn 100 lần từ năm 1991 đến năm 2004. Hai lão chiến hữu đã trải qua cuộc đấu tranh tàn khốc hơn một nửa thế kỷ, trong sân của ngõ nhỏ Phúc Cường ở Bắc Kinh để giải toả nỗi lòng, tìm kiếm chân lý, mỗi lần nói chuyện đều được Tôn Phượng Minh ghi chép chỉnh lý.

Bản hồi ức trở thành những lời nhắn nhủ của một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng cáo biệt với lịch sử. Trong tập thể cực quyền phong bế, vẫn chưa hình thành những điều lệ. Các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản, khi đang đương chức hàng ngày phải uống thuốc an thần, tự nhiên bận rộn không nghĩ đến; cho đến lúc mất chức hoặc nghỉ hưu, cũng bị bao vây bởi các giới hạn chủ quan và khách quan, rất khó cầm bút viết sách. Sau khi Stalin mất, những nhân vật của Đảng Cộng sản Liên Xô như Malenkov, Vyacheslav Mikhailovich Molotov bị thất thế cũng không viết hồi ký. Leonid Khrushchev xuất bản hồi ký thuật lại bằng miệng ở phương Tây, lúc sống cũng không dám nhận tiền. Tình hình của ĐCS Trung Quốc còn nghiêm ngặt hơn. Không chỉ những nhân vật chóp bu như Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu Kỳ không lưu lại bất cứ một di ngôn chính thức nào, nhưng người nổi tiếng sau Mao như Đặng Tiểu Bình, Trần Vân, Bành Chân cũng không lưu lại những văn bản được gọi là hồi ký. Phần lớn “Những bản hồi ký cách mạng” khác được viết theo kiểu quan phương, được thẩm tra sau đó mới xuất bản. Giá trị sử liệu rất ít. Trong thời gian bị giam lỏng, Triệu Tử Dương có ý ghi lại tất cả các việc xảy ra trước đây và nhiều người cũng kiến nghị ông viết hồi ký. Ông cũng đã từng yêu cầu nhà đương cục cung cấp những tài liệu, hồ sơ (không bí mật) có liên quan trong thời gian ông đảm nhiệm chức vụ, để tham khảo, nhưng bị từ chối. Vì vậy, bản ghi chép những lời nói được Tôn Phượng Minh chỉnh lý, đã trở thành một phương thức thay thế cho hồi ký.

Bản ghi chép những lời nói này thể hiện cả chiều rộng lẫn chiều sâu sự bừng tỉnh nội tâm của Triệu Tử Dương. Những năm 1980 cuộc đấu tranh quyền lực ở tầng lớp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và chia rẽ về chính sách diễn ra ác liệt. Đặc biệt là mối quan hệ tam giác giữa Triệu với Đặng Tiểu Bình và Hồ Diệu Bang, là những lời nói được miêu tả nhiều lần trong cuốn sách. Triệu đã đưa ra những lời chân thực đối với một loạt sự kiện rối ren trước đây, để tiếp tục làm rõ vai trò của mình trong sự kiện ngày 4-6-1989. Đây là một tài liệu rất quan trọng để nghiên cứu chân thực về Trung Quốc những năm 1980. Nhìn lại lịch sử thể chế của Trung Quốc, kể từ thời Mao Trạch Đông trở lại đây, Triệu Tử Dương là người đầu tiên phê bình một cách nghiêm túc các lãnh tụ ĐCS Trung Quốc chuyên chính, giáo điều. Ông cho

rằng, những suy luận đánh giá của Lênin về giai cấp chuyên chính vô sản thông qua những lãnh tụ có uy thế để thực hiện thì chỉ có dẫn đến chuyên chính cá nhân và chế độ chuyên chế. Không vứt bỏ “chuyên chính giai cấp vô sản”, thì dân chủ và pháp trị chẳng có hy vọng gì. Nhưng tất cả những phán đoán của Triệu đa phần bắt nguồn từ thực tiễn chính trị hàng chục năm trời, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, ông nắm chắc và nghiên cứu thể chế quản lý của Trung Quốc và của nước ngoài. Đến đâu cũng có thể thấy, căn cứ cho những chủ trương, chính sách của ông chỉ là hiệu quả thực tế và ý dân, chứ không phải lý luận, càng không phải là mục tiêu cuối cùng. Ông đã thẳng thắn thừa nhận trong khi bị giam lỏng rằng ông đã bắt đầu thay đổi tên gọi “nhà cải cách kinh tế, nhà bảo thủ chính trị” trước đây. Thế giới quan những năm cuối đời của Triệu Tử Dương, tiêu chuẩn giá trị hiển nhiên đã thay đổi rất lớn từ chính thống Trung Quốc chuyển sang thừa nhận tiêu chuẩn giá trị được phổ biến trên thế giới, coi trọng dân chủ, pháp trị, nhân quyền và chính quyền vì dân. Đối với chính quyền chuyên chế hàng chục năm, ông sám hối một cách đau khổ: “Chúng tôi nợ nhân dân quá nhiều rồi”. Lo lắng đối với tình hình của đất nước, ông không tán thành cấp tiến theo kiểu phương Tây đối với chính trị.

Tôn Phượng Minh không chỉ là người ghi chép lại những bài nói của Triệu Tử Dương, mà còn là người liên lạc giữa Triệu với thế giới bên ngoài. Ông không ngừng cung cấp cho Triệu những thông tin mới nhất, và nghe lời bình luận của Triệu. Chúng ta có thể nhìn thấy những quan điểm trực tiếp của Triệu trong thời kỳ bị giam lỏng đối với những vấn đề trọng đại trong  và ngoài nước với những nhân vật nổi tiếng, bao gồm các nhà lãnh đạo các khoá khác nhau của ĐCS Trung Quốc. Triệu Tử Dương có hành vi và lời nói rất  cẩn thận khi ở chức vụ cao, bình tĩnh nói năng đâu vào đấy một cách đĩnh đạc, những lời nói chừng mực đầy kinh nghiệm, trí tuệ, dũng cảm mưu trí và  nhuần nhuyễn được đan xen vào nhau. Đây là không gian tồn tại mà lịch sử tạo ra, để tiếp nối quyền lực của ĐCS Trung Quốc, một thời đại sẽ vĩnh viễn không còn – thời đại do Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương là đại diện, có sứ mệnh và có quốc tế quan, nó biểu lộ hoài bão bị giết chết của họ.

Về lời của nhà xuất bản, bản thảo bài ký ba trăm ngàn chữ này của Triệu Tử Dương, không chỉ là quyền lực được mất, kiên trì tư tưởng độc lập không chịu khuất phục của nguyên Tổng Bí thư, còn là lời nói của một vị thân thể trong lao phá tan sự trầm mặc, dám chống lại những lời nói truyền thống. Xuất bản cuốn sách về những câu chuyện ghi chép được này rất có ý nghĩa đột phá đối với thể chế vô cùng nghiêm ngặt của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cũng bổ sung thêm một phần câu chuyện trong cuộc đời của Triệu Tử Dương.

Ông Tôn Phượng Minh đã cố gắng hết sức mình trong suốt hơn mười năm trời để viết bản thảo một cách nghiêm túc, xử lý tài liệu gốc (tài liệu sống), chỉnh đi chỉnh lại, cuối cùng đã thành sách. Có dịp đưa bản thảo cho Triệu Tử Dương thẩm duyệt. Trưng cầu ý kiến của rất nhiều bạn bè và đồng nghiệp của Triệu trước đây, đã được ủng hộ rất nhiệt tình. Sau khi Triệu Tử Dương mất, thông tin liên quan đến lời xuất bản không cánh mà bay, khiến cho rất nhiều người trong và ngoài nước quan tâm và chờ đợi, thậm chí còn xuất hiện làn sóng ở Hồng Kông. Nhà đương cục Đảng Cộng sản Trung Quốc càng cố gắng ngăn cản lời xuất bản.

Cuốn sách này là bản hoàn chỉnh hiệu đính sau cùng do tác giả Tôn Phượng Minh được uỷ quyền, 47 thiên trước, là ghi chép lại những lần nói chuyện từ tháng 7 năm 1991 đến tháng 9 năm 1997. (Những thiên tiếp theo)  là những lần nói chuyện sau vài tháng bị ngắt quãng do Triệu gửi thư cho Đại hội toàn quốc lần thứ 15 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 5 năm 1998 được tiếp tục, đến tháng 10 năm  2004 (tức là khoảng hai tháng trước khi  Triệu mất) thì ghi được 34 thiên. Số thiên ở trong sách là tự mình sắp xếp những cuộc phỏng vấn Triệu, đa số đều là những phát biểu chính thức lần đầu.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.