Đi tìm mộ “học giả ” Nguyễn Hiến Lê

Cảm ơn chị Trần Thi Trung Thu rất nhiều.chị đã tới thăm đuọc Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê là Hạnh Phúc Vô Biên! !
Chúng tôi già 80 tuổi ,không đi xa được. 
Nhìn ảnh Cụ , nhớ những tác phẩm tuyệt vời của Cụ….chỉ còn biết khóc thôi

Kính chào chịTrung Thu.


FB TN Như.NgânL

*****

Đi tìm mộ ông Nguyễn Hiến Lê

“Mộ Nguyễn Hiến Lê hả? Chị không biết. Chị chưa nghe cái tên này bao giờ” – chị D. lắc đầu. Nhìn sâu vào mắt chị, tôi biết chị nói thật. Tôi cứ nghĩ một học giả tài đức vẹn toàn như cụ thì ai từng cắp sách đến trường đều biết. Huống hồ chị – người công tác trong lĩnh vực văn hóa…

“Ông này cũng nổi tiếng dữ!”

Tôi chạy hơn 150 km bằng xe Honda đến Đồng Tháp để tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê. Tôi đi chỉ để thắp một nén nhang trước linh cữu con người đáng kính ấy. Đọc sách, tôi biết mộ cụ nằm ở Lai Vung. Với một người có nhiều đóng góp cho nền văn hóa như cụ, tôi tin người dân ở đó sẽ chỉ cho tôi mộ cụ dễ dàng như trở bàn tay.

Câu nói chân thật của chị D. không khiến tôi suy suyển. Tôi cẩn thận ghi tên cụ vào giấy rồi đưa chị đọc. Cuối cùng, chị trả lại mảnh giấy với nụ cười e lệ: “Chị không biết thật rồi. Để chị giới thiệu cho em một người khác nhé!”.

Sau khi nghe nguyện vọng của tôi, người này nhún vai nói chắc nịch: “Anh chưa nghe tên ông ấy bao giờ. Em có lầm với ai không?”. Tôi cố nở nụ cười méo xệch: “Anh không biết ông ấy thật à?”. “Thật mà. Ông ấy là ai vậy em?”. Anh hỏi lại tôi hết sức bình tĩnh như đang chờ được cung cấp thông tin về một con người xa lạ.


Nhìn chiếc máy tính nối mạng của anh, tôi dè dặt hỏi nhờ tra cứu thông tin về cụ. Google sổ ra cả một núi thông tin về cụ, nhưng chi tiết về mộ cụ hiện ở đâu thì không hề thấy. Anh đứng cạnh tôi nheo mắt đọc chăm chú. Cuối cùng anh a lên một tiếng: “Ông này cũng nổi tiếng dữ!”.

Câu nói của anh khiến tôi đau nhói. Ngồi xuống chiếc ghế đá lạnh lẽo chiều mưa, tôi tự hỏi mình còn cách nào để tìm ra mộ cụ. Tôi cảm tưởng mình đang phiêu lưu trong khu rừng rậm rạp để truy tìm kho báu.
Cuộc tìm kiếm vô vọng

Chợt nhớ cô giáo dạy văn cấp ba quê ở Lai Vung, tôi liền bấm số điện thoại của cô, hy vọng tìm được đôi chút thông tin. Nhưng cô giáo tôi không biết. Cô hứa sẽ gọi điện hỏi thăm bà con ở Lai Vung xem thử có ai biết mộ cụ ở đâu không.

Tôi lại không ngần ngại bấm số điện thoại của một nhà văn. Anh là người miền Tây, chắc sẽ có những thông tin hay. Kết quả là anh biết rất rõ về cụ, nhưng cái vụ mồ mả của cụ thì anh bí. Tôi lại lục trí nhớ để để tìm số điện thoại của một nhà báo. Sau khi nghe tôi hỏi, anh cười sặc sụa và mạch lạc trả lời là anh… không biết.

Không bó tay, tôi bèn bấm số 1080 và nghe giọng nhẹ nhàng của một nữ điện thoại viên. Tôi dám chắc là cô đã phải nhịn cười. Mất năm phút tra cứu thông tin, cô nói tổng đài chưa cập nhật thông tin này và mong khách hàng thông cảm. Tôi thông cảm. Cụ Nguyễn Hiến Lê mất đến nay đã tròn 25 năm, không ai nghĩ đến chuyện nghiên cứu về cụ, một vị học giả dành cả đời đóng góp vào tàng thư dân tộc những tác phẩm giá trị nhất.

Mở đầu cuốn Đông Kinh Nghĩa Thục, Nguyễn Hiến Lê viết: “Mà có bao giờ người ta nghĩ đến việc thu thập tài liệu trong dân gian không? Chẳng hạn khi một danh nhân trong nước qua đời, phái một người tìm thân nhân hoặc bạn bè của người đã mất, để gom góp hoặc ghi chép những bút tích về vị ấy, rồi đem về giữ trong các thư khố làm tài liệu cho đời sau. Công việc có khó khăn tốn kém gì đâu, mà lại có lợi cho văn hóa biết bao”. Thật không ngờ, điều cụ luôn canh cánh trong lòng, đến khi mất lại vận vào chính đời cụ.

Vỡ òa niềm vui

Tôi đứng ở Lai Vung và biết mộ cụ cũng chỉ nằm đâu đó quanh đây. Chợt nhớ đến người thầy đã dạy cho tôi biết về Nguyễn Hiến Lê, lòng tôi vỡ òa như đứa trẻ. Tôi cuống quýt gọi điện cho thầy. Thầy cười rồi gửi tin nhắn. Tin nhắn không dấu. Một người dân đoán nơi tôi cần đến là chùa Phước Ân, gần ngã tư Cai Bường, Vĩnh Thạnh, huyện Lấp Võ.

Người địa phương nhìn tôi dặn dò: “Từ Lai Vung, con đi thêm khoảng 10 km nữa dọc theo quốc lộ 80 là sẽ tới ngã tư Cai Bường. Tới đó con hỏi chùa Phước Ân ai cũng biết hết”.

Mưa bắt đầu nặng hạt quất vào mặt, vào mũi, vào áo mưa ràn rạt nhưng tôi không cảm thấy rét buốt. Có điều gì đó cựa quậy trong lòng, vừa đê mê vừa phấn khởi. Con đường trắng xóa trong màn mưa như những bông tuyết bay lững lờ trong không trung. Giọt mưa nào ngọt ngào rớt lên môi mắt tôi. Giọt mưa nào tắm mát tâm hồn tôi. Tôi phóng xe trên con đường thênh thang, lòng rộn ràng như đã đặt được bước chân vào chốn cần tìm.

Nơi an nghỉ của người nổi tiếng

Vĩnh Thạnh nghèo nàn và ướt át. Tôi phải hỏi tới người thứ tư mới biết chính xác đường vào chùa Phước Ân. Từ ngã tư Cai Bường rẽ tay trái vào hơn 1 km đường đất nữa mới tới. Con đường len lỏi qua những vườn cây ăn trái xanh mướt và một cây cầu gỗ bắc ngang con kênh. Nhà dân nằm im lìm dưới tán lá như trái chín giấu mình sau vòm lá. Không khí thuần khiết hòa vào hương xoài dịu êm khiến tôi ngẩn ngơ. Gia quyến cụ Nguyễn Hiến Lê phải cực kỳ tinh tế và hiểu ý cụ mới đem cụ về an nghỉ chốn bình yên này.

Chùa Phước Ân hiện ra trước mắt tôi vừa trang nghiêm vừa thân thiện. Ngôi chùa đơn sơ ẩn hiện sau lớp lá bồ đề lóng lánh nước mưa. Không một bóng người. Không gian im ắng. Tôi dắt xe chầm chậm qua sân chùa. Một bà cụ mặc áo nâu sòng, mái tóc hoa râm xuất hiện. Biết tôi muốn tìm mộ cụ Nguyễn Hiến Lê, bà chậm rãi trả lời. “Trong chùa này chỉ có thầy trụ trì với bà biết ông ấy thôi”.

Bà dẫn tôi vào chánh điện. Sau lớp kính mờ ảo của khung ảnh, nụ cười cụ Nguyễn Hiến Lê vẫn tươi rói và đôi mắt dường như vẫn dõi theo trần gian, đôi mắt như thăm thẳm một niềm an lạc. Di ảnh cụ được treo bên cạnh người vợ thứ hai là bà Nguyễn Thị Liệp. Sau khi cụ mất, bà xuất gia đi tu và mong muốn được an nghỉ tại chùa Phước Ân cùng chồng.

Mộ cụ Nguyễn Hiến Lê nằm lọt thỏm trong khoảng 20 ngôi mộ khác. Ngôi mộ của một con người lỗi lạc nhỏ nhắn và giản dị đến nỗi bát nhang không một nén. Nhưng tôi biết, cụ rất ấm cúng khi nằm chung với toàn thể gia quyến trong một khu mộ.

Không hoành tráng lộng lẫy. Không bia đá trường cửu. Không khoa trương diễm lệ. Cụ nằm đó bên ngôi chùa trầm mặc nghe kinh kệ là một diễm phúc hiếm ai nghĩ tới. Có lẽ đây là lối đi mãn nguyện nhất đối với một tâm hồn vốn giản dị và thanh sạch.

Trong gian phòng ấm cúng bên ly trà nóng, bà cụ hỏi tôi có thân thích gì với cụ Lê không mà lại đi thăm mộ lúc trời mưa gió. Tôi thưa thật, tôi chỉ là người đọc sách của cụ. Tôi tìm mộ cụ chỉ để thắp một nén nhang trước hương hồn cụ để tỏ lòng cảm phục.

Bà chưa đọc sách cụ nên hỏi tôi rằng cụ viết sách hay lắm sao mà mất lâu thế vẫn có người nhắc đến. Bà nói nhỏ: “Con đã tìm được đến đây thì làm cách nào đó cho mọi người cùng biết nhé”.

Tôi cắm vào lư hương trên mộ cụ một nén nhang thành kính. Hương trầm tỏa bay làm cay cay khóe mắt.

Trần Thị Trung Thu
DSGX

Học giả NGUYỄN HIẾN LÊ


Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984)là một nhà văn, học giả, dịch giả, nhà giáo dục và hoạt động văn hóa độc lập, với 120 tác phẩm sáng tác, biên soạn và dịch thuật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục, văn học, ngữ học, triết học, lịch sử, du ký, gương danh nhân, chính trị, kinh tế.

– Nguyễn Hiến Lê sinh 8-1-1912 tại Hà Nội, nguyên quán ở làng Phương Khê, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây nay thuộc Ba Vì, Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nhà Nho, ông học tại Hà Nội, trước ở trường Yên Phụ, sau lên Trường Bưởi.

– Năm 1934, ông tốt nghiệp Trường Cao đẳng Công chính Hà Nội vào làm việc, định cư tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ bắt đầu quãng đời nửa thế kỷ gắn bó với Nam bộ.

– Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông thôi làm ở sở, đi dạy học ở Long Xuyên. Năm 1952 chuyển lên Sài Gòn mở nhà xuất bản và biên dịch sách, sáng tác, viết báo.

– Sau năm 1975, ông về ẩn cư ở Long Xuyên, đến năm 1984 ông qua đời tại nhà riêng ở Sài Gòn.

– Những năm trước 1975 và cả trong thời gian sau này, Nguyễn Hiến Lê luôn là một cây bút có tiếng, viết miệt mài và là một nhân cách lớn. Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn du ký khoa học “Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười”, năm 1935.

– Ông có sức làm việc đều đặn 13 tiếng đồng hồ mỗi ngày gồm 6 tiếng để đọc tài liệu và hơn 6 tiếng để viết. Thời gian biểu này được áp dụng một cách nghiêm ngặt không ai được vi phạm kể cả chính ông, nhờ vậy mà ông hàng năm có đôi ba tác phẩm ra mắt công chúng và cả đời đã hoàn thành một khối lượng công việc, tác phẩm nghiên cứu, dịch thuật đồ sộ.

– Trong đời cầm bút của mình, đến trước khi mất, ông đã xuất bản được hơn một trăm bộ sách, về nhiều lĩnh vực: văn học, ngôn ngữ học, triết học, tiểu luận phê bình, giáo dục, chính trị, kinh tế, gương danh nhân, du kí, dịch tiểu thuyết, học làm người… Tính ra, số bộ sách của ông được xuất bản gần gấp 1,5 lần số tuổi của ông và tính từ năm ông bắt đầu có sách in (đầu thập niên 1950), trung bình mỗi năm ông hoàn thành ba bộ sách với 800 trang bản thảo có giá trị gửi tới người đọc.

– Nguyễn Hiến Lê có những đóng góp đáng trân trọng và sáng giá về hoạt thuật ở các lĩnh vực: ngữ học Việt Nam, lịch sử và triết học, văn học Trung Hoa. Những năm trước 1975, tại Sài Gòn ông là một trong vài người cầm bút được giới trí thức quý mến về tài học, nhân cách đối với xã hội cũng như trong học thuật. Do thành quả lao động ngiêm cẩn của mình, ông được đa số độc giả công chúng trân trọng, kể cả học sinh, sinh viên. Ông đã từ chối nhiều giải thưởng văn chương, văn hóa nghệ thuật cao quý của chính quyền Sài Gòn.

Quan điểm sáng tác

– Ngòi bút Nguyễn Hiến Lê đề cập đến nhiều lĩnh vực mà ở lĩnh vực nào cũng có căn cứ khoa học, am tường cặn kẽ về các đối tượng, sâu sắc về các vấn đề được nhắc tới và không thiếu tính nghệ thuật. (Nguyễn Quang Thắng)

– Với cách trình bày trong sáng, đơn giản nhưng không qua loa, người đọc dễ lãnh hội được những điều mà tác giả gửi gấm trong chữ viết. Và bàng bạc, trong chữ nghĩa, trong ý tưởng là cái tâm thẳng thắn và ý hướng giúp những người muốn học hỏi có dịp để đạt cho bằng được những kiến thức cần thiết cho đời sống. (Nguyễn Mạnh Trinh)

– Đời tôi có thể tóm tắt trong hai chữ HỌC và VIẾT. Hai việc đó liên quan mật thiết với nhau gần suốt đời, tôi VIẾT ĐỂ HỌC và HỌC ĐỂ VIẾT – “Lời mở đầu” của tác phẩm “Đời viết văn của tôi”.

– Văn thơ phải tự nhiên, cảm động, có tư tưởng thì mới hay. Ở Trung Hoa, thơ Lý Bạch, văn Tô Đông Pha hay nhất. Ở nước ta, thơ Nguyễn Du tự nhiên, bình dị mà bài nào cũng có giọng buồn man mác.

– Khi nghèo thì phải tận lực chiến đấu với cảnh nghèo vì phải đủ ăn mới giữ được sự độc lập và tư cách của mình. Nhưng khi đã đủ ăn rồi thì đừng nên làm giàu, phải để thì giờ làm những việc hữu ích mà không vì danh và lợi. Giá trị của ta ở chỗ làm được nhiều việc như vậy hay không.

– Xã hội bao giờ cũng có người tốt và kẻ xấu. Như kinh Dịch nói, lúc thì âm thắng, lúc thì dương thắng; mà việc đời sau khi giải quyết xong việc này thì lại sinh ra việc khác liền; sau quẻ Ký tế (đã xong) tiếp ngay quẻ Vị tế (chưa xong). Mình cứ làm hết sức mình thôi, còn thì để lại cho các thế hệ sau.

– Tìm hiểu cái hay của người, rút kinh nghiệm của người để bồi bổ cho nền văn hóa của mình mà vẫn giữ được bản sắc, vẫn rán có sáng kiến của mình chứ không theo đúng người để mong đồng hóa với người… (Cao Văn Luận)

– Với tính cách của người trí thức luôn băn khoăn trăn trở và ý thức trách nhiệm trước tiến đồ dân tộc, Nguyễn Hiến Lê còn thường tổng duyệt lại những kinh nghiệm lịch sử, phân tích các mặt ưu khuyết điểm của phương đông, phương tây rồi dựa trên thực tế văn hoá của nước mình để đề xuất việc nào nên làm, việc nào nên tranh, rồi viết lại như những lời tha thiết dặn dò.

– Chép sử thì không ai có thể hoàn toàn khách quan được, chỉ có thể thành thực được thôi. Chỉ ghi lại những việc xảy ra, không tìm hiểu nguyên nhân, không khen không chê, thì theo tôi, không phải là viết sử. Có những giá trị tinh thần mà chúng ta phải tôn trọng, phải bênh vực, trái lại thì phải chê. Có như vậy mới là thành thực với người đọc và với chính mình.

– Không xông xáo tham dự trực tiếp vào mọi sinh hoạt, công tác xã hội, không thấy mặt ông ở nơi “trọng thể”, hội hè đông đảo nhưng không có vấn đề nào cấp thiết liên quan đến công cuộc cải tiến dân sinh, xã hội mà không có những bài viết thiết thực kịp thời của ông để bày tỏ quan điểm của mình một cách minh bạch hay góp ý kiến xây dựng hết sức khách quan và thẳng thắn với chính quyền, với các giới, tổ chức. Những loạt bài về thanh niên, về chương trình học, thi cử, về tâm lý ính viên xuất ngoại với những biện pháp thích nghi hầu cứu vãn tình trạng trước nguy cơ xuất não, về xuất bản sách báo, kiểm duyệt chứng tỏ rằng khi cần nói thẳng thì ông không ngần ngại nói ngay lên sự thật, nói lên cảm nghĩ chống đối của mình, song vẫn chân thành, có tinh thần xây dựng, không đả kích cá nhân, thành ra không ai làm khó dễ ông. Trên công việc làm, ông tiêu biểu cho hạng người cần mẫn, siêng năng, nói ra là tin cậy được.

Phỏng vấn, viết về tác giả

Nguyễn Hiến Lê, người trí thức chân chính
+ Nguyễn Hiến Lê – một người Hà Nội (Văn hiến Việt Nam)
+ Nguyễn Hiến Lê – hai mươi năm, một trăm cuốn sách
+ Nhà văn Nguyễn Hiến Lê: Viết như là… hành xác (Văn nghệ Công an)
+ Nguyễn Hiến Lê, kẻ sĩ trong thời đại chúng ta (An Việt toàn cầu)
Nhân sinh quan của tôi (Nguyễn Hiến Lê)
+ Một tuyển tập đồ sộ (Tuổi trẻ cuối tuần)


Văn học, tiểu thuyết

– 
Hương sắc trong vườn văn (2 quyển) – 1962
– Đại cương văn học sử Trung Quốc (3 quyển) – 1955
– Cổ văn Trung Quốc – 1966
– Chiến Quốc sách (viết chung với Giản Chi) – 1968
– Sử Ký Tư Mã Thiên (viết chung với Giản Chi) – 1970
– Tô Đông Pha – 1970
– Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa (dịch) – 1970
– Kiếp người (dịch Somerset Maugham) – 1962
– Mưa (tuyển dịch nhiều tác giả) – 1969
– Chiến tranh và hoà bình (dịch Lev Nikolayevich Tolstoy) – 1968
– Khóc lên đi ôi quê hương yêu dấu (dịch Alan Paton) 1969
– Quê hương tan rã (dịch C. Acheba) – 1970
– Cầu sông Drina (dịch I. Andritch) – 1972
– Bí mật dầu lửa (dịch Gaillard) – 1968
– Con đường thiên lý – 1990
– Mùa hè vắng bóng chim (dịch Hansuyn)
– Những quần đảo thần tiên (dịch Somerset Maugham) – 2002

Triết học

– Nho giáo một triết lý chính trị – 1958
– Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Giản Chi) – 1965
– Nhà giáo họ Khổng – 1972
– Liệt tử và Dương tử – 1972
– Một lương tâm nổi loạn – 1970
– Thế giới ngày mai và tương lai nhân loại – 1971
– Mạnh Tử – 1975
– Trang Tử – 1994
– Hàn Phi Tử – 1994
– Tuân Tử -1994
– Mặc học – 1995
– Lão Tử – 1994
– Luận ngữ – 1995
– Khổng Tử – 1992
– Kinh Dịch, đạo của người quân tử – 1990

Lịch sử

– Lịch sử thế giới (viết với Thiên Giang) – 1955
– Đông Kinh Nghĩa Thục – 1956
– Bài học Israel – 1968
– Bán đảo Ả Rập – 1969
– Lịch sử văn minh Ấn Độ (dịch Will Durant) – 1971
– Bài học lịch sử (dịch Will Durant) – 1972
– Nguồn gốc văn minh (dịch Will Durant) – 1974
– Văn minh Ả Rập (dịch Will Durant) – 1975
– Lịch sử văn minh Trung Quốc (dịch Will Durant) – 1997
– Sử Trung Quốc (2 quyển) – 1997

Giáo dục – giáo khoa

– Thế hệ ngày mai – 1953
– Thời mới dạy con theo lối mới – 1958
– Tìm hiểu con chúng ta – 1966
– Săn sóc sự học của con em – 1954
– Tự học để thành công – 1954
– 33 câu chuyện với các bà mẹ – 1971
– Thế giới bí mật của trẻ em – 1972
– Lời khuyên thanh niên – 1967
– Kim chỉ nam của học sinh – 1951
– Bí quyết thi đậu – 1956
– Để hiểu văn phạm – 1952
– Luyện văn I (1953), II & III (1957)
– Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam (viết với T. V. Chình) – 1963
– Tôi tập viết tiếng Việt – 1990
– Muốn giỏi toán hình học phẳng – 1956
– Muốn giỏi toán hình học không gian – 1959
– Muốn giỏi toán đại số – 1958

Chính trị – Kinh tế

– Một niềm tin – 1965
– Xung đột trong đời sống quốc tế – 1962
– Hiệu năng – 1954
– Tay trắng làm nên – 1967
– Tổ chức công việc theo khoa học – 1949
– Tổ chức công việc làm ăn – 1967
– Lợi mỗi ngày một giờ – 1971
– Những vấn đề của thời đại – 1974

Gương danh nhân

– Gương danh nhân – 1959
– Gương hi sinh – 1962
– Gương kiên nhẫn – 1964
– Gương chiến đấu – 1966
– Ý chí sắt đá – 1971
– 40 gương thành công – 1968
– Những cuộc đời ngoại hạng – 1969
– 15 gương phụ nữ – 1970
– Einstein – 1971
– Bertrand Russell – 1972
– Đời nghệ sĩ – 1993
– Gogol – 2000
– Tourgueniev – 2000
– Tchekhov – 2000

Khảo luận – tùy bút – du ký

– Đế Thiên Đế Thích – 1968
– Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười – 1954
– Nghề viết văn – 1956
– Vấn đề xây dựng văn hoá – 1967
– Chinh phục hạnh phúc (dịch Bertrand Russell) – 1971
– Sống đẹp – 1964
– Thư ngỏ tuổi đôi mươi (dịch André Maurois) – 1968
– Chấp nhận cuộc đời (dịch L. Rinser) – 1971
– Làm con nên nhớ (viết với Đông Hồ) – 1970
– Hoa đào năm trước – 1970
– Con đường hoà bình – 1971
– Cháu bà nội tội bà ngoại – 1974
– Ý cao tình đẹp – 1972
– Thư gởi người đàn bà không quen (dịch André Maurois) – 1970 10 câu chuyện văn chương – 1975
– Đời viết văn của tôi – 1996
– Hồi ký Nguyễn Hiến Lê – 1992
– Để tôi đọc lại – 2001

Tự luyện – Học làm người

– Tương lai trong tay ta – 1962
– Luyện lý trí – 1965
– Rèn nghị lực – 1956
– Sống 365 ngày một năm – 1968
– Nghệ thuật nói trước công chúng – 1953
– Sống 24 giờ một ngày (dịch Arnold Bennett) – 1955
– Luyện tình cảm (dịch F. Thomas) – 1951
– Luyện tinh thần (dịch Dorothy Carnegie) – 1957
– Đắc nhân tâm (dịch Dale Carnegie) – 1951
– Quẳng gánh lo đi và vui sống (dịch Dale Carnegie) – 1955
– Giúp chồng thành công (dịch Dorothy Carnegie) – 1956
– Bảy bước đến thành công (dịch G. Byron) – 1952
– Cách xử thế của người nay (dịch Ingram) – 1965
– Xây dựng hạnh phúc (dịch Aldous Huxley) – 1966
– Sống đời sống mới (dịch Powers) – 1965
– Thẳng tiến trên đường đời (dịch Lurton) – 1967
– Trút nỗi sợ đi (dịch Coleman) – 1969
– Con đường lập thân (dịch Ennever) – 1969
– Sống theo sở thích (dịch Steinckrohn) – 1971
– Giữ tình yêu của chồng (dịch Kaufmann) – 1971
– Tổ chức gia đình – 1953

Các bài đăng trên tạp chí

242 bài trên tạp chí Bách Khoa, 50 bài trên các tạp chí Mai, Tin Văn, Văn, Giáo Dục Phổ Thông, Giữ Thơm Quê Mẹ. Ngoài ra ông còn viết lời giới thiệu cho 23 quyển sách.

Tạp chí Bách khoa (1957)

– Vấn đề dịch văn
– Tính cách chính trị của Nho giáo
– Đại tướng Montgomery
– Tiếng Việt ngày nay
– Phép dịch thơ
– Heinrich Schliemann
– Cái thần trong văn


Tạp chí Bách Khoa (1958)
– Chính sách chính trị của Nho giáo
– Thomas Elva Edison
– Xã hội theo Nho giáo
– Dịch sách cổ của ta
– Quản Trọng
– Léon Tolstoi
– Kỷ luật phải xây dựng trên những quy tắc nào?
– Văn thể hùng vĩ
– Dịch sách Nho giáo (một tin mừng)
– Vương Dương Linh
– Tị hiềm

Tạp chí Bách Khoa (1959)
– Phê bình “Vài nhận xét về văn phạm’ của P. J. Honey
– Tết đi thăm cụ Võ Hoành
– Cái chết của Socrate
– Điểm sách “Triết lý văn hóa khái luận” của Nguyễn Đăng Thục
– Điểm sách “Đường thi trích dịch” của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản
– Con vịt (tùy bút)
– Óc thẩm mỹ và cái đẹp
– Phê bình “Le Parler Vietnammien” của Lê Văn Lý
– Con đường giao thông giữa Đông Tây
– Văn “ba lan”
– Điểm sách “Tân Liêu trai” của Phong Ngạn (Bình Nguyên Lộc)
– Ý kiến về truyện ngắn Việt và ngoại quốc
– Ông bà Curie

Tạp chí Bách Khoa (1960)
– Dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ
– Đính chính sử liệu Việt nam của Tưởng Quân Chương
– “Văn học Việt Nam” của Phạm Văn Diêu
– Norbert Wiener
– Florence Nightingale
– “Người báo hiệu” của Ch. Dickens
– “Việt ngữ chánh tả” của Lê Ngọc Trụ
– Một chương trình dịch sách ngoại quốc
– Champollion
– Dostoievski
– Mustapha Kemal
– Tình hình xuất bản 1959
– “Mưa” của S. Maugham

Tạp chí Bách Khoa (1961)
– Tiếng Việt làm chuyển ngữ ở Đại học
– Một gương tiết kiệm
– Kỹ thuật chân chính
– Ibn Séoud
– Vài ý nghĩ về cú pháp
– Tình hình xuất bản 1960
– So sánh ngành xuất bản Pháp và Việt Nam hiện nay
– Đuổi bắt ảo ảnh

Tạp chí Bách Khoa (1962)
– Hạng trẻ anh tuấn
– Quốc gia Israel
– Bi kịch 1000 năm chưa dứt (Do Thái)
– Isaac Newton
– Thống nhất nhan đề các áng văn thơ cổ
– “Người chỉ huy” của J. Steinbeck
– Cải tổ nền giáo dục Việt Nam
– Từ vụ Dreyfus tới L’État juif
– Tiến sĩ Hồ Thích
– I. P. Semmelweiss
– “Việt Nam ca trù biên khảo” của Đỗ Bằng Đoàn

Tạp chí Bách Khoa (1963)
– G. Abel Nasser và kênh Suez
– Nasser và vụ kênh Suez
– Vấn đề sinh tử của Ai Cập: nước
– Những hiệp ước về kênh Suez

Tạp chí Bách Khoa (1964)
– Th. Edward Lawrence
– Mối tình giữa Phan Bội Châu và Hồ Thích
– Cần nâng cao tri thức đại chúng
– Lại sắp đến mùa thi
– Helen Keller
– Góp ý về chính sách cách mạng của Bộ giáo dục

Tạp chí Bách Khoa (1965)
– Alexander Fleming
– Mặc Tử, Dương Tử, Lão Tử
– Mạnh Tử, Trang Tử
– Pháp trị
– Vấn đề đánh trẻ
– Làm con nên nhớ
– Triết học Trung Hoa thời Tiên Tần
– Biệt Mặc và Danh gia
– Thân phận con người trong Truyện Kiều
– Ngu í viết về tôi

Tạp chí Bách Khoa (1966)
– Nhà cầm quyền và dư luận
– Một cách mạng trong giáo dục ở Pháp
– Cuốn “Một nền giáo dục nhân bản”
– Somerset Maugham
– Ý kiến về chính sách bỏ thi
– Jules Verne
– Cuốn “Vài ý nghĩ của giáo Mưu”
– Cụ Dương Quảng Hàm

Tạp chí Bách Khoa (1967)
– Walt Disney
– Loại địa phương chí
– Chuyển bất lợi thành thắng lợi
– Ben Gourion
– Dịch “Thư ngỏ gửi một thanh niên” của A. Maurois
– Một nền giáo dục phục vụ
– Ông bà La Fayette
– Mười năm cầm bút và xuất bản
– André Maurois
– Bọn trí thức chúng ta làm được gì…?
– Cái chết của giáo sư Trần Vinh Anh

Tạp chí Bách Khoa (1968)
– Thanh niên Pháp đáp “Những thư ngỏ…” của André Maurios
– Văn học Trung Quốc hiện tại
– Lỗ Tấn
– Kinh tế Israel – Kibboutz
– Thảm trạng Irak
– Dịch văn ngoại quốc
– Sự thuần khiết trong ngôn ngữ
– Văn học Đài Loan (1945-1958)
– Truyện “Toàn phong” của Khương Quý (Đài Loan)
– Lão Xá
– Bán đảo Ả Rập sau thế chiến II
– Thảm trạng chiến tranh Dầu lửa
– Chiến tranh và Hòa bình của Tolstoi

Tạp chí Bách Khoa (1969)
– Bốn lối kết trong tiểu thuyết
– Ba Kim
– Honoré de Balzac
– Khóc bác Đông Hồ
– Mao Thuẫn
– Vấn đề kiểm duyệt

Tạp chí Bách Khoa (1970)
– Hồn Đại Việt, giọng Hàn Thuyên
– Đặc tính thơ Trung Hoa (dịch Lâm Ngữ Đường)
– Einstein
– Lịch sử văn minh của Will Durant
– Văn chương hạ giới rẻ như bèo
– “Châu Á và hòa bình thế giới” của Tr. Minh Triết
– “Việt Nam tự điển” của Lê Văn Đức
– Phỏng vấn Han Suyin (dịch)

Tạp chí Bách Khoa (1971)
– Bertrand Russell
– Đất Hà Tiên với họ Mạc và họ Lâm
– Hôn nhân và nghề cầm viết
– Tình hình xuất bản năm 1970

Tạp chí Bách Khoa (1972)
– Nguy cơ xuất não
– Nhà giáo họ Khổng
– Lịch sử và chiến tranh (Will Durant)
– Suy tư về phong trào Về nguồn
– Lịch sử và kinh tế (W. Durant)

Tạp chí Bách Khoa (1973)
– Kỷ nguyên tiêu thụ và nghề viết văn
– Nhớ Hư Chu
– Nhân số và nạn đói

Tạp chí Bách Khoa (1974)
– Năm 2000
– “Mảnh vụn văn học sử” của Bằng Giang
– Mạnh Tử
– Tai Họa Minamata

Tạp chí Bách Khoa (1974)
– Báo cáo số 1 và số 2 của nhóm La Mã

Tạp chí Mai (1960)
– Đừng phàn nàn suống, phải đòi hỏi
– Đánh mắng con
– Giáo dục sinh lý
– Thiếu nhi thông minh
– Thuật đòi hỏi
– Đòi hỏi các tư thục những gì?
– Chuyển ngữ ở Địa học – Quốc văn ba lối 1961
– Hai kỳ thi Trung học đệ nhất cấp vừa qua
– Hồ sơ thanh niên
– Hôn nhân
– Tứ đức ở thời nay
– Phê bình “Nàng Ái Cơ trong chậu úp” của Mộng Tuyết và “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển

Tạp chí Mai (1962)
– Nghỉ ngơi và tiêu tiền
– Vấn đề thanh niên

Tin văn (1965)
– Văn chương và dân tộc tính

Tin văn (1966)
– Làm sao cho học sinh bớt dốt Việt văn
– Đả phá dễ hay xây dựng dễ?

Tin văn (1967)
– Tiếp thu văn hóa Tây phương
– Phát huy văn hóa truyền htống
– Một phong sự khá sống động

Văn (1967)
– Để giải thích Truyện Kiều

Tin văn (1970)
– Thi sĩ Quách Tấn và “Xứ trầm hương”

Tân văn (1968)
– “Nước non Bình Định” của Quách Tấn
– Chiến Quốc sách: giá trị về văn học

Tin văn (1969)
– “Đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt nam” của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọn Huề
– Tình hình xuất bản sau biến cố Mậu Thân”

Giáo dục phổ thông (1958)
– Chính sách xã hội của Nho giáo

Giáo dục phổ thông (1959)
– Hương và Sắc
– Voltaire: ông vua không ngôi
– Hai bài văn và hai bài thơ
– Ba luật căn bản về sự phát triển của trẻ
– Chung cụ (dịch John
Calsworthy) (Hồ Thích, Phạm Thận, Longfellow, Emma Calvé)

Giáo dục phổ thông (1960)
– Phương pháp trắc nghiệm trẻ em

Giữ thơm quê mẹ (1965)
– Bút pháp và cá tính

Đại học (tập san nghiên cứu của Đại học Huế)
– Một phương pháp nghiên cứu ngữ pháp Việt Nam (1961)
– Ngữ pháp là gì? (1962)

LUẬT MINH KHUÊ sưu tần, biên tập và giới thiệu

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.