Bùn khô trên mặt đá-Hồ Đình Nghiêm

BÙN KHÔ TRÊN MẶT ĐÁ

Hồ Đình Nghiêm


            Khi nghe tới bút hiệu Trần Vàng Sao, thú thật là tôi không mấy cảm tình. Nhưng khi tôi đọc, theo cảm nhận, nhà thơ mãi bị đồng chí nghi kỵ, luôn hứng chịu sự trù dập, đã viết nên nhiều bài thơ hay. Do tài năng, ông tạo ra những hình ảnh, những màu sắc, những nhịp điệu; gầy dựng được thứ khí hậu bao bọc lấy một vùng trời riêng. Ẩm thấp, sương khói, váng vất chút thơ mộng đặc thù của vùng đất sinh ra ông: Huế. 



Giả dụ:

đôi khi chợt nhớ một tiếng cười lạ
một câu ca dao buồn có hoa bưởi hoa ngâu
một vết bùn khô trên mặt đá
không có ai chia tay
cũng nhớ một tiếng còi tàu

con sông nằm dài nhớ những chặng rừng đi qua
nỗi mệt mỏi rưng rưng từng con nước
chim đậu trên cành chim không hót
khoảng trống mùa thu ngủ trên cỏ may



Đây chỉ là trích đoạn trong bài thơ dài “Bài thơ của một người yêu nước mình” được Trần Vàng Sao sáng tác vào tháng 12 năm 1967. Tôi đọc, chẳng rõ bạn có mang cảm nhận hệt như tôi? Rằng tác giả một mực thong dong khi thuật chuyện, chữ dùng dung dị, mộc mạc chỉ nhằm đắp bồi toàn cả ảnh hình, liên kết lại và nó dội được vào lòng tôi một rung động, một hấp lực khó cưỡng.

Ở bài khác của cùng tác giả, tôi chuộng hai câu này:

Bây giờ tôi đủ tuổi tôi 
Nam mô di Phật một đời như không.


Chữ “như không” ẩn tàng chút triết thuyết của nhà Phật. Và như không cũng nhằm nói rõ, ngộ ra sự thua thiệt, cái trắng tay, cầm bằng như không! Phải đủ tuổi, phải rơi tới một hạn kỳ vô thường nào đó mới đủ lực để ta thán về sự hoài công của kiếp dã tràng. Nhẹ nhàng chẳng ký gửi chút hằn học trong tâm sự. Đã Nam mô di Phật thì buộc phải tìm cách buông thả, chớ sân si. Nhưng với 14 chữ cô đọng của lục bát ấy lại dấy lên, trao gửi một nặng lòng. Tôi thích nó, giản dị vì Trần Vàng Sao nọ đối nghịch, chẳng giống với một Trần Vàng Sao càng về già càng phẫn hận, xui khiến phải làm thơ “Chửi”, chửi không khoan nhượng, chửi rốt ráo, chửi “tới bến”. Để thích hợp với tính cách hàm hồ hàm chứa mồm năm miệng mười, khi chửi ông sử dụng toàn thứ ngôn ngữ dung tục, phổ thông, bụi bặm đời thường. Khi sự tức giận đến cùng đường, e lời thơ mất hết vẻ thanh thoát. Hiểu ở mặt khác, “như không” dễ xúi người ta phải chịu chìm sâu, đắm thân giữa ngập ngụa bụi trần. Thứ mà nhà thơ muốn vùng vẫy thoát ra khỏi trong khi ôm đầu dụng chữ, rất cực lòng tìm về chốn thơ mộng, dẫu phù du. 



Cùng thế hệ với Trần Vàng Sao, lớn lên chung một thổ ngơi nhưng khác giới tuyến, bên này sông một ông sĩ quan “ngụy” mang bút hiệu Mường Mán (có dạo bị mang ngoại hiệu Thất Tình Đại Hiệp) cũng người Huế-hiền-lành chăm viết văn làm thơ khiến mấy o học trò trường Nguyễn Du, Nữ Thành Nội, Đồng Khánh mãi say mê đọc thầm:

tháng chạp về rồi bé biết không
guốc mới ai khua ngõ nội thành
để cho rêu cũ- vàng son cũ
thức dậy buồn lên đỉnh phố xanh.


Tấm bé tôi ở Huế, lớn lên nhà tôi ở trong thành nội và hai câu cuối kia khiến bây chừ tôi cảm ra cái xuất thần đang xúi tôi khờ dại một nỗi nhớ ngấc ngư. Bé mang guốc mới bước chân sáo làm vang vọng âm ba giữa thành quách cổ xưa. Tiếng động ấy lý ra phải vui tai, Mường Mán khéo léo khi dùng chữ buồn. Buồn với sự hoang phế của bao triều đại chìm trong bể dâu. Buồn đến độ rong rêu phải thức dậy, làm sáng chữ xanh đầy tính sáng tạo. Tựu thành một bài thơ để khi đọc khiến nao lòng hẵng chẳng bao giờ là điều dễ?

Làm “nguỵ” thì số phận bắt phải đi “cải tạo”. Xong hình phạt khổ sai thì ông cựu quan hai phó mặc đời cuốn trôi phiêu dạt tận phương Nam. Hoàn cảnh “lạ nước lạ cái” đã vẽ ra được một tấc lòng. Bài thơ “Chăn vịt phương Nam” của Mường Mán làm vào năm 1979 phải là một bài hay nằm trong tất cả những bài bày nên cảnh đổi đời, của vô vàn các thi nhân khác, khổ hạnh sống ở miền Nam sinh ra nhiều tài danh.



Chăn Vịt Phương Nam

Tôi người trai sông Hương
Lưu lạc về sông Hậu
Như chim mỏi cánh đậu
Trên vồng đất quê em.

Chòi tôi che hướng đông
Che giùm tôi ngọn gió
Em đùa: anh chiếc lá
Bị bão giạt về Nam

Tôi đùa: thời buổi khó
Đi đâu để trốn buồn?
Thôi đành đi chăn vịt!
Em bảo: thế mà hơn.

Vịt tôi chăn trăm con
Ngày lùa đi trăm ngả
Bạn tôi, trăm linh hồn
Theo tôi, qua thời khó.

Thương mình em cô đơn
Ngày đưa võng ru con
Mong chồng nơi biên giới
Mà chiến chịnh tưởng lụi
Ai ngờ vẫn còn dài!

Em buồn sợi tóc mai
Dài bằng cơn nắng sớm
Em buồn: cây nhang ngún
Cháy khuya sầu mênh mang.

Mỗi ngày tôi lùa vịt
Qua cánh đồng thênh thang
Buồn tôi khua gậy múa
Hát cùng bèo trôi sông
Ngóng giùm em phương đó
Coi chồng về hay không?


Mường Mán



Rất tới. Hay ghê nơi. Tôi chỉ biết nói vậy! Tôi vốn dốt việc thưởng thơ, tân hình thức hậu hiện đại (có chữ này mới khiếp: Đương đại) với bao ma trận của từng chữ chen cài biết gồng mình tạo dáng ngắt dòng siêu thực chẳng rõ có đi vào lòng người đọc? Có “nghe tiếng sóng ở trong lòng”? Tôi yêu thích sự giản dị, một vẻ đẹp thuần khiết chẳng nương nhờ phụ kiện bồi đắp nguỵ trang. Em tính đi thẩm mỹ viện? Ai can du. Kệ đi mà. Em là gái trời bắt xấu, nhưng anh đây, trời bắt bấu lấy em. Cho dù em thích ăn nem, anh xin hộ tống kiêng khem chả bày.

Chánh quán Huế đẻ ra lắm thi nhơn. Lưu lạc xa hơn cả phương Nam, ngoài này cũng biết cơ man nào tên tuổi mà nhớ ra, mà “kiểm kê tài sản” đủ đầy dung mạo quý vị. Sơ khởi, tôi nhớ nhà văn nhà thơ Trần Hoài Thư (sĩ quan thám báo sau khi ngã ngựa từng có khi đi bán cà rem cây ở Cần Thơ), nhà thơ Đức Phổ cựu sĩ quan Hải quân, nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp cũng từng đi “học tập”, nhà thơ Hoàng Xuân Sơn, nhà thơ Nguyễn Đức Bạt Ngàn, nhà thơ mai danh nhà thơ ẩn tích nhà thơ ngao ngán nhân tình thế thái… làm sao kể xiết. Trước sau thì họ đã vang danh, thơ họ làm ra vô tình đã thu phục, nắm tay một số người thưởng ngoạn đi theo, sẵn lòng trao vòng nguyệt quế cho thi nhân… Huế.

Đừng la tôi có tính cục bộ. Mắng tôi chả biết gì là tới lãnh vực ca thì tôi an tâm hơn. Tôi không thích bình thơ, tôi chỉ đưa ra cảm nhận riêng, có vậy thôi. Nhưng, ngẫm lại mà xem, khi đón nhận một bài thơ hay, ai hơi đâu để tâm: Ủa, anh người gì mà làm thơ đọc lên nghe quá đã! Dạ, tui người Việt. Vậy thì hồi trước anh ở đâu? Dạ, tui ở trong nhà.

“anh rót cho khéo nhé
kẻo lại nhầm nhà tôi
nhà tôi ở cuối thôn đồi
có giàn thiên lí, có người tôi thương”.


Bạn còn nhớ thơ của ai không? Nếu bạn quên tên tác giả thì có nên bợn lòng:
Thơ ấy rõ không hay? Hay thì đã khắc ghi. Ui, bá nhân bá bao tử vậy!

Xin thưa đấy là đoạn cuối trong bài thơ “Nhà tôi” nổi tiếng của Yên Thao sáng tác vào năm 1949, khi theo một đơn vị pháo binh chuẩn bị đánh quân Pháp đóng đồn bên kia sông. “Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng. Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương. Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường, nếp đình xưa người hỡi đau gì không…



 

Hồ Đình Nghiêm 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.