Nguyễn Cang cảm nhận về bài thơ “Lời thề trên phiến đá “của Trần Lê Phượng Loan

VÀI CẢM NHẬN KHI ĐỌC BÀI THƠ “LỜI THỀ TRÊN PHIẾN ĐÁ” CỦA TRẦN LÊ PHỰƠNG LOAN

Nguyễn Cang

                    LỜI THỀ TRÊN PHIẾN ĐÁ

Khi những hạt nắng cuối cùng bốc hơi theo hạ

Em cố hái sợi chiều

đan áo ấm cho anh

Thu thức giấc ôm mình trở dạ

Heo may lọt lòng

thẽ thọt ru tình

trên chiếc lá hãy còn xanh

Anh kết lời thề trên phiến đá

hẹn thu sang

sẽ dìu em đi trên những cung đường phủ đầy hoa cỏ lau hồng

trong sắc dã quỳ vàng rực giữa mênh mông

trong mùi hương ngai ngái

dưới cái lạnh đầu đông

Em giấu hạ vào trong ngực áo

cất những hạt nắng vàng để sưởi ấm tình anh

trong những ngày đông lạnh

trong những ngày ta vắng nhau

Em chiết ánh hoàng hôn lấp lánh sắc màu

để nhuộm tím hương tình

để chờ ngày sum họp

Khi những cánh dã quỳ cong cớn níu gọi mùa trôi

là lúc thu đã chín

là lúc những chiếc lá cuối cùng trở về nguồn cội

là khi những cánh thiên di xé gió

bay về phương Nam

ấm áp xa xôi…

Chỉ có anh

để lời thề cạn khô trên phiến đá

đơn côi…

Trần Lê Phượng Loan

            Bài thơ “Lời Thề trên Phiến Đá” là một bài thơ hay. Thơ làm theo thể tự do, vần gieo cuối câu. Nội dung không mới nhưng cách trình bày thì mới. Lấy bối cảnh bốn mùa xuân hạ thu đông, để gởi gắm tâm sự buồn nhớ mênh mông, nghe cũng là lạ. Ngoài ra tác giả còn mạnh dạn sử dụng ngôn ngữ thi ca khá táo bạo nhưng không dung tục, quá  đà, vừa đủ chất lãng mạn, không thừa không thiếu. Thuật ngữ trong bài mang âm hưởng thi ca của các nhà thơ nổi tiếng: Bùi Giáng, Tuệ Sỹ, Trịnh Công Sơn… nên thơ hay khó diễn tả bằng lời chỉ cảm nhận thôi!

Thơ văn của các vị nầy được xếp vào trường phái siêu thưc. Trường phái nầy như một luồng gió mới thổi vào thơ văn truyền thống Việt Nạm, nó tồn tại và phát triển mạnh như dòng thơ mới trước đây. Những tác phẩm được ưa chuộng đã chứng tỏ tinh thần yêu thơ theo cách nầy. Người ta thường nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có nhiều sáng tác rất hay, rất ăn khách nhờ sử dụng “sáng tạo” ngôn ngữ thi ca để ru hồn người, quên đi những đau khổ do chiến tranh gây ra trước 75, gợi hứng  cho những tâm hồn lãng mạn khi nghe  những ca khúc trữ tình  của TCS: Tuổi đá buồn, Một cõi đi về, Hạ trắng,Tôi ru em ngũ, Phôi pha v.v.

Tôi không biết tác giả TLPL có đọc nhiều, nghe nhiều những bài thơ, những tình khúc của những nhạc sĩ, thi sĩ kể trên không mà trong bài nầy tác giả sử dụng ngôn từ cũng mang âm hưởng mới, nhưng lại khác hẳn với các bậc tiền bối, nghĩa là thơ mang nét riêng TLPL. Sự cách tân nầy đã đem lại cho độc giả nhiều thích thú khi đọc những dòng thơ mới nầy.

Đọc lại 7 câu đầu:

Khi những hạt nắng cuối cùng bốc hơi theo hạ

Em cố hái sợi chiều

đan áo ấm cho anh

Thu thức giấc ôm mình trở dạ

Heo may lọt lòng

thẽ thọt ru tình

trên chiếc lá hãy còn xanh.

    Ta thấy tác giả sử dụng từ ngữ rất mới:

-Em cố hái sợi chiều.

“hái” là động từ chỉ hành động nắm bắt những tia nắng chiều vào tay, dĩ nhiên ở đây dùng nhân cách hoá, coi sợi chiều là vật hữu thể.

-Thu thức giấc ôm mình trở dạ.

Câu nầy có 7 chữ mà 6 chữ xếp vào từ ngữ đặc biệt. Tác giả nhân cách hóa mùa thu như một người  đàn bà tới kỳ sinh nở, ám chí mùa thu kéo tới bất ngờ, có mưa bay, gió cuốn (lúc giao mùa).

-Heo may lọt lòng.

Ở trên thì mùa thu trở dạ, ở dưới, heo may lọt lòng! Từ nào nghe cũng lạ cũng mới.

Vị ngữ: Thỏ thẻ ru tình,

Bổ nghĩa cho chủ ngữ mùa thu ở trên.

Và còn nữa những từ ngữ mới nằm rải rác trong những đoạn thơ còn lại, cho nên có thể nói tác giả đã sáng tạo nhiều từ ngữ mới lạ trong thi ca. Thực ra những từ ngữ nầy nếu đứng một mình thì không có gì lạ hết! Cái lạ là khéo sử dụng đặt đúng vị trí trong ý và lời thơ, làm tăng thêm cảm xúc nơi người đọc nghĩa là thơ có hồn.

Lời thơ như ngấm vào những trái tim đơn côi, lạc lõng. Chính  cách sử dụng thi ngữ nầy đã tạo ra những nét mới, phá vỡ ý thức tồn tại vật chất, để đi vào cõi siêu thực, với bao cảm xúc êm đềm làm thăng hoa tình yêu  nỗi nhớ, là nét riêng đặc biệt, một ưu điểm của tác giả TLPL. Lấy bối cảnh 4 mùa để lồng tình cảm. Mùa hạ em hái sợi chiều đan áo ấm cho anh, rồi em lại giấu mùa hạ vào ngực áo (để sưởi ấm lòng anh) trong khi chờ gặp lại vào mùa thu tới vì em tin chắc những lời thề anh viết trên đá là có thật. Anh và em sẽ nắm tay nhau đi trên con đường đầy hoa mộng có cỏ lau , bông dã quỳ vàng rực rỡ trải dài mênh mông:

“Khi những cánh dã quỳ cong cớn níu gọi mùa trôi

là lúc thu đã chín

là lúc những chiếc lá cuối cùng trở về nguồn cội

là khi những cánh thiên di xé gió

bay về phương Nam

ấm áp xa xôi…

Chỉ có anh

để lời thề cạn khô trên phiến đá

đơn côi…”

         Trong đoạn nầy  ta lại bắt gặp một số từ ngữ mới  “cánh dã quỳ cong cớn níu gọi”. Tĩnh từ ghép “cong cớn” chỉ điệu bộ người con gái chua ngoa, đỏng đảnh, khi nói thì vênh mặt cong môi lên. Hình ảnh nầy được so sánh với những cánh hoa dã quỳ nở bung, biện pháp tu từ được sử dụng thật khéo léo gây chú ý cho người đọc. Động từ “níu” nghe rất hay, gợi hình ảnh, nguyên gốc có nghĩa là nắm giữ một vật gì, hoặc kéo vật đó xuống. Hình ảnh những bông dã quỳ  bung những cánh cong cớn ngã nghiêng như những cánh tay đang níu kéo mùa hạ trở lại cũng chính là lúc mùa thu đã chín. Đoạn tả cảnh kết hợp nhân cách hoá thật đặc sắc. Tiếp theo là “những chiếc lá cuối cùng trở về nguồn cội”, cách diễn tả nầy nghe cũng mới lạ tai, thú vị, thay vì nói ” những chiếc lá vàng rụng đầy gốc”. Hình ảnh “chiếc lá cuối cùng” cho ta biết mùa thu đã chấm dứt! cũng là lúc “những cánh chim thiên di xé gió bay về phương Nam”. Một lần nữa động từ “xé gió” được sử dụng thật hay, hiệu quả! Tại sao lại xé gió? Động từ chỉ hành động con chim bay vút vào không gian một cách vội vã kẻo mùa đông tới sớm sẽ không kịp bay về phương Nam tránh lạnh. Hình ảnh nầy củng cố thêm ý tưởng: mùa thu đã chấm dứt thật rồi ! Tác giả dùng một vài hình ảnh tựơng trưng để thắt chặt lý luận làm tiền đề cho đoạn kết tiếp theo. Xin các bạn hãy dừng lại, đọc chậm rãi đoạn thơ nầy để nắm bắt được ý tưởng của tác giả.

Nhưng hỡi ơi! khi mùa thu đã thay lá, trơ cành xác xơ thì bóng dáng anh cũng biến mất nơi nào, chỉ còn lại phiến đá buồn, khô cằn, có ghi lời thề của chàng mà thôi! Buồn ! Tác giả dùng biện pháp tu từ rất khéo. Câu chót: “Lời thề cạn khô trên phiến đá”  chứa tĩnh từ ghép “cạn khô” thật đắc vị, chỉ sự chấm dứt câu chuyện tình đầy bất trắc, đau thương. Cái đặc sắc ở đây là tác giả không nói rõ ra mà dùng ẩn ngữ để độc giả tự tìm câu trả lời. Tôi cho rằng đây là bài thơ hay của Trần Lê Phượng Loan

Nguyễn Cang (22/2/2019)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.