Hồi ức của một người Việt Nam đã sống nhiều năm tại Bắc Hàn và mối tình đẹp đáng trân quý của cặp tình nhân Triều Tiên/Việt Nam

HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI VIỆT NAM ĐÃ SỐNG NHIỀU NĂM Ở TRIỀU TIÊN

Và một mồi tình đích thật và đẹp


Thời công tác An ninh văn hóa tôi đã được đọc nhiều tài liệu của các phóng viên phương Tây viết về Triều Tiên và đã biết bức tranh thật của xã hội Triều Tiên là thế nào. Vừa qua tôi thấy có một bài viết hoàn toàn bênh vực cho cái gọi là CNXH ở đây như là thiên đường, là hình mẫu hạnh phúc cho con người mà chúng ta phải mơ ước. Nay lại có bài phỏng vấn một cán bộ ngoại giao đã rất nhiều năm công tác ở Triều Tiên có nhiếu hồi ức chân thực và cảm động. Tuy nhiên bà còn có ý không nhắc đến quan hệ Việt – Triều khủng hoảng cực lớn từ 2-1979. Triều Tiên đã ủng hộ TQ và Khơ Me đỏ, ủng hộ việc cấm vận VN…
Cám ơn trang Soha đã đưa bài này. Tôi xin đưa lên FB để bạn đọc rộng đường so sánh với các thông tin trái ngược khác.

Thái Kế Toại


Bà Đỗ Thị Hòa – Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên nhiệm kỳ 2000 – 2004 sang Triều Tiên năm 1964 lần đầu tiên với tư cách là một du học sinh và rời Triều Tiên vào năm 2004 sau khi kết thúc nhiệm kỳ Đại sứ. Tính trong 40 năm đó, cả cuộc đời và sự nghiệp của bà đều gắn với đất nước này. Nhưng câu chuyện Triều Tiên gắn bó với bà còn dài và sâu hơn 40 năm đó. Nói về những gắn bó với đất nước đặc biệt này, bà Hòa gọi Triều Tiên là “Nơi bắt đầu, cũng là nơi kết thúc”. Nhân chuyến thăm chính thức của Chủ tịch Kim Jong-un đến Việt Nam, báo điện tử Trí Thức Trẻ đã mời Đại sứ Đỗ Thị Hòa chia sẻ những ký ức khó quên của bà với Triều Tiên.


Triều Tiên và Việt Nam là hai đất nước có nhiều gắn bó bởi những điểm tương đồng trong lịch sử: Cùng trải qua cuộc kháng chiến. Hạ tầng nhiều cái họ hơn mình. Thời kỳ trước đây, khi khối XHCN còn tồn tại, trình độ phát triển của họ đã có lúc đạt được như các nước Đông Âu. Lúc ấy thì mình còn đang chống Mỹ. Sau này khi mình tiến lên thì bạn lại bị bao vây cấm vận. Họ sống thu mình lại.
Năm 1964, tôi bắt đầu sang Triều Tiên học. Triều Tiên lúc đó vừa vượt qua chiến tranh, vẫn còn khó khăn, ở Liên Xô chủ nghĩa xét lại nổi lên, họ không nhận lưu học sinh của mình, Trung Quốc thì diễn ra cách mạng văn hóa.

Trong lúc đó, Triều Tiên vẫn nhận 30 lưu học sinh của ta. Năm sau nữa họ nhận 700 rồi 1.000, rất nhiều thực tập sinh nữa. Những năm 1967 – 1968, dù khó khăn, bạn vẫn điều chỉnh ngân sách để có một khoản viện trợ giúp mình. Sự ủng hộ của Triều Tiên rất nhiệt tình. 
Giai đoạn đó, Mỹ liên tục ném bom. Có những ngày, sáng Sứ quán ta vừa đề nghị ra tuyên bố ủng hộ, chiều lại tiếp tục đề nghị ủng hộ. Đây là thời kỳ quan hệ hai nước rất tốt, ông Kim Nhật Thành dành tình cảm rất lớn cho Việt Nam, coi Đại sứ Lê Thiết Hùng là người bạn Bác Hồ gửi sang và mong muốn kề vai sát cánh cùng Việt Nam đánh Mỹ.
Tôi từng đứng trong hàng ngũ cùng dân Triều Tiên xuống đường biểu tình ủng hộ Việt Nam chống Mỹ. Người dân Triều Tiên rất đông, diễu hành từ trường Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành đến Quảng trường.
Tuy nhiên, quan hệ hai bên đi xuống dần khi ta thiết lập quan hệ với Hàn Quốc vào năm 1992. Họ hiểu lầm rằng mình bắt tay với phía bên kia nên dần xa nhau.
Đến khi Tổng thống dân sự của Hàn Quốc là ông Kim Dea-jung sang thăm Triều Tiên thì quan hệ Nam – Bắc dần hòa dịu, họ cũng đỡ đi hiểu lầm trong quan hệ với ta và mối giao tình hai bên dần dần cải thiện được.
Cuối năm 2000 Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Dy Niên sang thăm Triều Tiên có trao đổi đoàn ở cấp Bộ trưởng, đã bàn về quan hệ hai nước, dần dần quan hệ hai bên phát triển lên. Tháng 7/2001, Chủ tịch Quốc hội Kim Young Nam thăm Việt Nam và năm sau là Chủ tịch nước Trần Đức Lương có chuyến thăm.
Phải đến thời điểm đó, quan hệ hai nước mới được khai thông và trong vòng một năm rưỡi đã tiến nhanh. Đến bây giờ nhìn lại, những gì trong quá khứ chỉ nên xét trong bối cảnh lịch sử, không ai phê phán ai. Tất cả đều do bối cảnh lịch sử.

Thực tế, trước chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương vào năm 2002, ta vẫn cố gắng thúc đẩy quan hệ với Triều Tiên. Thời điểm đó Triều Tiên rất khó khăn. Năm 1994, ông Kim Nhật Thành mất, 2 năm liền Triều Tiên gặp nạn lụt. Có năm lụt lớn đến mức báo Triều Tiên đưa tin, mô tả cảnh khăn tang đầy đường. Báo chí Triều Tiên hồi đó viết ông Kim Jong Il cũng ứa nước mắt khi nhìn mọi của cải vật chất trôi ra sông ra biển.
Địa hình Triều Tiên có đặc điểm giống miền Trung nước ta là địa hình núi, ngắn, mưa không giữ được nước nên trôi hết ra biển. Họ vừa thiếu thốn về lương thực, về năng lượng, điện không có, than không có, không chạy được điện… không phục vụ được nông nghiệp, khai khoáng. 
Vì thế, chỉ một trận lụt như thế xảy ra thì không phải thiếu lương thực một năm mà mấy năm sau. Đến năm 1997, chính người Triều Tiên đánh giá họ đã xuống đến đáy. Có những người Triều Tiên thân với tôi nói rằng đau lòng lắm, mới bước lên tàu thôi thì gục luôn, vì đói quá không đi được nữa.

Khoảng năm 1997 – 1998, đoàn Triều Tiên có sang Việt Nam đàm phán. Cậu phiên dịch là người Triều Tiên đang nói về tình hình khó khăn của đất nước thì không kìm được, khóc luôn ở phòng họp. Bác Vũ Khoan có tham gia kể lại rằng, chưa có cuộc hội đàm nào mà thấy buồn và thương cảm đến thế. 
Họ đề nghị mình viện trợ lương thực. Mình lúc thì tặng, lúc thì họ mua trả sau. Qua những chuyện đấy bạn cũng hiểu tấm lòng của mình.
Năm 2000, khi tôi nhận nhiệm vụ Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên, mặc dù nạn lụt đã qua nhưng Triều Tiên vẫn còn rất khó khăn. Ở ngoài đường không có điện, đèn pha ô tô chiếu đến ở đâu thì ở đó sáng, đoàn đón tôi về Đại sứ quán phải dùng đèn pin soi cho tôi đi. Về đến sứ quán thì anh em phải đốt đèn cầy tôi mới lên được phòng.
Ở Triều Tiên, muốn mua gì cũng khó. Triều Tiên bị cấm vận, không được tiêu USD mà chỉ được tiêu bằng tiền Thụy Sĩ. Tôi và anh em Sứ quán cứ 3 tháng một lần lại sang Bắc Kinh nhận kinh phí cho Đại sứ quán từ trong nước gửi sang. Nhân dịp đấy, chúng tôi tranh thủ mua hàng cho cơ quan, từ cái nút phích, dây buộc đồ cho đến bát, đĩa, nồi, niêu, thịt thì tích trữ trong tủ lạnh.
Làm Đại sứ ở Triều Tiên, chính tôi cũng kiêm luôn việc bếp núc, chuẩn bị tiệc chiêu đãi cho sứ quán. Mỗi lần có tiệc chiêu đãi, tôi phải chuẩn bị hàng tháng trước, đi Trung Quốc mua thức ăn. Đến ngày mở tiệc chiêu đãi thì hôm trước anh em trong Sứ quán dọn vệ sinh. Tôi viết và tự dịch diễn văn, dịch xong thì xuống làm bếp. Mà trong các tiệc chiêu đãi của Đại sứ quán Việt Nam không thể thiếu món nem, chuẩn bị thức ăn thì có thể từ vài tháng nhưng nem thì phải lúc gần tiệc chiêu đãi mới rán. Tôi phải che chắn thật kỹ để mùi nem không bám vào đầu tóc quần áo. Xong xuôi lại tháo ra, trang điểm đi xuống đón khách, đọc diễn văn. Kết thúc tiệc chiêu đãi thì lại thay áo dài ra ra đi lau bếp.
Từ năm 1994, khi còn là Bí thư thứ nhất tại Đại sứ quán Việt Nam tại Triều Tiên, tôi cũng không ít lần phải đi “chợ đen” mua đồ. Có một chuyện, nhỏ thôi, mà tôi nhớ mãi. Một lần, tôi đang đi bộ thì một người phụ nữ bước qua tôi, hỏi thoảng rất nhỏ:
– “Có mua cá không?”
– “Cá gì?” – Tôi đáp lại
– “Cá chép”
– “Mấy kg? Giá bao nhiêu?”
Sau khi hỏi giá xong xuôi, người phụ nữ đấy lững thững đi vào nhà vệ sinh, tôi đi theo. Bên trong nhà vệ sinh, bà ấy trút cá vào túi của tôi xong đi ra. Một lúc sau, tôi cũng đi ra với con cá chép ở trong túi.
Sau này, đến khi làm Đại sứ thì tôi không còn phải đi mua hàng ở chợ dân nữa mà chỉ nuôi gà, trồng rau trong sứ quán để có thêm nguồn thực phẩm.

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương là chuyến thăm đáp lễ chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội Kim Young Nam hồi tháng 7/2001. Sẽ có nhiều người thắc mắc là tại sao lại có chuyện Chủ tịch nước đáp lễ một chuyến thăm của Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội?
Nguyên nhân của việc “không giống ai” này là do ông Kim Nhật Thành là Chủ tịch vĩnh viễn nên các vị trí lãnh đạo Đảng như Tổng Bí thư thì có thể thay thế nhưng Chủ tịch thì không. Khi ông Kim Nhật Thành qua đời, chức Chủ tịch bỏ trống.
Sau khi ông Kim Nhật Thành từ trần, trong Quốc thư gửi đi các nước vẫn có tên của ông. Còn về giao tiếp quốc tế, Hội đồng Quốc phòng Triều Tiên – cơ quan lãnh đạo về mặt Nhà nước – đã cử Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội làm nhiệm vụ đối ngoại cấp nhà nước, tiếp đại sứ các nước, cử đại sứ và gặp các nước, hay có các chuyến thăm trên danh nghĩa Chủ tịch nước.
Tháng 7/2001, Chủ tịch Quốc hội Triều Tiên sang thăm ta. Năm sau thì Chủ tịch nước mình thăm bạn. Tất nhiên, quan hệ của mình lúc đó tốt thì mới có chuyến thăm như vậy. Năm đó ông Kim Jong Il mời Chủ tịch Trần Đức Lương xem đồng diễn thể dục Mass Game và còn có nhã ý muốn mời Chủ tịch nước ta mùa hè năm sau sang xem tiếp.
Tuy nhiên, còn một điều đặc biệt mà ít người biết, đó là chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương năm ấy không chỉ làm nồng ấm lại quan hệ hai nước, mà còn đem lại cơ hội nối lại mối duyên của một chàng trai Việt Nam và một cô gái Triều Tiêu sau 31 năm chờ đợi.
Nhiều thập kỷ trước, Phạm Ngọc Cảnh là một du học sinh ngành hóa ở Thành phố Hàm Hưng, Triều Tiên. Trong một lần đi thực tập, Cảnh vô tình quen biết một cô gái Triều Tiên đang làm kỹ thuật tại nơi anh thực tập. Cô gái Ri Yong Hui mang nét dịu dàng đặc trưng của những cô gái Triều Tiên. Đến bây giờ, sau nhiều năm bà Ri vẫn còn rất đẹp.
Hai người yêu nhau ngay từ cái nhìn đầu tiên. Lần đầu tiên nhìn thấy cô gái Ri Yong Hui, anh Cảnh đã nghĩ, phải lấy cô gái này làm vợ. Nhưng vì những quy định khắt khe thời ấy, hai người chỉ dám giữ kín tình cảm trong lòng.
Năm 1973, chàng thanh niên Phạm Ngọc Cảnh về nước, ôm mối tình vô vọng. Sau này, năm 1978, anh Cảnh có cơ hội quay trở lại Triều Tiên và đến tìm Ri Yong Hui.
Hai người cùng nói với nhau, là chỉ có thể nhớ nhau trong tâm tưởng mà thôi, và cả hai đều quyết định không lấy người nào khác.
Nhưng số phận lại thử thách tình yêu của hai người một lần nữa. Khoảng năm 1994, Triều Tiên gặp phải nạn lụt nặng. Người dân lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực trong mấy năm liền. Khi anh Cảnh nhờ người dò hỏi thông tin của cô Ri thì hay tin là cô đã mất. Anh đau đớn vô cùng. Nhưng thực ra, người mất khi ấy là mẹ và em gái cô Ri. Chỉ vì thông tin khó khăn mà có sự hiểu lầm này. Còn cô Ri, giống như nhiều người Triều Tiên khác ở vùng bị ảnh hưởng của thiên tai khi đó, cô cũng phải rời khỏi quê nhà đi sơ tán. Cô sống sót nhưng hai người cũng mất liên lạc từ đó.
Sau này may mắn là một người bạn Triều Tiên đáng tin cậy tìm được thông tin của cô Ri và báo với Cảnh. Người này cũng hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh của hai người nên đã nhận làm người gửi những bức thư của anh Cảnh đến cô Ri.
Những bức thư tình lúc ấy phải hết sức bí mật: Phải dùng đúng loại phong bì dùng trong nội bộ Triều Tiên, viết bằng tiếng Triều Tiên, và với những nội dung thật khô khan để tránh sự nghi ngờ, bởi trong hoàn cảnh lúc ấy ở Triều Tiên, chuyện có tình cảm với người nước ngoài vẫn bị coi như một điều cấm kỵ. Thế nhưng chỉ cần đọc được những câu từ đơn giản như “Chào đồng chí, Đồng chí thế nào? Tôi vẫn khỏe” là hai người đã trào nước mắt vì nhận ra nhau.
Năm 1997, biết được chuyện này, Bộ trưởng Ngoại giao ta là ông Nguyễn Mạnh Cầm đã từng đặt vấn đề với phía Triều Tiên, nhưng phía bạn chưa trả lời.
5 năm sau, khi Chủ tịch nước Trần Đức Lương sang thăm, nhân quan hệ hai nước đang tiến triển khá nhanh sau một thời gian trầm lắng, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên nhắc lại câu chuyện này với người đồng cấp phía Triều Tiên. Nhưng ông chỉ đề cập đến việc anh Cảnh mong muốn được gặp mặt, thăm hỏi cô Ri chứ không hề nhắc đến chuyện kết hôn.
Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương diễn ra vào đầu tháng 5/2002 thì đến tháng 9/2002, Sứ quán Triều Tiên ở Hà Nội thông báo cho Bộ Ngoại giao của ta là phía Triều Tiên đã đồng ý. Nhận được tin, anh Cảnh sắp xếp để sang Triều Tiên, đồ đạc mang theo chỉ có một bộ comple, một mảnh vải may áo Hanbok tặng cho cô Ri cùng với một niềm tin mong manh.
Cuối cùng, vào cuối tháng 10 năm đó, hai người được gặp lại nhau sau hàng chục năm xa cách. Địa điểm là một khách sạn ở thành phố Bình Nhưỡng.
Triều Tiên lúc đó vẫn chưa thoát khỏi tình trạng thiếu năng lượng. Khách sạn này có tên là Thanh niên, cao tầng nhưng tối om, chỉ ở sảnh là có đèn. Tôi và một tham tán của Đại sứ quán ta tại Triều Tiên phải soi đèn pin, mọi người mới dò dẫm đi được.
Anh Cảnh đến trước, một lúc sau cô Ri đến, hai người ôm nhau chầm lấy nhau, òa khóc. Đến lúc này, sự chờ đợi của hai người đã là 31 năm.
Cảnh tượng khi ấy khiến cho mọi người chứng kiến ở cả phía Việt Nam và Triều Tiên đều thương cảm.
Ngày hôm sau, tôi mời một số bạn bè Triều Tiên đã giúp cho hai người đến được với nhau tới Sứ quán ta để cảm ơn, cũng là làm một cái lễ nhỏ của nhà gái để tiễn cô Ri sang Việt Nam trước sự có mặt của quan chức Triều Tiên. Hôm đó, anh em Sứ quán ta cũng mua được con gà ở chợ dân, cùng ít bánh kẹo để tổ chức lễ trao nhẫn cho hai người.
Niềm hạnh phúc này quá lớn và bất ngờ, nên cả anh Cảnh và cô Ri đều vẫn chưa dám tin. Sau này, một vị tham tán Đại sứ quán Cuba cùng có mặt trên chuyến tàu từ Bình Nhưỡng về Bắc Kinh kể lại, trên suốt chuyến tàu, cô Ri Yong Hui ngồi nép vào một chỗ, không dám nói, dám cười, dường như cô sợ niềm hạnh phúc mới chớm nở có thể tan vỡ bất cứ lúc nào. Chỉ đến khi tàu tiến qua biên giới Trung – Triều, Ri Yong Hui mới tin đó là sự thật.
Chuyện tình xa cách 31 năm của cặp đôi Việt – Triều nếu đặt trong bối cảnh hiện tại thì ít người hiểu hết được. Cái kết có hậu của mối tình không chỉ là thành quả của những yêu thương chờ đợi, của những lá thư khô khan suốt nhiều năm trời và tình yêu bền chặt, mà còn là kết quả từ những tiến triển tốt đẹp trong quan hệ hai nước.
Và đến năm nay, cuối cùng, hai nước chúng ta lại có một chuyến thăm chính thức sau 6 thập kỷ kể từ khi Chủ tịch Kim Nhật Thành đến thăm Việt Nam.

Theo Soha.

Chuyện chưa biết về mối tình Việt – Triều xuyên thế kỷ

Vũ Hân

Vũ Hân

v 25/02/2019 0 THANH NIÊN ONLINE

Chờ đợi 1/3 thế kỷ để đến được với nhau, mối tình Việt – Triều của ông Phạm Ngọc Cảnh và bà Ri Yong-hui đã làm xúc động nhiều người, nhưng vẫn còn nhiều câu chuyện chưa được biết đến về mối tình son sắt này.

Sau chuyến thăm tháng 5.2002 của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, phía Triều Tiên đã cho phép bà Ri Yong-hui kết hôn với ông Phạm Ngọc Cảnh /// Ảnh tư liệu của Đại sứ Đỗ Thị Hòa

Sau chuyến thăm tháng 5.2002 của Chủ tịch nước Trần Đức Lương, phía Triều Tiên đã cho phép bà Ri Yong-hui kết hôn với ông Phạm Ngọc Cảnh

ẢNH TƯ LIỆU CỦA ĐẠI SỨ ĐỖ THỊ HÒALà Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên nhiệm kỳ 2000 – 2004, nguyên Đại sứ Đỗ Thị Hòađã chứng kiến giờ phút khai hoa, kết quả của mối tình 31 năm chờ đợi, mối tình mà bà gọi là “xuyên thế kỷ” này.

Nữ đại sứ Việt Nam với 4 thập kỷ gắn bó với Triều Tiên

Trong suốt 40 năm gắn bó với Triều Tiên của bà Hòa, một trong những thời điểm xúc động nhất mà cũng hồi hộp, thấp thỏm nhất là khi được đón ông Phạm Ngọc Cảnh sang Đại sứ quán để chờ đợi đoàn tụ với bà Ri Yong-hui.Theo bà Hòa nhớ lại, sau chuyến thăm cấp cao Triều Tiên của Chủ tịch nước Trần Đức Lương vào tháng 5.2002, cuộc hôn nhân của ông Phạm Ngọc Cảnh và bà Ri Yong-hui đã được phía bạn đồng ý. Tháng 10 năm đó, phía Triều Tiên thông qua Đại sứ quán của mình tại Hà Nội, thông báo với Bộ Ngoại giao về việc đồng ý để bà Ri Yong-hui kết hôn với một công dân Việt Nam.

Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên Đỗ Thị Hòa ẢNH LÊ NAM

Ông Phạm Ngọc Cảnh lúc đó đang đi theo đoàn tập huấn ở Hàn Quốc, ngay khi hay tin đã lập tức trở về Hà Nội để đi Triều Tiên. Ông đã chờ đợi hơn 30 năm cho giờ phút này, và không có lý do gì để chần chừ nữa.“T nhớ anh ấy đến Đại sứ quán vào đầu tháng 10.2002, chờ 1 tuần không thấy phía bạn thông tin gì cả. Chị Ri Yong-hui thì sống cách Bình Nhưỡng hơn 300 cây số cơ. Cả anh Cảnh và cán bộ Đại sứ quán chúng tôi ai cũng thấp thỏm, bởi đến lúc đó cũng chưa ai chắc là anh Cảnh có đón được chị ấy về Việt Nam không”, nguyên Đại sứ Đỗ Thị Hòa nói. Cuối cùng, tin vui cũng tới cho những người biết chờ đợi, khi Bộ Ngoại giao báo tin đến Đại sứ quán là hai người được phép gặp nhau. “Tôi và anh tham tán dẫn anh Cảnh ra khách sạn Thanh Niên. Khách sạn rất lớn, nhưng tối, vì Bình Nhưỡng thiếu điện. Mới thoáng nhìn thấy nhau là anh chị ấy ôm nhau khóc như mưa, trong ánh điện lù mù, làm người xung quanh ai cũng mủi lòng. Nhưng cũng chỉ được gặp nhau một lát thế thôi, anh Cảnh lại phải trở về Đại sứ quán, còn chị ấy tiếp tục ở khách sạn đợi. Anh chỉ kịp đưa cho chị cái túi du lịch, trong đó có 1 – 2 bộ váy áo và vải để may áo dài, làm quà thôi, chứ không phải may áo cưới gì đâu, vì còn không biết có được đưa nhau về không”, bà Hòa kể.

Bà Hòa được lãnh đạo Triều Tiên tặng Huân chương Hữu nghị vì những đóng góp cho quan hệ Việt Nam – Triều Tiên ẢNH TƯ LIỆU CỦA NGUYÊN ĐẠI SỨ ĐỖ THỊ HÒA

Chờ đợi 31 năm, được gặp nhau chớp nhoáng, rồi lại đợi. Do không ai dám chắc về kết quả cụ thể, nên chỉ có ông Phạm Ngọc Cảnh có vé tàu về Việt Nam, bà Ri Yong-hui không có vé. Đại sứ Đỗ Thị Hòa phải nhờ đến Ban Đối ngoại của Quốc hội giúp đỡ mới đặt được thêm một vé tàu cho bà Yong-hui về Hà Nội.Ngày 18.10 năm đó, Đại sứ quán tổ chức một bữa tiệc cảm ơn Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại của Quốc hội, kiêm luôn tiệc đính hôn của ông Cảnh và bà Yong-hui. Tại bữa tiệc đó, 2 người đã trao nhẫn cho nhau. Thay vì gia đình, đại diện 2 nước đóng vai nhà trai, nhà gái trong bữa tiệc đặc biệt đó. “Chúng tôi cũng tổ chức 1 mâm cơm như lễ ăn hỏi theo phong tục Việt Nam, có gà chéo cánh ngậm hoa, có bánh kẹo, có rượu anh Cảnh mang sang. Người phát biểu cao nhất hôm đó là ông Ma Chol Su, Cục trưởng Cục châu Á – Thái Bình Dương của Triều Tiên, sau này cũng sang Việt Nam làm đại sứ một nhiệm kỳ dài. Ông Ma Chol Su dặn dò chị Ri Yong-hui là phải sống hạnh phúc, phải theo đúng phong tục, tập quán của Việt Nam, phải tôn trọng Việt Nam, tôn trọng quan hệ hai nước và đóng góp vào mối quan hệ đó… Ông ấy dặn dò rất nhiều”, nguyên Đại sứ Đỗ Thị Hòa hồi tưởng.

Ảnh cưới của ông Phạm Ngọc Cảnh và bà Ri Yong-hui năm 2002 ẢNH TƯ LIỆU

Chính vì mối quan hệ đặc biệt này mà khi ông Ma Chol Su sang Việt Nam làm đại sứ, ông bà Cảnh cũng tham gia rất nhiều sự kiện của Đại sứ quán. Điều đặc biệt hơn, ông Ma Chol Su cũng là con trai của đại sứ đầu tiên của Triều Tiên ở Hà Nội, ông Ma Dong San, một người được Bác Hồ rất yêu quý. Một người bạn Cuba sau này kể lại với bà Đỗ Thị Hòa, là suốt chặng đường từ Bình Nhưỡng ra đến biên giới, bà Ri Yong-hui luôn ngồi quay mặt vào góc, vì sợ bị bắt quay về. Thêm vào đó, bà còn mang tâm trạng rối bời của người lần đầu tiên xa gia đình, xa tổ quốc. Vượt qua tất cả, ông bà đã sống ở Việt Nam đến nay được 16 năm, tình cảm vẫn như ngày xưa, đi đâu vẫn tay trong tay.

TIN LIÊN QUAN

“Nhiều người nói rất ngưỡng mộ mối tình này, nhưng nếu hiểu kỹ thêm, thì sẽ càng ngưỡng mộ hơn. Hai người phải lòng nhau từ cái nhìn đầu tiên, khi anh Cảnh đến thực tập ở nhà máy mà chị Ri Yong-hui làm, và rồi chỉ bằng vài bức thư mà họ chờ đợi nhau từng ấy năm. Thời xưa gì cũng bị cấm đoán, không có chuyện lưu học sinh Việt Nam và Triều Tiên được công khai tìm hiểu, rồi tự do lấy nhau đâu. Có viết thư cho nhau cũng khó. Anh Cảnh phải nhờ bạn bè thân thiết đút thư vào 1 cái phong bì Triều Tiên mới gửi được đi, chứ không phải cứ gửi là thư tới đâu. Nội dung cũng chỉ “Thân gửi đồng chí. Tôi hiện nay vẫn khỏe, đồng chí có khỏe không…”, chứ không phải thề non hẹn biển”, đại sứ Hòa cho biết.Cho đến nay, mối tình của ông Phạm Ngọc Cảnh và bà Ri Yong- hui vẫn là một trong những kỷ niệm đẹp nhất ở Triều Tiên của bà Hòa. Với Đại sứ Đỗ Thị Hòa, đó là một trong những biểu tượng về sự gắn kết giữa 2 đất nước.

PHỤ ĐÍNH

Chuyện tình vượt thời gian của đôi vợ chồng Việt Nam – Triều Tiên

13/02/2019

TTO – Tình yêu chớm nở giữa một chàng trai Việt Nam và cô gái Triều Tiên tưởng chừng đã lụi tàn vì rào cản chính trị, nhưng rồi họ đã vượt qua được thử thách thời gian để đến với nhau và đang có những ý nghĩ vô cùng lạc quan.

Chuyện tình vượt thời gian của đôi vợ chồng Việt Nam - Triều Tiên - Ảnh 1.

Ông Phạm Ngọc Cảnh và bà Ri Yong Hui cầm bức ảnh đầu tiên của hai người chụp chung vào mùa xuân năm 1971 tại một căn nhà nhỏ ở Hà Nội – Ảnh: REUTERS

Trong bối cảnh cuộc gặp thượng đỉnh lần hai giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un sắp diễn ra ở thủ đô Hà Nội của Việt Nam vào cuối tháng này, ngày 13-2, hãng tin Reuters đã chia sẻ một câu chuyện hết sức cảm động về mối tình vượt thời gian của một chàng sinh viên người Việt và cô gái Triều Tiên từ cách đây khoảng 5 thập niên.

Đã 31 năm sau khi ông Phạm Ngọc Cảnh (hiện 69 tuổi) chụp bức ảnh đầu tiên với bà Ri Yong Hui trước khi cặp đôi được phép kết hôn vào năm 2002 – thời điểm Triều Tiên có bước đi hiếm hoi khi cho phép một trong các công dân nước này kết hôn với người nước ngoài.

Cô gái Triều Tiên “tan chảy trái tim”

“Từ giây phút tôi gặp anh (Cảnh), tôi đã rất buồn vì tôi cảm nhận được rằng một tình yêu chớm nở có thể sẽ không bao giờ thành hiện thực”, bà Ri Yong Hui (hiện 70 tuổi) chia sẻ tại một căn nhà nhỏ mà bà và ông Cảnh sống chung ở thủ đô Hà Nội.

Vào năm 1967 – thời điểm kháng chiến chống Mỹ đang diễn ra, ông Cảnh là một trong 200 sinh viên Việt Nam được gửi tới Triều Tiên học tập.

Vài năm sau đó, trong thời gian học nghề tại một nhà máy phân bón ở khu vực duyên hải phía đông Triều Tiên, ông Cảnh vô tình gặp được ý trung nhân là bà Ri Yong Hui – đang làm việc trong một phòng thí nghiệm.

“Tôi nghĩ thầm rằng chắc tôi phải cưới cô gái đó”, ông Cảnh kể lại câu chuyện trúng “tiếng sét ái tình” của mình. Người đàn ông hiện 69 tuổi cho biết thời điểm đó ông đã lấy hết can đảm để tiếp cận bà Ri và tỏ tình với bà.

Còn bà Ri cho biết “trái tim đã tan chảy” khi ông Cảnh “mở cửa” con tim, dù lúc đó “đóa dã quỳ” Triều Tiên cũng gặp nhiều anh chàng bảnh bao khác. 

Ông Cảnh và bà Ri liên tục gửi thư cho nhau và cuối cùng cô gái Triều Tiên đã đồng ý cho anh chàng Việt Nam đến thăm nhà.

Từ đó, trong trang phục của Triều Tiên, ông Cảnh cứ di chuyển bằng xe buýt 3 tiếng đồng hồ và đi bộ 2 km để đến nhà bà Ri trong nhiều tháng liền cho đến khi ông Cảnh về lại Việt Nam vào năm 1973.

Chuyện tình vượt thời gian của đôi vợ chồng Việt Nam - Triều Tiên - Ảnh 2.

Ông Cảnh và bà Ri nắm chặt tay nhau sau gần 5 thập niên kể từ ngày đầu gặp nhau – Ảnh: REUTERS

Sự ngăn trở và thử thách thời gian

Tuy nhiên, hai trái tim chung nhịp đập lại không thể đến được với nhau vì một rào cản: Triều Tiên cấm công dân kết hôn với người nước ngoài.

Cuộc tình kéo dài 2 năm tưởng chừng tan theo mây khói sau khi ông Cảnh rời khỏi Triều Tiên. Nhưng duyên số đã cho hai người gặp lại khi năm 1978, ông Phạm Ngọc Cảnh được cử sang lại Triều Tiên để học thêm về sản xuất thuốc trừ cỏ trong thời hạn 3 tháng.

Lúc đó, ông Cảnh đã tìm cách gặp lại bà Ri. Nhưng mỗi khi họ gặp nhau, trái tim bà Ri như tan vỡ khi nghĩ đến lúc họ có thể không bao giờ được gặp lại nhau.

Và rồi họ lại xa nhau khi nhiều ao ước vẫn chưa thực hiện. Nhưng chính những lời hẹn ước của cả hai trước khi ông Cảnh tạm biệt mảnh đất Triều Tiên đã trở thành ngọn lửa duy trì tình yêu mãnh liệt mà cả hai dành cho nhau.

Năm 1992, ông Cảnh một lần nữa được sang Triều Tiên trong vai trò phiên dịch cho một đoàn thể thao Việt Nam, nhưng không gặp được bà Ri. Khi quay lại Hà Nội, ông Cảnh mới biết tin bà Ri đã gửi thư cho ông. Bà vẫn còn yêu ông sâu đậm.

Tháng 5-2002, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm Triều Tiên, cùng đi có bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên. Ông Cảnh đã viết một bức thư gửi lên các vị lãnh đạo trong đoàn nhờ can thiệp giúp chuyện tình cảm của mình.

Vào một ngày có lẽ đẹp nhất trong đời mình năm 2002, ông Cảnh bất ngờ nhận được giấy phê chuẩn kết hôn của Uỷ ban Thường vụ Hội nghị nhân dân tối cao Triều Tiên, cho phép ông lấy bà Ri Yong Hui.

Cuối cùng, ông Cảnh và bà Ri kết hôn tại Đại sứ quán Việt Nam ở Bình nhưỡng và sau đó ổn định cuộc sống ở Hà Nội.

Giờ đây khi đôi vợ chồng Triều – Việt được sống trong niềm hạnh phúc tại Việt Nam, họ hi vọng rằng cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ – Triều lần 2 sắp tới sẽ mang đến nhiều thay đổi cho Bình Nhưỡng.

Theo Reuters, là một trong những nền kinh tế đang phát triển nhanh nhất châu Á và tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng quốc tế, Việt Nam hiện được xem là một mô hình phát triển để Triều Tiên học hỏi.

Người phụ nữ Triều Tiên chờ 30 năm để được nhà nước cho lấy chồng Việt

Ri Yong Hui chấp nhận chuyển đến đất nước xa lạ khi đã 55 tuổi để được gần người đàn ông mà bà yêu và dành cả tuổi trẻ chờ đợi.Thứ bảy, 16/2/2019, 00:00 (GMT+7)

Cuộc tình của bà Ri Yong Hui và ông Phạm Ngọc Cảnh được người dân khu tập thể Thành Công gọi là kỳ tích, bởi theo họ, vượt qua chừng ấy thời gian yêu xa và biến điều không thể thành có thể thì ngoài ông bà, chẳng ai làm được. Yêu nhau trong bối cảnh pháp luật Triều Tiên ngăn cấm kết hôn với người ngoại quốc, bà Hui một lòng chờ đợi ông Cảnh ròng rã 30 năm để có ngày được chính phủ phê chuẩn cho nên vợ, thành chồng. Trong căn nhà đã nhuốm màu thời gian, người phụ nữ Triều Tiên không biết tiếng bản địa, chẳng có bạn bè vẫn an yên tận hưởng cuộc sống. Bà bảo đôi lúc cô đơn và nhớ quê mẹ nhưng có động lực là tình yêu sắt son, chung thủy của chồng nên mạnh mẽ vượt qua.

Vợ chồng bà Ri Yong Hui, 70 tuổi và ông Phạm Ngọc Cảnh, 69 tuổi.

Nàng dâu Triều Tiên ở Hà Nội

Bà Ri Yong Hui trở thành cô dâu ở tuổi 55, bẽn lẽn bên chồng trong tiệc cưới tổ chức năm 2002 ở trụ sở đại sứ quán Việt Nam tại Bình Nhưỡng. Trước lúc lên đường sang nước bạn cưới vợ, ông Cảnh ra chợ đặt may một bộ vest nữ, sắm chiếc mũ và đôi giầy cho bà Hui. Bà bảo đó là món hồi môn duy nhất trong hành lý khi theo chồng về Việt Nam làm dâu. Sau đó bạn bè ông Cảnh mỗi người tặng bà vài bộ quần áo là đủ cho thời gian đầu làm quen với cuộc sống ở Hà Nội.

Nhịp sinh hoạt của người Việt khác xa quê hương bà Hui, khiến bà đi từ bất ngờ này tới ngỡ ngàng khác. Bà ngạc nhiên khi thấy mọi người dùng bữa sáng ngoài đường phố. Văn hóa ẩm thực của của Việt Nam và Triều Tiên, theo bà Hui, có nhiều điểm giống nhau. Bởi thế bà không mất thời gian làm quen với thịt rang, cá kho… thậm chí thấy vui vì được ăn uống thoải mái.

Lúc mới cưới, ông Cảnh đang công tác tại Liên đoàn xe đạp – motor Hà Nội nên thường xuyên đi công tác xa. Ông tranh thủ đưa vợ theo để bà được thăm thú nhiều địa danh trong và ngoài nước. Bà Hui kể đã ghé chơi hầu hết các tỉnh miền Nam, Bắc và từng du lịch Lào. “Mùa xuân, hoa ở Hà Giang nở rất đẹp”, bà Hui bảo.

Không biết tiếng Việt, mọi giao tiếp của bà Hui phải thông qua ông Cảnh. Mỗi lần đi chợ, bà chỉ chỏ rồi ra dấu chứ không biết mặc cả. Thời gian đầu, ông Cảnh xung phong dạy tiếng Việt cho vợ nhưng sau đó vì quá… khó hiểu nên bà Hui tự học. Bà có thể ngồi học tiếng Việt, tiếng Anh qua YouTube và đọc sách cả ngày trong phòng mà không thấy chán hay mệt mỏi.

Bà Hui được hàng xóm nhận xét ít nói nhưng hiền hòa và hay cười.

Khi chồng đi vắng, người bạn của bà Hui là chiếc máy tính. Bà lên Internet xem các video dạy ngoại ngữ, phim truyền hình và thời sự tiếng Triều. Mỗi ngày, người vợ Triều Tiên quanh quẩn với việc dọn dẹp, nấu cơm và chăm sóc những chậu hoa cảnh ngoài cửa. Hỏi bà có buồn không, bà bảo: “Tất nhiên, nhưng đã quen rồi, nên không sao cả”.

Bà Hui rụt rè với người lạ nhưng khi quen rất thích tâm sự. Bà thường thêm vào những câu tiếng Việt ngọng nghịu vài hành động để người nghe dễ hiểu. Thỉnh thoảng, vợ ông Cảnh xấu hổ lấy tay che mặt. Có lúc lại nghiêng đầu lắc lư hay bưng má nũng nịu như một thiếu nữ mới lớn. 

Bà Hui thích kể chuyện về bản thân, về ông Cảnh nhưng không muốn nói nhiều về cuộc sống ở quê hương. Bà bảo từ nhỏ sống khép kín bởi “người Triều Tiên là thế” và vốn mang lý lịch có cha lánh nạn ở miền nam nên thêm phần tự ti. Lúc có ít người, bà Hui vui vẻ tán chuyện, bình luận đẹp – xấu và đưa ra quan điểm. Nhưng đứng trước máy ảnh, bà bỗng rụt rè và liên tục nhìn ông Cảnh như để có thêm sự hỗ trợ. 

Kết hôn khi đã ở nửa bên kia của cuộc đời, bà Hui không dám mơ được làm mẹ bởi hiểu rằng sức khỏe không cho phép. Bà diễn tả bằng giọng tiếng Việt ngọng nghịu: “Chúng tôi chết đi, không ai nuôi con, thương lắm”. Rồi bà bảo có nhiều điều “rất muốn” nhưng phải chấp nhận bởi “không thể làm được”. Bà chỉ mong khỏe mạnh để chăm sóc ông, ông Cảnh dạo gần đây hay đau đầu, ngủ không ngon giấc.

Tình yêu xuyên biên giới

Để có được cuộc sống hạnh phúc bên nhau, bà Ri Yong Hui và ông Phạm Ngọc Cảnh từng trải qua bao sóng gió: 2 năm yêu trong sự cấm đoán, 30 năm chờ đợi và không ít lần đau đớn vì bặt tin nhau. Video Player is loading.XemHiện tại 0:00/Thời lượng 3:48Đã tải: 0%Tiến trình: 0%Tắt tiếngToàn màn hìnhÂm lượng 50%

Ông Phạm Ngọc Cảnh nói về tình yêu sét đánh với bà Ri Yong Hui

Bà Ri Yong Hui là con gái lớn trong gia đình nghèo ở vùng biển thuộc thành phố Hàm Hưng, Triều Tiên. Năm 1950, vì lo sợ chiến tranh, cha của Hui lánh nạn sang miền Nam, để lại vợ cùng hai con nhỏ. Cô bé Hui lúc nhỏ học giỏi nhưng không có điều kiện học đại học, hết phổ thông thì về làm tại nhà máy Phân đạm Hưng Nam. Khi thực hiện công việc phân tích mẫu thí nghiệm trên tầng hai, cô phát hiện chàng thanh niên có gương mặt khôi ngô đứng dưới sân dõi nhìn.

Chàng trai Phạm Ngọc Cảnh sang Triều Tiên năm 1967, khi vừa tròn 18 tuổi. Sau mấy năm học tập tại Đại học Hóa học Công nghiệp Hàm Hưng, anh tới nhà máy nơi Hui làm việc để thực tập. Đem lòng yêu cô cán bộ hơn anh một tuổi có nước da trắng, Cảnh tìm mọi cách tiếp cận. Hui kể rằng mỗi lần cô đi lại trên sân đều gặp anh bước ngược chiều mỉm cười dù không thể nán lại nói chuyện.

Mối tình của đôi trẻ gặp nhiều chướng ngại bởi chính phủ Triều Tiên không cho phép công dân kết hôn với người ngoại quốc. Để được gặp Hui, Cảnh phải cải trang thành người bản địa với áo măng tô và chiếc mũ lông buộc xếch hai tai, đi bộ quãng đường 2 km từ nhà máy tới nơi cô sống. Cảnh gọi mỗi lần hẹn hò là “đánh du kích” bởi luôn phấp phỏng lo âu sẽ bị phát hiện. Nếu mọi chuyện vỡ lở, có thể anh sẽ bị trục xuất về nước còn Hui ở lại với muôn vàn khó khăn.

Người che chở cho đôi trẻ trong những ngày vượt khó yêu nhau là mẹ của Hui. Một lần, khi Cảnh đang ghé chơi nhà người yêu thì vị khách người Triều Tiên bất ngờ tới. Trong lúc Cảnh bối rối, mẹ bạn gái vội chạy ra nói khó tiễn người khách về để anh được vô sự. Nhưng vì lo cho con gái, bà nhiều lần nói Hui hãy nhắn anh đừng tới nữa và sớm quên mối tình không lối thoát ấy đi.

Bức ảnh đầu tiên của bà Hui và ông Cảnh, được chụp tại nhà bà bằng máy tự động. Ông Cảnh lén nhờ một người bạn thân rửa làm kỷ niệm.

Hui tâm sự rằng cô yêu Cảnh bởi anh đẹp trai, tử tế và hay tặng quà. Mỗi lần đến nhà Hui, anh mang cho người yêu mảnh vải, chiếc bấm móng tay hay ít lương thực. Cuộc sống ở Triều Tiên đầu thập kỷ 1970 thiếu thốn, những đồ dùng nho nhỏ là “báu vật” mà mỗi thiếu nữ đều muốn có được. Vừa có sinh hoạt phí do chính phủ cấp, vừa chịu khó mua đồng hồ từ Việt Nam sang bán thêm nên so với Hui, Cảnh có nguồn tài chính rủng rỉnh.

Cảnh nói với Hui rằng không lý giải nổi tại sao yêu cô đến vậy. Chỉ biết từ phút đầu gặp nhau, chàng trai Việt đã tự nhủ “nhất định sẽ cưới cô gái này”. Bên nhau đến năm 1973, Cảnh đến thời hạn về nước. Trong những ngày xa cách, anh đau đáu mong tin Hui và không ngừng viết cho cô những lá thư thông qua tên và địa chỉ của mẹ.

Sợi dây liên lạc giữa Hui và Cảnh đôi lần bị đứt đoạn bởi tình hình chính trị Triều Tiên. Những khi ấy, cô mong nhớ đến kiệt quệ còn anh hoảng loạn tìm tin tức người yêu. Chứng kiến con gái gầy guộc, đổ bệnh vì đau khổ, mẹ Hui xót xa nhưng chưa một lần giục cô đi lấy chồng. Về phía Cảnh, gia đình anh không thúc ép con trai quên người cũ mà để anh kiên trì theo đuổi tình yêu của mình.

Gần 30 năm kể từ lần cuối cùng gặp Hui tại Triều Tiên, Cảnh chưa một ngày ngừng ý định thuyết phục quốc gia này “gả vợ” cho anh. Chàng trai Việt nỗ lực xây dựng các tổ chức hữu nghị giữa hai nước, tìm cách sang công tác rồi kêu gọi quyên góp ủng hộ nước bạn. Cuối năm 1990, Phạm Ngọc Cảnh vận động bạn bè chung tay gửi 7 tấn gạo sang Triều Tiên đúng dịp nạn đói nghiêm trọng. Sau nhiều cố gắng, hạnh phúc đã mỉm cười khi phía Bình Nhưỡng gửi thư thông báo cho phép Ri Yong Hui kết hôn với Cảnh.

Cặp uyên ương xiết tay nhau trong đám cưới năm diễn ra 2002 do chính phủ nước CHDCND Triều Tiên phê chuẩn. Tên của bà Ri Yong Hui được phiên âm ra tiếng Việt là Lý Vĩnh Hy.
Hiện thu nhập chính của hai vợ chồng bà Hui là lương hưu của ông và tiền cho thuê nửa căn nhà tập thể. Chi tiêu cho ăn uống và sinh hoạt không tốn kém nhưng họ vẫn tiết kiệm bởi muốn dành dụm tiền về thăm quê. Ông Cảnh cho hay, mỗi chuyến đi Triều Tiên tốn khoảng 20.000-30.000$ (khoảng 460 – 690 triệu đồng) bao gồm vé máy bay; chi phí đường thủy, đường bộ; tiền ủng hộ nhân dân; tiền quà cáp… Ông Cảnh mới đưa vợ về thăm quê được 2 lần từ khi kết hôn (lần gần nhất là năm 2017), và vẫn muốn giúp bà về thăm quê nhiều hơn để bù đắp nỗi niềm ly hương của vợ.

Lam Trà

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.