Người làm thơ,viết nhạc Nguyễn Trọng Tạo đã từ giả “thời đang sống “để về với “sông quê’ !

  1.   TẢN MẠN THỜI TÔI SỐNG
  2. Nguyễn Trọng Tạo
  3. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
  4. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
  5. Như thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đến
  6. Nhưng cái thời tôi sống
  7. hẳn khác xưa
  8. Trong bài hát thêm bom rơi, và súng
  9. Anh yêu em anh phải đi ra trận
  10. Vợ yêu chồng biết chờ đợi, nuôi con
  11. Đất yêu người đất nhận làm lá chắn
  12. Hai mươi năm không nguôi lửa chiến trường
  13. Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn
  14. Khăn tang bay người sống trắng mái đầu
  15. Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ
  16. Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu!
  17. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
  18. Nhưng màu hoa thời tôi thì có khác
  19. Xe đến công trường bay mù bụi cát
  20. Màu hoa thường lấm bụi suốt mùa khô
  21. Lúa ngậm đòng lụt bão đến xô bồ
  22. Nhà đang dựng thiếu xi măng, thiếu gạch
  23. Bao đám cưới chưa có phòng hạnh phúc
  24. Mây ngổn ngang lam lũ những dáng người
  25. Anh nhớ em nhớ về phía cuối trời
  26. Nơi đất mới khai hoang chân em dầm trong đất
  27. Em nhớ anh nhớ về nơi bóng giặc
  28. Cứ rập rình quanh cột mốc đêm đêm
  29. Gió thầm thào như chẳng thể nguôi yên
  30. Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán
  31. Con phe sục khắp ga tàu bến cảng
  32. Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương…
  33. Có bao người ước cuộc sống bình thường
  34. Như một thuở xa xôi mình đã có
  35. Thuở miếng ăn không phải bàn đến nữa
  36. Thuở chiến tranh chưa chạm ngõ nhà mình
  37. Có bao người bạc bẽo với quê hương
  38. Thả số phận bập bềnh vào biển tối
  39. Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
  40. Câu trả lời thật không dễ dàng chi!…
  41. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
  42. Chỉ vết thương rồi thời gian làm sẹo
  43. Vầng trăng mọc vào thơ mỗi ngày dường đổi mới
  44. Người lo toan vầng trăng chẳng yên tròn
  45. Tôi sống thời không thể đứng quay lưng
  46. Bao biến động dễ đâu nhìn thấy được
  47. Bờ thẳng hơn những cánh đồng hợp tác
  48. Đê sông Hồng sau màu lũ thêm cao
  49. Tàu ngoài khơi vừa phát hiện mỏ dầu
  50. Đập thủy điện sông Đà đang xây móng
  51. Tờ báo đẫm mồ hôi bỗng sáng dòng tin ngắn:
  52. “Nhà máy giấy Bãi Bằng vừa ra mẻ đầu tiên”
  53. Thời đã qua sẽ chẳng khỏi ngạc nhiên
  54. Nếu trở lại bây giờ vẫn quần nâu dạo phố
  55. Thời tôi sống cả đến bầy em nhỏ
  56. Diện quần bò nhảy theo điệu nhạc vui…
  57. Đài thêm nhiều những bài hát yêu nhau
  58. Những điệu múa ba-lê hồng hào thêm sân khấu
  59. Cái mới đến ngỡ ngàng rồi nhập cuộc
  60. Báo bớt trang báo thêm chút thơ tình
  61. Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng
  62. Ai giả dối rồi biết mình lầm lỗi
  63. Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
  64. Câu trả lời thật không dễ dàng chi!…
  65. Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ
  66. Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
  67. Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ
  68. Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn
  69. Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
  70. Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
  71. Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
  72. Tay ta treo đâu nghĩ có một lần!…
  73. Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng
  74. Nhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đá
  75. Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
  76. Trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy…
  77. Rồi thời gian qua đi rồi tuổi trẻ qua đi
  78. Ai sau tôi ở vào thời sắp đến
  79. Thời không còn khổ đau thời không còn nghèo túng
  80. Đọc thơ tôi xin bạn chớ chau mày.
  81. Bạn hãy quên đi vất vả những hàng ngày
  82. Bao lo lắng đời thường từng làm tuổi xanh ta bạc tóc
  83. Chỉ Hy vọng và Niềm tin giúp ta thêm sức lực
  84. Câu thơ này xin bạn nhớ giùm cho:
  85. Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa!…
  86. Hà Nội, tháng 6.1981
  1.   SCATTERED STORIES ABOUT THE TIME I LIVE
  2. The flowers still bloom in the right season
  3. As in time past and time still to come
  4. But the time I live
  5. is definitely different from the past
  6. Inside the songs, falling bombs and guns exist
  7. I love you, I must go to war
  8. Wives who love husbands know how to wait, their children to raise
  9. Land loves its people, land accepts its role as shelter
  10. Enduring twenty years of non-stop fires from battles
  11. Twenty years in which there was no day without people dying from bullets
  12. Funeral clothes whitened the heads of those who lived
  13. Everywhere one sees the graves of soldiers sacrificed during the war still
  14. The war stopped, it is not easy to believe!
  15. The flowers still bloom in the right season
  16. But their colours are different during my time
  17. Vehicles come to work at construction sites where dust and sand fly
  18. The flowers´ colours bathe in dust during the season when it remains dry
  19. Rice plants ready to bloom have to meet the storms
  20. Houses under construction run out of bricks and cement
  21. There are many marriages, happy rooms they require
  22. As anguished human figures exhausted from toil – clouds lie
  23. I miss you, my longingness turns to the horizon
  24. When new land is discovered, your feet sink into the earth
  25. You miss me, your longingness turns to enemy’s shadows´s search
  26. Those still anticipating threat at the borderline every night
  27. Wind whispers as wind cannot forget
  28. Meat and rice are often scarce in shops
  29. Traders scour every corner of stations and ports
  30. Black market prices scorn regular salaries…
  31. Many people wish for a normal life
  32. A life in which we had distance
  33. Where we didn’t have to think about what to eat
  34. Where our gates had remained untouched by war
  35. Many people turn cold against the motherland
  36. Let their fates float into the dark ocean
  37. During the time I live, there are many questions
  38. It’s not easy to find the solutions!…
  39. The flowers still bloom in the right season
  40. Only wounds will time heal to form scars
  41. Moon grows into poetry, each day seems to be new
  42. But with people’s concerns, the moon cannot remain full at peace
  43. I live in a time when I cannot turn away
  44. It’s not easy to see the changes and events taking place
  45. Cooperative fields – their dikes got straighter
  46. After the flash flood – Red River’s bank higher
  47. Ships out in the ocean have just discovered an oil reserve
  48. The foundation for Da River´s hydroelectricity power station is being laid
  49. Sweat-laden newspapers suddenly light up with the brief news:
  50. “Bãi Bằng paper factory – a first batch – has just been produced”
  51. Time past would certainly be surprised
  52. to observe the current time, to find brown pant-clad people still going out in the streets
  53. In the time I live, even the children we meet
  54. Are wearing jeans and dancing to happy tunes …
  55. Radios have added many love songs
  56. Ballet dancers have added colours to performances
  57. New matter has come along, felt a bit lost, then joined in
  58. Newspapers have cut pages, a little more poetry they print
  59. Poetry not yet perfected is honest poetry
  60. Whoever lies, some day his own mistakes he’ll see
  61. During the time I live, there are many questions
  62. It´s not easy to find the solutions!…
  63. When deeply in love, one could never believe
  64. The day comes when our lover changes her heart
  65. The day comes when our idol shatters
  66. Best friends jab guns against our ribs
  67. After each hand-shake, a combat knife suddenly appears
  68. Those who volunteer to protect our home, our home they want to occupy
  69. Mao´s picture hung together with the colour of our red flag
  70. Our hands hang these without even one thought!…
  71. As devoted followers one day shocked
  72. To find out God is only pieced together from clay and stones
  73. During the time I live, once again guns fire
  74. Painful hearts bleed along the borderline…
  75. So time passes and our youth passes
  76. Those born after me live in the coming time
  77. The time without suffering without poverty
  78. While reading my poetry, please let no frown plague thee.
  79. Please forget the daily hardship
  80. The daily worries which have aged our youth
  81. Only Hope and Belief give us more strength
  82. And this verse I beg you to bethink:
  83. The flowers still bloom in the right season!…
  84. Hanoi, June 1981
  85. Bản dịch tiếng Anh của Nguyễn Phan Quế Mai và Hilary Watts

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ NHẠC SỸ KHÚC HÁT SÔNG QUÊ

Đỗ Trường


(Rằm tháng giêng 2015, mình và nhà văn Hoàng Minh Tường đang lang thang trong Văn Miếu tìm lều tranh của nhà thơ Trần Nhương, thì gặp nhà thơ nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo đi vào. Tay bắt mặt mừng, anh Tạo bảo: Nhìn Đỗ Trường còn ngon lành lắm. Mình cười: Anh còn ngon hơn em tưởng. Rồi mình nắn nắn vào đầu gối anh hỏi: Bia rượu, em biết anh vẫn còn đứng hàng đầu, còn cái khoản kia thì thế nào. Anh bảo vẫn còn chiến đấu được. Đang đứng nói chuyện, thấy loa réo gọi anh. Hình như anh trong Ban tổ chức, hoặc đọc thơ, hay đến lượt phát biểu gì đó. Anh hẹn ngày “đại chiến”. Mấy hôm sau mình buộc phải rời khỏi Việt Nam về Đức, không gặp lại anh và cùng anh đại chiến, như đã hẹn. Hôm trên đường từ sân bay Frankfurt về nhà, anh liên lạc qua FB, hỏi: Đỗ Trường, em đang ở đâu đấy? Bảo, em bị trục xuất về Đức rồi. Anh hỏi tiếp, tại sao? Thì can tội viết văn thôi. Anh có vẻ giận lắm: Ai cho họ quyền thẩm văn chương. Vậy thì khác gì hai bao cao su rách. Không ai làm đất nước xấu hổ bằng họ. Thời gian này năm ngoái nghe tin anh bị Schlaganfall cấp cứu trong bệnh viện. Phải từ giã hai cái khoản ấy thì thật buồn anh Tạo nhỉ? Mình viết cho anh như vậy. Anh bảo, chờ đấy.
Rồi thấy anh khỏe lại, cũng mừng. Hè rồi bạn anh, họa sỹ Quốc Việt sang Đức có gửi tặng anh cuốn sách. Chẳng biết anh có đọc hết không. Hôm nay, giật mình nghe tin anh đã trở thành người thiên cổ. Rất buồn, vậy là anh không thể sang Đức với thằng em và Ngoc Tuan Tran (Nhà văn Trần Ngọc Tuấn Praha) như anh đã nói. Vĩnh biệt anh nhà thơ, nghệ sĩ Sông Quê Nguyễn Trọng Tạo.)


NGUYỄN TRỌNG TẠO: NGƯỜI BƯỚC RA TỪ CA DAO LỤC BÁT


(Chân dung nhà văn)

Đỗ Trường


Mãi đến cuối tháng bảy, dường như nước Đức mới thực sự vào hè. Nắng không gắt như ở quê nhà, nhưng đã đủ sức kéo cái nóng ngoài trời lên đến gần 30 độ. Cơn gió chiều cuốn theo hơi nước, từ những dòng sông chạy quanh thành phố, như phả trên mặt đường. Những cánh rừng xanh ngát, vươn lên như hai cánh tay ôm chặt lấy thành phố. Ngày cuối tuần, Leipzig như chìm vào trong giấc ngủ. Thi thoảng đâu đó có tiếng động cơ xe hơi, xe máy lạc lõng, rộ lên. Nếu không phải đi Mannheim, dự đám cưới con gái ông bạn từ thuở hàn vi, của những ngày đầu sang Đức, giờ này, có lẽ chúng tôi thong thả đạp xe, cùng dòng người đổ về bãi tắm ngoài trời, hay những khu nhà vườn của thành phố.
Từ Leipzig đến Mannheim khoảng chừng 500 km, nên chúng tôi đi chung một xe do Tiến Bọ cùng đội lò mổ cũ, cầm lái. Thằng này trước đây là bộ đội đặc công, đã có mấy năm đánh đấm ở biên giới phía Bắc. Nghe nó kể, nhiều lần quần nhau tay bo với giặc Tầu, nhưng chưa hề bị thương. Nó cũng được liệt vào dân anh chị về cái khoản rượu bia. Phân xưởng pha thịt, có mấy chục thằng Tây, Ta nhưng chỉ có nó và một thằng người Đức đủ sức, mỗi ca kéo hàng ngàn con lợn nặng cả tạ trên dây chuyền xuống cho vào máy cưa. Phải nói thật làm công việc giết mổ, trong nhà lạnh, nếu không có chút men rượu không thể làm nổi (dù có luật cấm). Trong một lần tơ lơ mơ như vậy, nó bị cưa thiến đứt phăng hai ngón tay. Từ đó, nó thề không bao giờ uống rượu nữa.
Đường xa, lại được ngồi ghế sau, nên chúng tôi thủ sẵn bia rượu và đồ nhậu. Lên xe, Tiến Bọ bật nhạc ầm ĩ. Mà hình như CD của nó chỉ có rặt một loại nhạc của Nguyễn Trọng Tạo(NTT). Lúc đầu, rượu mới dạo hiệp một, lại được úp mặt vào sông quê, nghe ngọt ngào quá, mấy thằng tôi sướng tởn lên. ..Rồi xe chạy được nửa đường, rượu đã ngấm, vẫn thấy Khúc Hát Sông Quê với Làng Quan Họ réo rắt, tua đi đảo lại đều đều. Thì ra, mấy bài hát này, nó thu nhiều lần trong một CD. Ông bạn ngồi cạnh, cằn nhằn, nhạc ông Tạo hay thì hay thật, nhưng nghe nhiều nhàm, đề nghị thay đĩa khác. Nó cười cười, ấn CD bên cạnh. Giời đất ạ! Lại bác Tạo. Không hiểu nó lấy đâu ra cái CD, bác Tạo hát bo (không nhạc đệm) những bài của mình. Khi bác Tạo vừa dứt, lại thấy giọng ông ổng, tồ tồ nhão nhoẹt của nó cất lên. Nghe nhạc đệm và tiếng hát của nó lạc làm hai phía, như đang chửi nhau vậy. Chịu hết nổi, chúng tôi đồng thanh: Tắt máy. Nó quắc mắt, các bố uống say thì ngủ đi, tôi không nghe nhạc bác Tạo, ngủ gật, chết cả lũ đấy.
Lúc về, tưởng thoát, nhưng không, lên xe, nó lại chương trình thơ bác Tạo. Qủa thật, tôi chưa thấy ai yêu điên cuồng Nguyễn Trọng Tạo như thằng này. Đàn bà mà cuồng kiểu này, có lẽ bác Tạo gặp rắc rối to rồi. Nó sưu tầm tất cả những bài thơ của bác Tạo, đã được đọc và ghi âm ở thư viện Audio, hay ở đâu đó vào đĩa CD, để trên xe. Cứ lên xe là nó bật nghe cho đến lúc dừng xe tắt máy, dù đường đi có bao xa và cũng không cần biết cảm giác của người ngồi bên. Nếu như trong phê bình văn chương, bác Tạo cho bác Hảo (Trần Mạnh Hảo) là người cực đoan, thì cái thằng này cực đoan vào dạng bác Hảo phải gọi là sư phụ. Ai mà đi xe của nó, chỉ cần một câu chê thơ, nhạc của Nguyễn Trọng Tạo, bảo đảm bị đuổi xuống xe ngay. Tôi thân nó đã mấy chục năm, nhưng cũng không ngoại lệ, ức quá bảo, lần sau không ké xe của nó nữa. Nhưng đi hội hè, đình đám, gặp bạn bè, có bia rượu, mấy thằng sâu rượu chúng tôi không sao cưỡng lại được, lúc về đều khật khừ cả, nên lại tranh nhau trèo lên xe của nó.
Không chỉ chúng tôi, mà còn rất nhiều người thích, yêu thơ, nhạc NTT, nhưng cả ngàn cây số, mất tám, chín giờ chạy xe, dện ròng rã, duy nhất nhạc, thơ NTT, có lẽ chỉ có nó là một.
Dài dòng một chút, kể lại câu chuyện trên, cũng để khảng định một điều nữa, dù ở bất cứ nơi đâu, trong hoàn cảnh nào, người thưởng ngoạn, không bao giờ ngoảnh mặt, quay lưng lại với thi ca. Nếu như lời thơ và câu hát đó gõ được vào ký ức và tâm hồn, hay lột tả những gì đang diễn ra trong cuộc sống thường nhật của họ, một cách chân thật nhất. Trong tình trạng thơ ca và xã hội hiện nay, Nguyễn Trọng Tạo, là một trong số rất ít các nhà thơ đã làm được điều này.
Nguyễn Trọng Tạo là một người đa tài, trong lãnh vực nào ông cũng để lại một số tác phẩm ghim vào lòng người. Vì vậy, nhà thơ Nguyễn Thụy Kha có lý, khi anh cho rằng, sau Văn Cao, Nguyễn Đình Thi là Nguyễn Trọng Tạo. Điều này, có lẽ Nguyễn Thụy Kha chỉ muốn nhắc đến sự tài hoa trong nhiều lãnh vực, chứ không có ý so sánh tài năng của họ. Vì tài năng khí chất trong thi ca, cũng như tính cách Nguyễn Trọng Tạo rất khác so với Nguyễn Đình Thi.
Có thể nói, nếu như Nguyễn Trọng Tạo không được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Miền Trung sắt se đầy nắng gió, có những lời ru câu hát làm mát rượi trưa hè, thì có lẽ tài năng của ông sẽ đi theo con đường khác. Những điệu Ví, lời ru ấy như dòng sữa mẹ, đã nuôi lớn tâm hồn thi ca Nguyễn Trọng Tạo. Do vậy, sau tài năng của nhà thơ hương đồng gió nội Nguyễn Bính, người mà tôi nghĩ đến phải là Nguyễn Trọng Tạo. Cái chất ca dao, lục bát từ tiền nhân đã được NTT nhân lên, và làm mới đi rất nhiều, nhưng sự mượt mà, gần gũi của trời đất, con người, đồng quê vẫn còn đó. Đồng Dao Cho Người Lớn, là một trong những bài tiêu biểu:
“…Có cha có mẹ có trẻ mồ côi
Có ông trăng rằm nào phải mâm xôi
Có cả đất trời mà không nhà ở
Có vui nho nhỏ có buồn mênh mông
Mà thuyền vẫn sóng mà xanh vẫn cỏ
Mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió
Có thương có nhớ có khóc có cười
Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi“.

Không được đọc NTT một cách có hệ thống, nhưng tôi cảm giác, dường ông làm thơ, viết nhạc từ những cảm hứng bất chợt, hay một ký ức xa xăm nào đó đột nhiên trở về. Thơ của NTT đa dạng, từ ngữ mộc mạc, nhiều khi không theo một trình tự nhất định, nên hay tạo ra được những hiệu quả làm bất ngờ cho người đọc. Có lẽ trong văn học sử Việt Nam, chỉ có NTT mới dám gửi gắm tâm sự, ví tình yêu của mình với những chồn cáo, nồi niêu, xoong chảo…rồi đưa thẳng nó đến với thi ca. Những câu tầm thường, cửa miệng ấy trong thơ ông, đọc lên ta thấy cay cay, ngồ ngộ:
“ Anh cây chổi tựa mòn góc bếp
Anh cái chảo mốc meo
Anh con mèo đói kêu khan
Anh con chồn hoang ngủ vùi trong hốc tối
Ngày không em
Anh làm gì với gió
Gió mềm mại dáng em
Anh làm gì với lửa
Lửa cháy môi em

Anh làm gì với cơn mưa giật liên hồi tiếng nấc…” (Ngày Không Em)
Văn hóa nói chung và thi ca nói riêng, đều có tính kế thừa, chuyển tiếp như những ngành khoa học tự nhiên khác. Yếu tố địa lý cũng quyết định một phần không nhỏ cho sự phát triển, sàng lọc tạo nên nét văn hóa đặc trưng vùng miền, hay của một quốc gia. Nếu không có sự chuyển tiếp, kế thừa này thì xã hội không khác gì một cơ thể có những tế bào bị biến dị tạo nên căn bệnh ung thư, và như người bị chối bỏ cuội nguồn, đánh mất đi phần linh hồn. Cuộc sống Nguyễn Trọng Tạo có nhiều khúc gấp, nên phải bươn trải sống ở nhiều vùng miền. Những văn hóa đặc trưng vùng miền ấy, đã thổi vào tâm hồn ông một cách tự nhiên, với những sắc thái khác nhau. Do vậy, khi nghe và đọc thi ca NTT, ta vẫn thoáng nhận ra, âm sắc của từng làn điệu, dân ca dù đã hòa trộn vào nhau. Sự hòa trộn ấy, tạo nên một cái gì đó mới lạ nhưng cũng rất gần gũi. Sự dung hòa giữa cũ và mới, đã làm mát dịu hồn thơ NTT. Linh hồn Việt, nhưng đã tạo dựng nên dáng hình rất Tây của bài thơ Mùa Thu Áo Ấm dưới đây là một thí dụ:
“Đồi núi. Thông xanh. Villa. Biệt thự
áo ấm. Dù hoa. Má đỏ. Tóc mềm
những con đường. Những con đường. Cao.Thấp
ngày bốn mùa. Đà lạt. Chập chùng. Em.
Em cười nói tự thuở nào thác đổ
Langbian. Nghiêng. Thung lũng tình yêu
Ôi! Sự sống nơi đỉnh trời chân cỏ
thoáng heo may. Nghe mình chợt sang chiều.
Tôi bạn bè cùng mùa rau xứ lạnh
cùng cải chua. Cà muối. Khô nai
cùng rượu chát
Cùng đớn đau thông rụng
Giọng buồn tôi run rẩy phát qua đài.

Những hồ, bãi tắm tự nhiên ở Đức, hình như nơi nào cũng giành một khu, cho những ai muốn tắm, phơi nắng trần truồng. Ngày mới sang, chúng tôi thấy mới nên khoái, rủ nhau ra hồ. Đến nơi chẳng thằng nào đủ dũng khí cởi quần áo, trần như nhộng giống những người xung quanh. Mặc nguyên quần áo thấy kỳ, nên chúng tôi giả vờ đến Imbiss mua bia, lai rai. Tắm chán, đói, các cô mười sáu, mười bảy, mảnh mai, thon thả đến các bà sồn sồn, tồng ngồng, lên mua đồ ăn. Chà chà…trắng, vàng, hồng, rực cả một góc trời, nhìn như một bầy thiên nga đang hạ thế. Ấy vậy, chỉ một vài lần chúng tôi chán, không còn hứng thú ra bãi tắm nữa. Sau này có mấy bác già vụ trưởng, thứ trưởng của Bộ Nông Nghiệp, sang công tác, công teo gì đó, nhờ chúng tôi đưa đi. Có bác hăng lên, mang theo cả ống nhòm, đứng núp từ bụi cây xa “mục sở thị”. Vài lần như vậy, rồi không thấy bác nào nhắc, nhờ đưa đi bãi tắm tiên nữa. Từ đó, tôi rút ra một điều, những cảnh trần trụi, kịch đường tầu như vậy đã làm giảm mất sự tò mò, khám phá lâu dài. Hơn nữa, nó không thích hợp với nếp suy nghĩ, tâm hồn, văn hóa sinh hoạt của người Việt và những nước Á Châu, chịu ảnh hưởng lâu đời của Phật giáo, nho học.
Tôi có thằng bạn thân, từ thuở khố rách áo ôm, ba, bốn đứa chung nhau một cái quần, thay nhau mặc mỗi lần đi tán gái. Học xong đại học, nó vào Sài Gòn làm việc. Đánh đấm, dẫm đạp lên nhau mấy chục năm, rồi nó cũng mò lên được chức Tổng giám đốc. Có lẽ chấm mút được, nhiều tiền đâm rửng mỡ, hôm rồi gọi điện cho tôi khoe, con nó gửi học trường quốc tế từ nhỏ, nên chỉ nói được tiếng Anh, tiếng Việt rất bập bẹ. Tôi bảo, con mày sẽ là người ngoại quốc ngay chính trên quê hương của nó. Không tiếng Việt, nó mất đi linh hồn. Mất văn hóa, sống trên quê hương mà như không còn Tổ Quốc. Những thứ đó tiền của mày không thể mua được. Nó không cãi lại, nhưng không vui. Từ đó, chúng tôi ít gọi điện cho nhau, nếu có, câu chuyện cũng vô cùng nhạt nhẽo.
Có thể khảng định, một trăm phần trăm những gia đình Tây Ta ở thành phố tôi cư ngụ, đổ vỡ, (có cặp đã sống với nhau ba, bốn chục năm) do không thể hòa đồng về văn hóa. Như vậy, văn hóa nói chung, thi ca nói riêng giữa Đông và Tây dù có hòa nhập hay cưỡng, ép hôn, nó chỉ nằm ở mức độ giao thoa, chứ tuyệt đối không bao giờ hòa tan. Cảm nhận từ những thực tế trên, tôi thấy việc cải tiến thơ ca của một số nhà thơ trong nước, dù có theo chiều hướng nào, nhưng mất đi bản sắc cội nguồn, nó chỉ là những tế bào biến dị. Những tế bào dị dạng này, trước sau sẽ tự đào thải, hoặc bị cắt bỏ mà thôi.
Tôi mang những bài thơ, chỉ có thể hiểu bằng tâm, phân thức…hoặc tâm phải rời khỏi xác, trở về cõi u u, mê mê nào đó mới hiểu được, (như một số nhà phê bình ca, viết) cho ông giáo già, du học từ năm 1964, là tiến sĩ ngôn ngữ, văn học Đức. Đọc xong, ông lắc đầu không hiểu. Theo ông đây là những bài viết với thứ ngôn ngữ tắc tị, chứ chẳng ăn nhập gì với thi ca của Phương Tây cả.
Phọt phẹt ngoại ngữ như tôi, hứng lên, đôi lúc đọc một, vài bài thơ tiếng Đức, tuy không hiểu hết cái hay, cái đẹp và những ý sâu xa, bóng bẩy, nhưng cũng hiểu được nghĩa thực của nó. Thế mà, tôi tắc tị, khi đọc thơ của những Nguyễn Quang Thiều, Mai Văn Phấn… Bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ, với mớ kiến thức đã tu luyện mười bốn, mười lăm năm trên ghế nhà trường ở quê nhà.
Ta hãy đọc lại bài Vô Đề của Nguyễn Trọng Tạo, lời thơ rất lạ, rất mới (tôi cho rằng không thể mới hơn) từ cách đảo từ đến nhịp của cả bài thơ. Nhưng nó vẫn giữ được sự trong sáng, mềm mại, dễ hiểu:
“…Anh đã để em ra đi vô cớ
Đến một ngày không thể hiểu vì đâu
Em hút bóng dừa xanh vào khép gió
Không bao giờ quay lại mối tình đầu.
Anh chót để ngôi sao bay khỏi cát
Biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời
Điều có thể đã hóa thành không thể
Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi”
Bài Thiên Thần, thoáng đọc lên ta cả thấy rất vô lý, nhưng cái vẻ đẹp thiên thần của em đã hút hồn người thi sĩ được toát ra từ nghìn năm trước và nghìn năm sau sau ấy, đã đấy cả bài thơ đến những điều có thể. Từ ngữ mộc mạc, nhưng rất mới trong lối miêu tả ẩn dụ(lấy thời gian để miêu tả vẻ đẹp) của Nguyễn Trọng Tạo. Đọc xong, ta thấy thoang thoảng hương của những bài vịnh, hay trào phúng xưa trở về:
“Em mười chín tuổi, nghìn năm trước
Sao đến bây giờ mới hai mươi
Môi mềm ngực nõn vòng tay xiết
Anh là tượng đá cũng tan thôi.
Cứ tưởng một lần cho đỡ khát
Nào ngờ bùa ngải lú trời xanh
Nghìn năm gặp lại…Em hăm mốt
Môi ngực vòng tay vẫn thiên thần”
Song song với các cuộc thi hoa hậu, ứ hậu, chắc chắn ở trong nước cũng sắp bội thực các buổi hội thảo thơ ca, do các cơ quan văn học tổ chức. Đọc những bài tham luận lạc đề, sặc mùi tụng ca của những nhà văn, nhà thơ có tên tuổi như Nguyễn Huy Thiệp, Đỗ Minh Tuấn…trong tọa đàm thơ Nguyễn Quang Thiều. Hay của những quan chức cao cấp trong hội thảo thơ của “nhà thơ bổ củi” Hoàng Quang Thuận, làm ta liên tưởng đến những nhân vật hài trong các vở tuồng, khen có thưởng vậy. Không cần bàn đến chất lượng của thơ, một đêm Hoàng Quang Thuận bổ ra được 121 bài, thì mấy ông thợ bổ củi, vai u thịt bắp, mồ hôi dầu, cũng phải vái chào. Cái đẹp là bùa mê, thuốc lú để nghìn năm sau hồn thi sĩ (Nguyễn Trọng Tạo) vẫn còn ngắc ngư, nghĩ đã thấy kinh. Thế mà, Hoàng Quang Thuận còn hãi hơn, dám đưa cả tâm linh, thánh thần, Phật Tổ ra để làm bùa mê thuốc lú dối mình, lừa người. Làm cho ông Tiến sĩ ngôn ngữ, văn học Đức, thở dài: Không ở đâu dễ lừa người, và bị người lừa như ở quê ta. Giời đất ạ! Văn thơ thời nay, nó rẻ như bèo, nhìn các văn sĩ, ông nào cũng ngây ngây, màng túi bị viêm kinh niên. Thế mà đường đường là ông GS-TS , Viện trưởng viện khoa học, giầu sang ngất ngưởng, lại nhảm nhí, làm công việc phản khoa học như vậy. Cứ tưởng, một mình ông GS-TS Hoàng Quang Thuận, mắc chứng bệnh tâm thần, không ngờ nhiều ông chức cao trọng vọng cũng mắc phải căn bệnh này.
Đầu những năm thập niên tám mươi, chúng ta vẫn còn đang ngất ngây, men nồng của người chiến thắng. Nhịn không được, một nhà thơ đã phải thốt lên: Chân dép lốp bước lên tầu vũ trụ. Dù lúc đó cái đói như ngọn roi quất vào con ngựa phi nước đại với giá- lương- tiền. Bài thơ, Tản Mạn Thời Tôi Sống, ra đời trong hoàn cảnh xã hội như vậy. Về nghệ thuật, cũng như bố cục, câu từ, nó không nằm trong số những bài thơ hay của Nguyễn Trọng Tạo, nhưng lại là bài thơ có sức sống lâu dài, và số phận đặc biệt, được nhiều người yêu mến. Trong lúc các văn sĩ cùng thời, đang hòa vào dòng thác ngợi ca, thần thánh hóa con người, cuộc sống, xã hội, thì NTT cả gan cầm bút chắn ngang dòng thác ấy.” Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ Như con chiên ngoan đạo chợt bàng hoàng/ Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá”. Tản Mạn Thời Tôi Sống, đã bóc trần bộ mặt gian dối, lừa lọc đang diễn ra trong xã hội đương thời, và kéo giấc mơ không có thật trở về với thực tại, nhưng nó đã đẩy con người và cuộc sống NTT đến tận cùng, không lối thoát:
“Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ
Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
Rồi một ngày thần tượng ta tan rã
Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn
Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình nguyện giữ nhà, muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần..”
Cái thời cả nước hừng hừng dắt tay nhau cùng lên đồng và chỉ được phép tô, trát lên mặt một mầu hồng duy nhất. Nhà thơ nổi tiếng Chế Lan Viên sướng quá, cũng chịu hết nổi, thốt lên: “ Ôi! Tổ Quốc có bao giờ đẹp thế này chăng?”. Thì Nguyễn Trọng Tạo lại vẽ lên mặt một màu tang thương, xám xịt:
“Nhưng cái thời tôi sống hẳn khác xưa
Trong bài hát thêm bom rơi và súng
Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn
Khăn tang bay, người sống trắng mái đầu
Gạo cửa hàng nhiều khi không đủ bán
Con phe sục khắp ga tầu bến cảng
Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương”
Nếu như thơ văn chính luận của Bùi Minh Quốc, Trần Mạnh Hảo vang lên và thẳng tưng, đầy uy lực như Quan Vũ, Trương Phi trên cầu Trường Bản, thì Nguyễn Trọng Tạo lại uyển chuyển, nhẹ nhàng có những cơn sóng ngầm công phá, như Tử Long xung trận Đương Dương. Cũng viết về biển đảo, nhưng NTT có cách viết rất khác. Trong cái dữ dội, gào thét của sóng biển, dưới nanh vuốt lăm le của quân thù, ta vẫn thấy lời thơ đằm thắm, nhẹ nhàng nhưng rất quyết liệt, can trường:
“Chẳng lẽ anh yêu biển gào dữ dội
Át cả tiếng em ở phía đất liền?
Chẳng lẽ anh yêu những đêm ngủ hầm kèo
Báo đến chậm hai ba tuần vẫn gọi là “Báo mới”
Lá thư tình đọc chung đồng đội
Lúc nghe đài là lúc gặp quê hương
Chẳng lẽ anh yêu những ngày tháng thẳng căng
Đêm bật dậy mấy lần báo động
Nhưng em ơi! Giữa muôn trùng biển sóng
Anh đã yêu như vậy ngày ngày
Như yêu em đắm say
Yêu giấc ngủ, hằng đêm về bờ cát
Nếu lòng anh đổi khác
Giặc sẽ tràn qua đảo của mình đây.

(Anh Đã Yêu Em Như Vậy)
Có thể nói NTT là nhà thơ cách tân, đổi mới nhất trong các nhà thơ mới hiện nay. Những năm tháng tuổi trẻ ông đã viết rất tự nhiên, như theo một bản năng. Tôi rất thích những bài thơ hồn nhiên viết trong thời kỳ đó của ông. Sau này, ông viết có kỹ thuật và sâu hơn và luôn đổi mới nhưng những nét hồn nhiên không còn đậm nét nữa. Có lẽ sau những năm tháng nổi trôi, ông đã trầm tĩnh hơn chăng?. Rất may, gần đây, qua bài thơ viết về em bé tật nguyền đi biểu tình, tôi lại bắt gặp những nét hồn nhiên ấy trong thơ ông:
“ Em hô Việt Nam-Hoàng Sa-Trường Sa
Anh gọi tên em Tổ Quốc, Sơn Hà…
..Đất nước già nua tâm hồn tươi trẻ
Em đi biểu tình-Anh đẩy xe lăn
Không kẻ thù nào có thể cản ngăn”
Ngày và đêm, trái đất vẫn quay, tất cả đều nằm trong vòng tròn của qui luật đó. Không có gì tồn tại vĩnh cửu. Cái cũ sẽ được thay bằng cái mới, như “ Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa”. Đó như là một triết lý sống, từ hơn ba mươi năm trước, Nguyễn Trọng Tạo đã cảnh báo trong thơ.


Leipzig- 16-8-2012
Đỗ Trường

Phức tạp như Nguyễn Trọng Tạo

Tác giả: Trung Trung Đỉnh

—————

Phức tạp như Nguyễn Trọng Tạo

Kể ra, được sống giữa thời có lắm người tài, nhiều lúc ngẫm nghĩ số mình may. Lại có khi thấy mình cái số chả ra gì: lớn lên gặp thời loạn lạc, đất nước phân ly, kẻ thù xâu xé. Rồi lại nghĩ, người ta không phải ngẫu nhiên gọi anh là người của thời này thời khác. Lứa chúng tôi là thế hệ “chống Mỹ”, gọi thế là gọi cho tiện, gọi cho tiện một phía. Ít nhất đất nước khi ấy có hai phe: Phe ta và phe địch. 

Chúng tôi gọi chúng tôi là phe ta. Đối phương gọi chúng tôi là phe địch. Mấy mười năm chiến trận, hai bên cùng thế hệ mà phe này gọi là thế hệ chống Mỹ. Phe kia gọi mình là thế hệ đệ nhất đệ nhị Cộng Hòa… Rồi có anh bị địch gọi là ta. Có anh ta gọi, hoặc ta nghi là địch. Địch địch ta ta, nghe thật là cay đắng. Nếu đất nước thanh bình không có chiến tranh, không có phe địch phe ta thì sướng biết bao, đẹp biết bao.

Nhưng xét cho cùng, âu đó cũng là cái số.
Rào đón thế là vì tôi với Nguyễn Trọng Tạo cùng thời. Và vì tôi thấy Tạo là người tài hơn mình, lại nhích hơn mình một hai tuổi thì gọi nhau là anh xưng tôi, chứ thực ra, nếu thân nhau hơn nữa, sướng hơn nữa phải là mày tao, nó mới đã. Tôi thấy tôi với Tạo mà mày tao được với nhau thì cũng xứng.
Thôi, từ đây, gọi mày tao cho suồng sã, cho sướng, hay nói như Tạo, cho rồi. Cho rồi một nhẽ! 
Chúng tôi đều là lính rớt. Tôi từ dưới đơn vị về trại viết quân khu V trước khi được triệu về Hà Nội học khóa I Nguyễn Du. Còn Tạo là lính kiểng (lính văn công) quân khu IV được kéo về. Hồi gặp nhau tôi chưa đọc Tạo mấy, nhưng tiếp xúc, tôi thấy ngay, tay này tài giỏi hơn mình gấp bội phần. Từng trải, tất nhiên. Trên cả từng trải là sự hiểu biết, là sự thông tỏ. Tôi rất mê ngồi bù khú với Tạo, nghe Tạo nói về Esenhin, nói về Trần Dần. Tạo uống rượu giỏi, trên cả giỏi mà phải nói là thành thần. Rượu gì cũng chơi được. Bạn thì lắm loại, loại nào cũng rôm rả, không hề phân biệt. Ngày ấy mà Tạo đã thân với Hoàng Cầm, Văn Cao làm tôi choáng, tôi bái phục. Đi chơi với tao, tức là đi uống với Tạo, thấy Tạo vào cuộc, ra cuộc đều thông thoáng. Ở chốn cao sang, đến chỗ bình dân với Tạo một mực như nhau. Chén thù chén tạc, thơ phú nhạc nhẽo ngang nhau, ồn ào, nhão nhoét, thanh cảnh, điệu đà, bèo dạt mây trôi hay chầu văn, hò Huế, đến dân ca xứ Nghệ hay lý ngựa ô Trung Nam, vô mãi tận Nam Bộ sáu câu, lên Tây Nguyên cồng chiêng, món gì, kiểu gì Tạo cũng ngang bằng sổ thẳng. Bàn chuyện văn chương đông tây kim cổ cũng hay mà nói đến lối sống đương thời, lối nào cũng tỏ. Đường ngang lối tắt, đi mây về gió chơi bời xả láng thâu đêm suốt sáng, thức khuya hì hụp bận rộn tối ngày chỉ vì bận nhậu mà lúc nào mặt mũi cũng tỉnh queo. Đôi lần có nhịu giọng, nhưng không thể gọi là bét nhè. Nhậu xong nằm chỏng vó vỗ bụng hát bài mới, không cần nhạc cụ. Đi đến đâu cũng tự nhiên như vào chỗ không người. Chuyện chính trị đương thời cũng như chuyện ông nọ bà kia lên voi xuống chó, chuyện em út, em này xinh, em kia chịu chơi chí chuyện quán vắng cũng như vào chỗ xa lạ, kiểu gì Tạo cũng thạo. Thơ hay nhạc đều giỏi. Thơ vào tuyển tập Quốc Gia mà Nhạc vào tốp mười mấy người định cạnh tranh với Quốc Ca của cụ Văn. Thắng cuộc này chắc Tạo cũng oai hùng, cũng sẽ đổi đời, mà khi thua cuộc thì Tạo thuộc diện rút êm. Khí giỏi! Nhớ lại, hồi ấy đất nước còn khó khăn mọi bề, không hiểu sao người ta lại rầm rầm rộ rộ tổ chức một cuộc thi tệ hại ấy. Không mấy nhạc sĩ có tên tuổi không dự, không hy vọng, mà cụ Văn còn sống sờ sờ! Sống thì sống, nhưng bản “Tiến quân ca” đã lỗi thời, cần phải thay. Râu cụ Văn có mỗi chòm lưa thưa, nhìn có vẻ dài ra. Người cụ Văn thì có vẻ mỗi ngày một teo tóp lại. Ngày nào trên đài, trên ti vi cũng phát đi phát lại chương trình những bài hát được hội đồng tuyển chọn. Không hiểu khi ấy cụ Văn có nghe các chương trình này không! Phát thì hoành tráng. Động thì mỗi ngày một ỉu xìu. Tạo nhà ta đêm đêm vỗ bụng, (bụng thay nhạc cụ, vì Tạo không chơi nhạc cụ) để viết bài “Ngợi ca đất nước”. Theo như hệ thống thông tin truyền thông quốc gia khi ấy thì “quần chúng” đang hưởng ứng mỗi ngày một đông, đông đến nỗi dư luận dân gian còn có bài “Quốc ca cu (cũ)”, nhại lại theo giai điệu bài hát “Ba lẻ bẩy” là: “Ai đã từng nghe Quốc ca cu, Quốc ca cu có nhiều thiếu sót…”. Và rốt cuộc, trong lần Ban tổ chức sáng tác quốc ca gặp gỡ 17 tác giả, Tạo đã phát biểu ngang xương: Hôm nay có đủ 17 “tác giả”, chỉ thiếu một “tác thật”, đó là nhạc sĩ Văn Cao! Câu chuyện sáng tác quốc ca cũng kết thúc ở đó. 
Tạo làm thơ tài tử mà làm nhạc càng tài tử hơn. Hồi ở Vân Hồ 3, Tạo đã nổi tiếng với bài “Làng quan họ quê tôi”, một bài hát bất kỳ nhạc sĩ chuyên nghiệp nào cũng mơ ước. Cũng là một thành viên của Trại viết, nhưng hành tung của Tạo thì “xuất quỷ nhập thần” không ai quản lý theo nghĩa quản lý hành chính mà giữ được chân Tạo. Bài thơ “Tản mạn thời tôi sống” ra đời cũng ở thời đoạn này. 
“Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa 
Như thời đã đi qua, như thời rồi sẽ đến”
Bây giờ đọc lại bài thơ ấy vẫn thấy hay. Nó hay trong tâm thức khác. Nhưng hồi ấy, không hề đơn giản. Hồi ấy có rất nhiều nhà “nghiêm trọng học”. Họ né tránh sự thật như một thói quen, như một quyền bính riêng, như một chân lý bất biến. Vì thế Nguyễn Trọng Tạo nhà ta mới thành ra cá biệt, thành ra kẻ kênh kiệu, ngạo mạn, hay nói nôm na là tay thích chơi trội, thích đi ngược trào lưu. Cái tâm thức số đông ngày ấy mới chỉ chạm vào sự thật một cái đã có kẻ giãy nảy lên rồi. Nhưng mà lòng người vẫn khao khát. Nhưng mà bản thân sự sống vẫn đang quá bộn bề. Nhưng mà nhà thơ không thể đứng ngoài cuộc. Con người đang sống đây đang cần đươc nói lên sự thật của chính mình đây. Sự thật của đời sống nuôi sống thơ chứ không phải thơ muốn gì cũng được. Bài thơ hay ở chỗ đơn giản thế. Và nó cũng phức tạp thế.
Phức tạp như Nguyễn Trọng Tạo.

Tôi và một số bạn văn thường hay gọi trêu Nguyễn Trọng Tạo là “dũng sĩ bắt fulro”. Ngoài chuyện làm thơ hay, nhạc giỏi, kẻ vẽ làm bìa khơ khớ, Nguyễn Trọng Tạo nổi bật ở khâu nhậu dai, nhậu sâu, nhậu dài, nhậu triền miên. Nhậu say tít mù rồi, đoạn chót phải lo ngân khố. Nguyễn Tọng Tạo bốc điện thoại, alo một phát, mươi mười lăm hai chục phút sau có anh đến đem theo bọc tiền thanh toán. Thanh toán rộn ràng. Thanh toán thoải mái. Bất quá vài ba triệu bõ gì với các đại gia, nhưng anh em mình thì cũng hơi bị khó. Toàn bọn đàn em, chú em dại của Tạo này cả. Được ngồi với các bác là sướng cái thân em rồi. Tạo tỉnh bơ như không. Không áy náy. Không có gì phải áy náy. Chuyên vặt. Có lần tôi đưa Nguyễn Trọng Tạo và Thái Bá Lợi về nhà chơi. Rượu có cả hũ, đồ mồi đầy tủ lạnh. Mời các bác nhậu trong phòng em cho đỡ phiền vợ con. Ai dè các bác nhậu thâu đêm suốt sáng. Nhậu tuyền chuyện huyên thuyên, cuối cùng gút lại tập trung vào chủ đề ra một tờ báo “Tin thì tin không tin thì thôi”. Một tờ báo lá cải, chuyên đưa tin nhảm, sau cải chính. Ai tin thì tin, ai không tin thì thôi, chúng em đùa, sau cải chính, chúng em nói sự thật, các bác tin hay không tùy các bác… Hóa ra đàn ông cánh tôi cũng lắm chuyện nhỉ! Chuyện thì lắm chuyện thật. Nhưng mà thật ra có chuyện qué gì đâu. Thời trước bao cấp cả đêm rầm rì to nhỏ thế này, có khi đi nhà đá. Thực ra, tóm lại, cả đêm dài toàn bàn chuyện giời ơi đất hỡi, chuyện trên giời dưới bể. Chuyện để đưa chuyện, đưa rượu. Bình rượu to đùng đến sáng khô kiệt. Hết rượu ta uống bia vậy. Bia trong tủ lạnh cũng còn cả thùng. Bà xã sáng ra tưởng chúng tôi dậy sớm, té ngửa khi nghe tôi bảo, đã ai ngủ nghê gì đâu mà dậy sớm với dậy muộn. Cô ấy nghe xong trợn tròn mắt, bảo, hóa ra không phải bọn đàn bà chún em lắm chuyện mà các ông cũng lằng nhằng.
Tạo nói giọng ề ề, hơi bị rè, thực ra không phải là tay hoạt khẩu, thậm chí chán òm, nhưng ề ề thế kéo qua đêm sang ngày, kể cũng kinh khủng thiệt. Tạo chơi bạn thâm tình nhất có lẽ là với Nguyễn Hoa. Theo Tạo thơ Hoa hay hạng nhất, vừa triết lý thâm sâu, vừa nhẹ nhàng bản địa. Hoa là mẫu người bạn lý tưởng vừa hiền lành vừa quyết liệt. Tạo chơi với Hoa nhưng suốt ngày đánh đu cùng Nguyễn Thụy Kha. Có hồi Tạo bảo tôi, tao dạy thằng Kha làm thơ. Có hồi Kha bảo tôi, tao dạy thằng Tạo viết nhạc. Có hồi Kha bảo Tạo là thằng ngu, éo biết làm ăn gì, suốt ngày nhậu. Có hồi Tạo bảo, tao nuôi Kha cả tháng, không có tao thì Kha chết đói. Có hồi Kha giỏi cả in sách, bán sách, Tạo ta thua, cánh tôi bảo, Tạo đại úy nhà thơ nhạc sĩ, thua Kha. Kha cũng đại úy nhà thơ nhạc sĩ nhưng kiêm phát hành. Đến đoạn này thì Tạo lảng. Trong làng văn có câu “Tạo Kha, Kha Tạo”. Lại có câu: “Bác Hồ nói với anh Ba/ Văn nghệ không có Tạo Kha thì buồn”. Bài viết về Kha tôi đã trích câu này, bây giờ xin lặp lại.

Tạo là lính thời chiến. Lính nhưng hình như không công trạng gì mấy. Tạo cũng hình như không làm tướng tá bên này hay kẻ chạy trốn bên kia. Tạo là một tên lính lâm trận, làm thơ, viết văn, làm báo, có nhiều tài vặt, kẻ vẽ lăng nhăng, viết ca dao hò vè, bài ca cổ vũ, là hàng lính đầu binh cuối cán, ở đâu cũng cần nhưng chả cần gì cả. Thiếu anh thì chợ vẫn đông. Vắng anh thì chợ cũng không buổi nào. Nhưng chợ thơ thì khác hẳn các chợ khác. Chợ thơ gọi là chợ thực ra vừa khinh rẻ thơ vừa đề cao thơ. Gọi thơ là hàng hóa cũng phạm thượng với thơ mà không gọi là hàng hóa thì đến chợ để chưng không thôi à? Chưng cũng được, bố mày không bán. Chưng đàng hoàng ở chỗ sang nhất chứ không được phép bạ đâu chưng đó. Bán được thì bán không bán được thì thôi. Nghèo là cái chắc. Nhưng hèn thì bình tĩnh. Người Việt mình từ Nam chí Bắc chí Trung có mấy ai không đá gà đá vịt vào thơ, huống hồ cắm đầu cắm cổ bươn chải lo toan tính toán vì thơ như Tạo. Tản mạn thời tôi sống nó hay vì nó nói lên sự thật. Ấy là Tạo bảo thế. Tôi thấy phát biểu như thế chả thà đừng phát biểu còn hơn. Bài thơ nó hay trước hết tự nó sống được với đời là vì nó là thơ, nó đích thị là thơ, sự thật thì sự thật, mung lung thì mung lung, giá trị của thơ đâu phải là sự thật. Giá trị của thơ đâu phải lụy vào mung lung. Sự thật cốt ở tấm lòng mà thơ hay cốt ở tài năng nhạy cảm. Nhiều người làm thơ quên mất phần cốt yếu của thơ là tài năng . Phần này nó ẩn chứa trong anh rất kín đáo, rất bí hiểm, tí tị tỳ ti thôi, ai cũng tưởng rằng mình có nhiều nên mới sinh ra lắm anh làm thơ dỏm, suốt ngày đẻ thơ, nghiêm trọng hóa thơ, coi thơ là đấng bậc, bề trên, chẳng biết mô tê trời đất, hay dở là gì. Thời đồng tiền chi phối nhiều lĩnh vực, tưởng có nhiều tiền, in thơ mình cho rõ sang, rõ trọng vọng, rõ hoành tráng, tưởng như thế là đủ cho thơ. Thơ thật nó ma mãnh quái đản lắm, vì nó bị khổ đau, khổ đau vì số phận nó thế chứ đâu ai làm được cho mình phải thật khổ đau rồi mới làm thơ. Đổi khổ đau khổ như Hàn Mạc Tử để lấy thơ hay, ai thì chả biết, chứ bố cháu là bố cháu chịu. 
Tôi dông dài quá rồi. Nói nhiều tranh phần nói của Tạo, hóa ra tôi thành thằng rồ. Vậy nên xin trích mấy câu thơ của Tạo bày hàng ra đây ai khen thì khen không khen thì thôi, bố cháu chịu:
“…có người càng gần càng lớn, càng xa càng nhỏ
có người càng gần càng nhỏ, càng xa càng lớn
có người gần xa không lớn không nhỏ …” 
(Tội đồ của thời gian)
Bài này đặc chất ông đồ xứ Nghệ chưa ạ?
Đây là bài thơ văn xuôi, đặc chất lính lâm trận:
… “khi nó đến lay tôi đổi gác, tôi đang lên cơn sốt run người. Căn hầm nóng như lò quay thịt. Nó chạy ra rừng đẵn một cây chuối, lấy khăn dấp nước từ lõi chuối ứa ra, đắp lên trán tôi, rồi lại xách súng lên chốt, gác phiên tôi.
Một loạt bom xé rừng. Đồng đội nhặt xác nó mỗi nơi mỗi mảnh,,,,”
Không cần bình gì thêm.
“… thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
câu trả lời thật không dễ dàng chi…”
Đấy, thơ thế sự của Tạo là thế. Nổi tiếng ham chơi mà làm thơ thế sự lại làm như thế được ru!? Bây giờ nhiều người bảo tay Tạo sướng, có vợ mới, nhà mới, vợ lái xe đưa đón hắn đi nhậu. Trời đất quỷ thần ơi, sướng khổ ở đời biết mô mà lần, tự anh biết lấy thôi.
Chúc Tạo tiếp tục như Tạo từng đã Tạo.

Trần Trung Đỉnh

Kimdungkyduyen ‘s bờ lốc

NHÂN DÂN

Có thể thay quan, không thay được Nhân Dân
Thay tên nước, không thể thay Tổ Quốc
Nhưng sự thật khó tin mà có thật
Không thể thay quan dù quan đã thành sâu!

Quan thành dòi đục khoét cả đất đai
Vòi bạch tuộc đã ăn dần biển đảo
Đêm nằm mơ thấy biển Đông hộc máu
Những oan hồn xô dạt tận Thủ Đô

Những oan hồn chỉ còn bộ xương khô
Đi lũ lượt, đi tràn ra đại lộ
Những oan hồn vỡ đầu gãy cổ
Ôm lá cờ rách nát vẫn còn đi

Đi qua hàng rào, đi qua những đoàn xe
Đi qua nắng đi qua mưa đi qua đêm đi qua bão
Những oan hồn không sức gì cản nổi
Đi đòi lại niềm tin, đi đòi lại cuộc đời

Đòi lại những ông quan thanh liêm đã chết tự lâu rồi
Đòi lại ánh mặt trời cho tái sinh vạn vật…
Tôi tỉnh dậy thấy mặt tràn nước mắt
Nước mắt của Nhân Dân mặn chát rót vào tôi.

Ôi những ông quan không Dân trên chót vót đỉnh trời
Có nhận ra tôi đang kêu gào dưới đáy
Cả một tỷ tôi sao ông không nhìn thấy?
Vì tôi vẫn là người mà ông đã là sâu?…

Nguyễn Trọng Tạo



Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.