Có hay không một logic trường tồn về xung đột trong chính trị quốc tế?/Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

Có hay không một logic trường tồn về xung đột trong chính trị quốc tế?

Posted on 14/05/2013 by The Observer

110502_wg

Nguồn: Nye, Joseph S., “Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?” (Chapter 1), in Understanding International Conflicts (New York: Longman, 2007), pp. 1-32.

Biên dịch: Hoàng Cẩm Thanh

Bài liên quan: Các chương khác của cuốn Understanding International Conflicts

Trái đất đang nhỏ lại. Thế kỷ 17, con tàu trứ danh Mayflower phải mất đến ba tháng mới vượt được Đại Tây Dương.  Năm 1924, chuyến bay của Charles Lindbergh chỉ mất có 24 giờ. Năm mươi năm sau, một chiếc máy bay Concorde sẽ vượt biển trong vòng 3 giờ đồng hồ còn tên lửa đạn đạo chỉ tốn 30 phút. Giá vé của một chuyến bay xuyên Đại Tây Dương những năm đầu thế kỷ 21 chỉ bằng một phần ba giá vé của năm 1950, và cước phí của một cuộc điện thoại từ New York đến Luân Đôn giờ đây chỉ bằng một phần nhỏ so với thập niên 1950.

Thông tin qua mạng internet toàn cầu dường như là tức thì và chi phí truyền tải thông tin hầu như không đáng kể. Một nhà hoạt động môi trường ở Châu Á hay một nhà hoạt động nhân quyền ở Châu Phi ngày nay có được sức mạnh to lớn của thông tin mà trước đây vốn chỉ thuộc về những tổ chức lớn như các chính phủ hay các công ty xuyên quốc gia. Ở một khía cạnh đáng buồn hơn, sự phát triển vũ khí nguyên tử lại bổ sung một bộ mặt mới cho các cuộc chiến tranh. Có nhà văn đã gọi nó là kẻ mang lại “cái chết kép”, nghĩa là không chỉ từng cá nhân chết trong chiến tranh mà trong những trường hợp nhất định, toàn bộ nhân loại có thể bị đe doạ diệt vong. Và như những cuộc tấn công khủng bố vào New York và Washington tháng 9/2001 cho thấy, công nghệ đã mang lại cho các chủ thể phi quốc gia thứ quyền năng hủy diệt mà trước đây chỉ thuộc về các chính phủ. Và do hiệu ứng của không gian bị thu hẹp, những điều kiện ở một đất nước nghèo nàn xa xôi như Afghanistan bỗng nhiên trở nên gắn bó mật thiết với Châu Âu.

Thế nhưng có nhiều điều trong chính trị quốc tế vẫn không hề thay đổi qua thời gian. Những mô tả của Thucydides về cuộc chiến giữa thành Athens và Sparta trong cuộc chiến Peloponnese cách đây 2,500 năm mang nhiều nét tương đồng đến lạ kỳ với cuộc xung đột Trung Đông kể từ năm 1947. Thế giới đầu thế kỷ 21 là một món cocktail pha trộn giữa sự tiếp nối và thay đổi. Một số khía cạnh của chính trị quốc tế vẫn giữ nguyên như thời Thucydides. Chính trị quốc tế vẫn đi kèm với một lôgic nhất định liên quan đến sự thù địch lẫn nhau và thế lưỡng nan về an ninh của các quốc gia. Liên minh, cân bằng quyền lực và những lựa chọn chính sách giữa chiến tranh và thỏa hiệp vẫn không thay đổi dù khoảng cách thời gian được đo bằng thiên niên kỷ.

Mặt khác, Thucydides không bao giờ phải lo lắng về vũ khí nguyên tử, HIV/AIDS, hay tình trạng ấm lên toàn cầu. Nhiệm vụ của những người nghiên cứu quan hệ quốc tế là phát triển học thuật dựa vào quá khứ nhưng không mắc bẫy quá khứ, ngõ hầu hiểu được sự tiếp nối cũng như những thay đổi. Chúng ta phải nghiên cứu những học thuyết truyền thống và điều chỉnh cho phù hợp với các điều kiện hiện tại. Các chương đầu của cuốn sách này sẽ cung cấp cho bạn đọc bối cảnh lịch sử và lý thuyết diễn ra các hiện tượng cách mạng thông tin, toàn cầu hóa, phụ thuộc lẫn nhau, và các chủ thể xuyên quốc gia, những vấn đề sẽ được thảo luận trong các chương sau. Dựa trên trải nghiệm của bản thân về quản lý chính quyền, tôi nhận thấy không thể bỏ qua các khía cạnh mới cũng như cũ của chính trị quốc tế.

Có một cách để thay đổi nền chính trị quốc tế, đó là xoá bỏ hoàn toàn các nhà nước riêng lẻ, nhưng viễn cảnh về một chính phủ toàn cầu vẫn còn xa vời. Và trong khi các chủ thể phi quốc gia như các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ và các nhóm khủng bố mang lại cho các chính phủ những thách thức mới, bản thân chúng không thay thế được các quốc gia. Các dân tộc khác nhau đang sống ở gần 200 quốc gia khác nhau trên thế giới đều mong muốn độc lập, bản sắc văn hoá và ngôn ngữ riêng biệt. Thực tế hiện nay là thay vì biến mất, chủ nghĩa dân tộc và yêu cầu độc lập cho từng quốc gia riêng lẻ ngày càng tăng lên. Thay vì có ít quốc gia hơn, thế kỷ mới hiện nay nhiều khả năng sẽ chứng kiến sự ra đời thêm nhiều quốc gia mới. Chính phủ toàn cầu cũng không tự động giải quyết được vấn đề chiến tranh. Hầu hết các cuộc chiến tranh hiện nay là chiến tranh sắc tộc hoặc nội chiến. Từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1989 đến cuối thế kỷ 20 đã có 111 cuộc xung đột vũ trang xảy ra ở 74 khu vực trên thế giới. Trong đó 7 cuộc xung đột là giữa các quốc gia và 9 cuộc chiến diễn ra trong nội bộ quốc gia nhưng có sự can thiệp từ bên ngoài.[1] Thực tế thì những cuộc chiến tranh đẫm máu nhất của thế kỷ 19 không phải là giữa các quốc gia thường hay gây hấn ở Châu Âu mà chính là cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc ở Trung Quốc và cuộc nội chiến Mỹ. Chúng ta sẽ tiếp tục sống trong một thế giới với các cộng đồng đối địch cùng các quốc gia riêng biệt trong một khoảng thời gian nữa, và hiểu được ý nghĩa của thực tế này đối với tương lai của chúng ta là một điều hết sức quan trọng.

CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ LÀ GÌ?

Thế giới không phải lúc nào cũng được chia thành một hệ thống các quốc gia riêng biệt. Trải qua nhiều thế kỷ nền chính trị thế giới đã trải qua ba hình thức cơ bản. Trong một hệ thống đế quốc thế giới, một chính phủ sẽ cai trị hầu hết phần thế giới còn lại mà nó có quan hệ. Thế giới phương Tây với sự cai trị của Đế chế La Mã là ví dụ điển hình nhất cho hệ thống này. Người Tây Ban Nha vào thế kỷ 16 rồi đến người Pháp vào thế kỷ 17 đã nỗ lực để có được vị thế quyền lực tương tự song đã thất bại. Vào thế kỷ 19, Đế chế Anh bành trướng khắp thế giới, nhưng chính nước Anh cũng phải chia sẻ quyền lực với các quốc gia hùng mạnh khác thời bấy giờ. Những đế chế của thế giới cổ đại như Sumer, Ba Tư hay Trung Hoa thực chất chỉ là các đế chế khu vực. Họ nghĩ rằng họ cai trị toàn thế giới nhưng thực chất họ tránh được xung đột với các đế chế khác là vì tình trạng thiếu thông tin. Các cuộc chiến của họ với những man tộc ở ngoại biên không giống như các cuộc chiến giữa những quốc gia hùng mạnh ngang sức nhau.

Dạng thức cơ bản thứ hai của chính trị thế giới là hệ thống phong kiến, nơi mà lòng trung thành và các nghĩa vụ chính trị không bị các biên giới lãnh thổ giới hạn. Sau khi Đế chế La Mã sụp đổ, chế độ phong kiến trở nên rất phổ biến ở Châu Âu. Mỗi thần dân không chỉ có nghĩa vụ với địa chủ nơi mình sinh sống mà đôi khi còn phải thực hiện nghĩa vụ của mình với một nhà quý tộc hay giám mục ở một nơi xa xôi nào đó cũng như Giáo hoàng ở La Mã. Bổn phận về mặt chính trị được quyết định phần lớn bởi những điều xảy ra với bề trên của họ. Nếu một ông hoàng bà chúa nào đó kết hôn thì một khu vực và cư dân tại đó có thể bị thay đổi bổn phận chính trị khi vùng đất của họ trở thành của hồi môn cho đám cưới. Những người dân ở một thành thị nước Pháp có thể bỗng chốc biến thành người xứ Flander hay thậm chí là người Anh. Các thành thị hoặc liên minh thành thị đôi khi được hưởng quy chế bán độc lập đặc biệt. Các cuộc chiến hỗn mang thời phong kiến khác xa với các cuộc chiến xâm lược lãnh thổ thời hiện đại. Chiến tranh có thể xảy ra bên trong cũng như giữa các vùng lãnh thổ với nhau và bắt nguồn từ những xung đột cũng như vấn đề lòng trung thành chồng chéo không hề dính dáng gì đến biên giới lãnh thổ như đã nói ở trên.

Dạng thức thứ ba của nền chính trị quốc tế là hệ thống vô chính phủ các quốc gia bao gồm những quốc gia tương đối gắn kết với nhau nhưng không có một chính phủ nào đứng cao hơn họ. Các ví dụ có thể kể đến gồm các thành bang Hy Lạp cổ đại và hay nước Ý của Machiavelli thời thế kỷ 16. Một ví dụ khác về hệ thống vô chính phủ là các quốc gia phong kiến thuộc các vương triều nơi mà tính liên kết của quốc gia dựa trên sự cai trị của một dòng họ. Ví dụ này có thể thấy ở Ấn Độ hay Trung Quốc vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên. Các vương triều có lãnh thổ lớn tái xuất hiện tại châu Âu những năm 1500, và các hình thái chính thể khác như các thành bang hay các liên minh lỏng lẻo giữa các vùng lãnh thổ đã dần biến mất. Năm 1648 Hoà ước Westphalia đã chấm dứt Chiến tranh Ba mươi năm ở Châu Âu, và cuộc chiến này thường được coi là cuộc chiến tranh tôn giáo lớn cuối cùng và là cuộc chiến đầu tiên giữa các quốc gia hiện đại. Có thể thấy Hòa ước Westphalia đã ghi nhận việc các quốc gia có chủ quyền lãnh thổ trở thành hình thức chủ đạo trong tổ chức chính trị quốc tế.

Vì vậy ngày nay khi nói về chính trị quốc tế, chúng ta thường hiểu đó chính là hệ thống các quốc gia có lãnh thổ, và chúng ta định nghĩa chính trị quốc tế là chính trị giữa các thực thể thiếu vắng chủ quyền tối cao, tức không có quyền lực nào đứng trên chủ quyền của các quốc gia. Chính trị quốc tế là một hệ thống tự lực. Thomas Hobbes, nhà triết học người Anh thế kỷ 17, gọi các hệ thống vô chính phủ như vậy là “trạng thái tự nhiên.” Đối với một số người, cụm từ “trạng thái tự nhiên” có thể gợi nhớ đến khung cảnh một đàn bò thảnh thơi gặm cỏ trên một nông trại, nhưng đó không phải là điều mà Hobbes muốn nói. Chúng ta hãy thử tưởng tượng về một thị trấn vùng Texas vắng bóng cảnh sát trưởng trong thời kỳ miền Tây hoang dã, hay Libăng sau khi chính phủ sụp đổ vào những năm 1970, hoặc Somalia trong những năm 1990. “Trạng thái tự nhiên” mà Hobbes nói đến không phải là trạng thái dễ chịu, thanh bình mà là trạng thái chiến tranh hỗn mang tất cả chống lại tất cả do không có một chính phủ nào cao hơn để giữ gìn trật tự. Như câu nói nổi tiếng của Hobbes, cuộc sống trong một thế giới như vậy có khuynh hướng ngắn ngủi và đầy rẫy những điều xấu xa, tàn bạo và độc ác.

Kết quả là tồn tại những khác biệt về chính trị, luật pháp và xã hội giữa chính trị quốc tế và chính trị trong nước. Luật pháp trong nước thường được chấp hành, những kẻ vi phạm pháp luật sẽ bị cảnh sát và toà án trừng trị. Pháp luật quốc tế lại hoàn toàn khác. Pháp luật quốc tế dựa trên các hệ thống pháp luật cạnh tranh lẫn nhau, lại không hề có cơ quan thực thi pháp luật chung; cũng không tồn tại một lực lượng cảnh sát quốc tế nhằm đảm bảo thực thi pháp luật quốc tế.

Vũ lực giữ những vai trò khác nhau trong nền chính trị trong nước và quốc tế. Trong một hệ thống chính trị trong nước được tổ chức tốt, chính phủ được độc quyền sử dụng vũ lực một cách hợp pháp. Trong chính trị quốc tế, không ai được độc quyền sử dụng vũ lực. Chính trị quốc tế là một lãnh địa của cơ chế tự lực, sẽ có các quốc gia mạnh hơn các quốc gia khác và luôn tiềm ẩn mối đe dọa các quốc gia đó sẽ dùng đến vũ lực. Khi vũ lực không thể bị loại trừ thì hậu quả là sự nghi kỵ và thiếu lòng tin giữa các quốc gia sẽ xuất hiện.

Chính trị trong nước và quốc tế cũng rất khác nhau về vấn đề tinh thần cộng đồng. Trong một xã hội trong nước có trật tự, nhận thức về một cộng đồng chung sẽ tạo điều kiện phát triển lòng trung thành đối với quốc gia, các tiêu chuẩn công lý và các quan niệm chung về chính quyền hợp pháp. Trong chính trị quốc tế, các dân tộc riêng lẻ sẽ không chia sẻ cùng một lòng trung thành. Tinh thần cộng đồng toàn cầu vẫn luôn yếu ớt và lỏng lẻo. Người ta thường bất đồng quan điểm về những gì được coi là công bằng và hợp pháp. Hậu quả là xuất hiện khoảng cách lớn giữa hai giá trị chính trị cơ bản: trật tự và công bằng. Trong một thế giới như vậy, phần lớn các quốc gia đều đặt lợi ích dân tộc lên trên công lý quốc tế. Luật pháp và giá trị đạo đức có vai trò trong chính trị quốc tế, nhưng khi thiếu vắng một ý thức cộng đồng chung, chúng không còn mang giá trị ràng buộc như trong nền chính trị trong nước.

Trong ba hệ thống cơ bản trên – hệ thống đế quốc thế giới, hệ thống phong kiến và hệ thống vô chính phủ các quốc gia – một số người dự đoán rằng thế kỷ 21 có thể sẽ chứng kiến sự phát triển dần dần của một chế độ phong kiến mới hoặc, ít khả năng hơn, là một đế chế toàn cầu của Mỹ. Chúng ta sẽ xem xét các câu hỏi này ở chương cuối cùng.

Hai quan điểm về nền chính trị vô chính phủ

Chính trị quốc tế mang tính chất vô chính phủ theo nghĩa rằng không có một bộ máy cai trị nào đứng trên các quốc gia có chủ quyền. Nhưng ngay trong lý luận chính trị vẫn có hai quan điểm hoàn toàn khác nhau về mức độ khắc nghiệt của “trạng thái tự nhiên.” Hobbes, người cho ra đời những tác phẩm của mình ở một nước Anh bị nội chiến tàn phá của thế kỷ 17, đã nhấn mạnh khía cạnh mất an ninh, vũ lực và sự sống còn. Ông cho rằng nhân loại luôn nằm trong tình trạng chiến tranh liên miên. Nửa thế kỷ sau, John Locke, người viết ra các tác phẩm của mình ở một nước Anh ổn định hơn, lại lập luận rằng dù cho “tình trạng tự nhiên” thiếu một lực lượng cai trị chung thì con người vẫn có thể phát triển các mối quan hệ và các khế ước, qua đó giúp cho tình trạng vô chính phủ trở nên bớt nguy hiểm hơn. Hai cách nhìn về “trạng thái tự nhiên” này chính là xuất phát điểm triết học của hai quan điểm hiện tại về chính trị quốc tế, một trường phái bi quan và một trường phái lạc quan hơn, đó chính là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do trong chính trị quốc tế.

Đến nay, chủ nghĩa hiện thực vẫn là trường phái áp đảo trong chính trị quốc tế. Với những người theo trường phái này, vấn đề trung tâm của chính trị quốc tế là chiến tranh, sử dụng vũ lực và chủ thể trung tâm là các quốc gia. Chủ nghĩa hiện thực được thể hiện trong các tác phẩm và chính sách của các nhà lãnh đạo Mỹ hiện đại như Tổng thống Richard Nixon và Ngoại trưởng trong chính quyền của ông là Henry Kissinger. Chủ nghĩa hiện thực bắt đầu từ giả định về hệ thống vô chính phủ của các quốc gia. Chẳng hạn như Kissinger và Nixon tìm cách tối đa hoá sức mạnh của Mỹ và tối thiểu hoá khả năng các quốc gia khác có thể gây nguy hiểm cho an ninh của Mỹ. Theo các nhà hiện thực, sự bắt đầu và kết thúc của chính trị quốc tế chính là mỗi quốc gia trong sự tương tác với các quốc gia khác.

Lý thuyết truyền thống thứ hai là chủ nghĩa tự do. Trong tư tưởng triết học chính trị phương Tây, lý thuyết này gắn với những tên tuổi như Nam tước Montesquieu của Pháp và Immanuel Kant của Đức vào thế kỷ 18, và các nhà triết học Anh thế kỷ 19 như Jeremy Bentham và John Stuart Mill. Một ví dụ về chủ nghĩa tự do ở nước Mỹ hiện đại chính là các tác phẩm và chính sách của nhà chính trị học và cũng là Tổng thống thứ 28 của Mỹ Woodrow Wilson.

Những người theo chủ nghĩa tự do coi thế giới như một xã hội toàn cầu vận hành song song với các quốc gia và tạo nên một phần bối cảnh hoạt động cho chính các quốc gia đó. Thương mại vượt qua biên giới các quốc gia, người dân sẽ giao lưu với nhau (như các sinh viên đi du học ở nước ngoài), các thể chế quốc tế như Liên Hợp Quốc tạo ra một bối cảnh mà ở đó cách nhìn của chủ nghĩa hiện thực về tình trạng vô chính phủ thuần túy trở nên phiến diện. Các nhà tự do chỉ trích các nhà hiện thực khi coi các quốc gia chỉ như những viên bóng bi-a va vào nhau trên bàn nhằm cân bằng quyền lực, và cho rằng quan điểm này chưa đầy đủ vì con người thực sự có những mối quan hệ xuyên biên giới và tồn tại một xã hội quốc tế. Phái tự do cho rằng phái hiện thực đã trầm trọng hoá sự khác biệt giữa chính trị trong nước và chính trị quốc tế. Do bức tranh về tình trạng “vô chính phủ” của trường phái hiện thực như Hobbes mô tả là “tình trạng chiến tranh” chỉ tập trung vào một số tình huống cực đoan nên trong quan điểm của các nhà tự do, bức tranh đó thiếu đi hình ảnh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng tăng cũng như sự tiến hóa của một xã hội toàn cầu xuyên quốc gia.

Phái hiện thực đáp lại bằng cách trích dẫn lời Hobbes: “Cũng như trời âm u không có nghĩa là sẽ mưa mãi mãi, trạng thái chiến tranh không đồng nghĩa với chiến tranh liên miên”.[2] Giống như những người dân Luân Đôn luôn mang theo ô kể cả trong những ngày nắng nóng tháng Tư, nguy cơ nổ ra chiến tranh trong một hệ thống vô chính phủ khiến các quốc gia phải luôn duy trì lực lượng vũ trang ngay cả trong thời bình. Các nhà hiện thực cũng chỉ trích những dự đoán sai lệch của phái tự do trước đây. Ví dụ, năm 1910, vị hiệu trưởng trường Đại học Standford đã nói rằng chiến tranh trong tương lai không còn có thể xảy ra vì các quốc gia không thể kham nổi chi phí. Các cuốn sách lúc bấy giờ tuyên bố chiến tranh đã là dĩ vãng, văn minh đã vượt lên trên chiến tranh. Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, mối quan hệ giữa các công đoàn và tầng lớp trí thức, cũng như dòng lưu chuyển vốn đã biến chiến tranh thành điều không thể. Tất nhiên, những dự đoán đó đã thất bại thảm hại trong năm 1914 khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra. Những người thuộc phái hiện thực thấy mình như được minh oan.

1910: “BÓNG MA CÀ RỒNG VÔ HÌNH” CỦA CHIẾN TRANH
Nếu không có lý do nào khác để kết thúc chiến tranh, tổn thất về tài chính mà chiến tranh gây ra sớm hay muộn cũng sẽ khiến các quốc gia văn minh của thế giới thức tỉnh. Như hiệu trưởng David Starr Jordan của Viện Đại học Leland Stanford phát biểu tại Đại học Tufts: “Trong tương lai, chiến tranh không thể xảy ra bởi các quốc gia không đủ chi phí để tiến hành chiến tranh.” Ông nói thêm, ở Châu Âu, khoản nợ nần do chiến tranh để lại là 26 tỷ đô la. “Tất cả đều mắc nợ một con ma cà rồng vô hình, các quốc gia sẽ không bao giờ trả hết được, còn người nghèo sẽ phải đóng thuế cho con ma cà rồng ấy đến 95 triệu đô la một năm.” Gánh nặng về quân sự trong thời bình đang vắt kiệt sức mạnh của ngay cả những quốc gia hàng đầu vốn đã ngập chìm trong nợ nần. Hậu quả tất yếu của một cuộc chiến tranh lớn là tình trạng phá sản tràn lan.– Thế giới New York[3]

Lịch sử và các cuộc tranh cãi vẫn chưa dừng lại vào năm 1914. Thập kỷ 1970 lại chứng kiến sự trỗi dậy trở lại của chủ nghĩa tự do với quan điểm cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng về mặt xã hội và kinh tế đang thay đổi bản chất của chính trị quốc tế. Thập kỷ 1980, giáo sư Richard Rosecrance của Đại học California cho rằng các quốc gia có thể gia tăng sức mạnh bằng hai cách: tranh giành chiếm giữ lãnh thổ hoặc thông qua thương mại một cách hoà bình. Ông sử dụng trường hợp của Nhật Bản như một ví dụ: Những năm 1930, Nhật Bản thử nghiệm việc chinh phục mở rộng lãnh thổ, song đã phải trả giá bằng thất bại thảm hại trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Nhưng sau đó, Nhật Bản đã sử dụng thương mại và đầu tư để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (tính bằng tỉ giá hối đoái chính thức), và là một cường quốc hàng đầu ở Đông Á. Sự thành công của Nhật Bản không nhờ đến bất cứ một sức mạnh quân sự nào. Vì vậy, Rosecrance và những người theo chủ nghĩa tự do hiện đại cho rằng bản chất của nền chính trị quốc tế đang thay đổi.

Một số nhà tân tự do lại nhìn xa hơn về tương lai và tin rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về sinh thái đang gia tăng mạnh mẽ sẽ làm lu mờ dần sự khác biệt giữa chính trị trong nước và chính trị quốc tế, khiến loài người dần tiến đến một thế giới không biên giới. Chẳng hạn như lỗ thủng tầng ozone trên thượng tầng khí quyển gây nguy cơ ung thư da ảnh hưởng tới tất cả mọi người bất kể họ đang ở đâu. Nếu khí CO2 tích tụ làm trái đất nóng dần lên khiến băng ở hai cực tan chảy và mực nước biển dâng cao thì tất cả các quốc gia ven biển đều sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Những vấn đề như bệnh AIDS, nạn buôn lậu ma tuý xuyên biên giới khiến chúng ta dường như đang hướng tới một thế giới hoàn toàn khác. Giáo sư Richard Falk của Đại học Princeton cho rằng các vấn đề và giá trị xuyên quốc gia sẽ thay đổi hiện trạng lấy quốc gia làm trung tâm của nền chính trị quốc tế vốn đã tồn tại trong hơn 400 năm qua. Các lực lượng xuyên quốc gia hiện đang làm xói mòn Hòa ước Westphalia và loài người đang tiến tới một hình thái chính trị quốc tế hoàn toàn mới.

Phản ứng với quan điểm trên phái hiện thực phát biểu vào năm 1990 rằng: “Hãy đem những điều ấy mà nói với Saddam Hussein!” Iraq đã cho thấy vũ lực và chiến tranh vẫn luôn là mối nguy hiểm thường trực khi Iraq xâm lược nước láng giềng nhỏ bé của họ là Kuwait. Phái tự do đáp lại bằng cách cho rằng chính trị ở Trung Đông là một trường hợp ngoại lệ. Họ cho rằng thế giới đang dần vượt qua tình trạng vô chính phủ của hệ thống các quốc gia chủ quyền. Những quan điểm trái ngược nhau về bản chất của nền chính trị thế giới và về việc nó đang thay đổi thế nào sẽ không thể được dung hoà trong một sớm một chiều. Phái hiện thực nhấn mạnh sự tiếp nối; phái tự do lại nhấn mạnh sự thay đổi. Cả hai cùng khẳng định thực trạng chính trị thế giới theo quan điểm của mình. Trường phái tự do gọi các nhà hiện thực là những kẻ hoài nghi khi sự hoài vọng về quá khứ khiến họ bưng mắt trước các thay đổi. Trong khi đó phái hiện thực lại coi những người theo chủ nghĩa tự do là những kẻ mộng du không tưởng và gọi họ là những kẻ bị ám ảnh bởi toàn cầu hoá chẳng giống ai.

Ai đúng ai sai? Cả hai đều đúng và đều sai. Một câu trả lời rõ ràng sẽ không tồi, nhưng câu trả đó sẽ hoặc không chính xác hoặc không còn thú vị nữa. Sự đan xen giữa tính tiếp nối và sự thay đổi đặc trưng của thế giới ngày nay khiến chúng ta khó có thể đưa ra một cách giải thích toàn diện mà đơn giản.

Sự vận hành của nền chính trị quốc không phải là những chuyển động vật lý cứng nhắc mà phụ thuộc vào hành vi ứng xử luôn thay đổi của con người, thế nên nó không có những học thuyết chính xác tuyệt đối. Hơn nữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do không phải là những cách tiếp cận duy nhất đối với chính trị quốc tế. Trong phần lớn thế kỷ qua, chủ nghĩa Marx với các dự đoán về xung đột giai cấp và chiến tranh gây nên bởi các vấn đề giữa các nước tư bản chủ nghĩa với nhau đã từng thuyết phục được rất nhiều người. Tuy nhiên, ngay cả trước khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991, chủ nghĩa Marx đã tụt lại phía sau trong cuộc đua với các học thuyết khác khi không thể lý giải vì sao các quốc gia tư bản chủ chốt lại chung sống hoà bình trong khi lại nổ ra chiến tranh giữa các nước cộng sản với nhau. Vào khoảng những năm 60 và 70 của thế kỷ 20, thuyết phụ thuộc trở nên phổ biến. Thuyết này dự đoán rằng những quốc gia giàu có ở “vùng lõi” của thị trường toàn cầu sẽ kiểm soát và kìm hãm sự phát triển của các quốc gia nghèo hơn nằm ở vùng “ngoại vi”. Dù giúp làm sáng tỏ một vài nguyên nhân về cấu trúc của tình trạng bất bình đẳng kinh tế nhưng thuyết phụ thuộc lại gặp thất bại và mất uy tín khi không thể giải thích được tại sao trong những thập kỷ 1980 và 1990 tiếp theo, các nước ngoại vi ở khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Singapore, Malaysia lại phát triển nhanh hơn nhiều so với các nước ở vùng lõi như Mỹ và Châu Âu. Sự thất bại của học thuyết này còn trở nên rõ ràng hơn khi Fernando Herique Cardoso, một học giả hàng đầu ủng hộ học thuyết này trong những năm 1970, cũng đã áp dụng các chính sách của chủ nghĩa tự do nhằm gia tăng phụ thuộc vào thị trường toàn cầu sau khi ông đắc cử tổng thống Brazil trong những năm 1990.

Vào thập niên 1980 các nhà phân tích của cả hai trường phái hiện thực và tự do đều nỗ lực tìm kiếm các học thuyết mang tính diễn dịch tương tự như các học thuyết của kinh tế vi mô. Trường phái tân hiện thực với đại diện tiêu biểu là Kenneth Waltz và trường phái tân tự do với đại diện là Robert Keohane đã phát triển các mô hình nhà nước dựa trên cấu trúc với vai trò là những chủ thể duy lý bị hệ thống quốc tế chi phối. Các nhà tân hiện thực và tân tự do giúp các học thuyết trở nên đơn giản và dễ hiểu hơn, nhưng lại đánh mất hầu hết tính chất phức tạp phong phú của thuyết hiện thực và tự do cổ điển. “Tới cuối thập niên 1980, các tranh luận về lý thuyết quan hệ quốc tế đã bị co lại thành những tranh cãi tương đối hẹp trong phạm vi liên quan tới mô hình quan hệ quốc tế lấy các quốc gia duy lý làm trung tâm.”[4]

Gần đây hơn, một nhóm các nhà nghiên cứu đa dạng theo đuổi một học thuyết có tên gọi chủ nghĩa kiến tạo đã lập luận rằng chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do đều không thể giải thích một cách đầy đủ những thay đổi trong dài hạn của chính trị thế giới. Trường phái kiến tạo nhấn mạnh tầm quan trọng của các ý tưởng và văn hoá trong việc hình thành thực trạng cũng như cuộc tranh luận về chính trị quốc tế. Họ nhấn mạnh rằng lợi ích luôn mang tính chủ quan và có mối liên hệ với các bản sắc luôn thay đổi. Mặc dù trường phái kiến tạo cũng chia thành nhiều quan điểm nhưng nhìn chung họ đều đồng tình rằng hai lý thuyết chính (hiện thực và tự do) đều không thể phác thảo bức tranh trung thực của thế giới và cho rằng chúng ta không chỉ cần biết được mọi thứ như thế nào mà còn cần hiểu được làm thế nào mà chúng lại trở nên như vậy. Các nhà nghiên cứu theo trường phái kiến tạo tập trung nghiên cứu các vấn đề quan trọng về bản sắc, các chuẩn tắc, văn hoá, lợi ích quốc gia và quản trị toàn cầu.[5] Họ tin rằng lợi ích vật chất không phải là động lực duy nhất thúc đẩy hành vi của các nhà lãnh đạo và con người nói chung mà hành vi của con người còn bị chi phối bởi nhận thức về bản sắc, đạo đức và những gì một xã hội hay nền văn hoá cho là phù hợp. Và những chuẩn tắc này thay đổi theo thời gian.

Các nhà nghiên cứu thuộc trường phái tân hiện thực và tân tự do đã bỏ qua chi tiết là các quốc gia thay đổi mục tiêu của mình theo thời gian. Trường phái kiến tạo dựa vào những lĩnh vực và ngành học khác nhau để nghiên cứu quá trình các nhà lãnh đạo, người dân và các nền văn hoá khác nhau thay đổi các ưu tiên, định hình bản sắc và tiếp thu các hành vi mới ra sao. Chẳng hạn như chế độ nô lệ vào thế kỷ 19 và chính sách phân biệt chủng tộc ở Nam Phi đều từng được hầu hết các quốc gia chấp nhận, nhưng sau đó chúng lại bị kịch liệt phản đối. Câu hỏi mà các nhà kiến tạo đặt ra là: vì sao thay đổi? Các ý tưởng có vai trò gì? Liệu một ngày nào đó trong tương lai hành vi chiến tranh có bị thay đổi như vậy hay không? Còn khái niệm chủ quyền quốc gia-dân tộc sẽ ra sao? Thế giới tồn tại rất nhiều thực thể chính trị chẳng hạn như các bộ lạc, các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ. Quốc gia có chủ quyền mới trở thành khái niệm phổ biến trong một vài thế kỷ gần đây. Trường phái kiến tạo cho rằng các khái niệm như quốc gia và chủ quyền có ý nghĩa trong các học thuyết và cuộc sống chúng ta chỉ là những khái niệm được kiến tạo qua tương tác xã hội chứ không phải là các thực tế sẵn có và tồn tại vĩnh viễn. Những người theo trường phái kiến tạo vị nữ lại cho rằng giới tính ảnh hưởng mạnh đến ngôn ngữ và hình ảnh của chiến tranh trong vai trò là công cụ chủ chốt của nền chính trị thế giới.

Chúng ta nên xem chủ nghĩa kiến tạo là một cách tiếp cận hơn là một học thuyết. Cách tiếp cận này mang lại những phê bình hữu ích cũng như những bổ sung quan trọng đối với hai học thuyết chính là chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa tự do. Mặc dù đôi khi có kết cấu lỏng lẻo và thiếu khả năng dự báo nhưng cách tiếp cận của chủ nghĩa kiến tạo lại giúp ta nhớ đến những yếu tố mà hai học thuyết chính thường bỏ qua. Như chúng ta sẽ thấy trong các chương kế tiếp, một điều quan trọng là cần xem xét không chỉ tính duy lý trong việc theo đuổi các mục tiêu hiện tại mà còn phải tìm hiểu cách các thay đổi về bản sắc và lợi ích có thể dẫn đến những biến chuyển khó nhận biết trong chính sách quốc gia và đôi khi cả thay đổi sâu sắc trong các vấn đề quốc tế như thế nào. Trường phái kiến tạo giúp chúng ta tìm hiểu những ưu tiên được định hình như thế nào, kiến thức và hiểu biết hình thành ra sao trước khi tiến hành các lựa chọn duy lý. Theo nghĩa đó, chủ nghĩa kiến tạo bổ sung cho hai trường phái trên hơn là phản bác chúng. Chúng ta sẽ làm sáng tỏ những vấn đề liên quan đến việc thấu hiểu các thay đổi mang tính dài hạn trong chương sau đồng thời sẽ quay lại vấn đề này ở chương cuối.

Trong khoảng thời gian ở Washington giúp hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ trong vai trò trợ lý bộ trưởng ở Bộ Ngoại giao và Lầu Năm Góc, tôi nhận thấy rằng bản thân mình cùng chịu ảnh hưởng từ cả ba dòng tư tưởng: chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa kiến tạo. Tôi thấy chúng đều rất hữu ích, dù theo các cách khác nhau và còn tùy thuộc vào từng trường hợp. Đôi khi những người sống thực tế sẽ tự hỏi là tại sao chúng ta phải bận tâm về các học thuyết này làm gì? Câu trả lời là: lý thuyết như tấm bản đồ chỉ dẫn giúp chúng ta tìm đường ở những nơi xa lạ. Chúng ta sẽ bị lạc nếu không có chúng. Thậm chí khi chúng ta cho rằng chúng ta chỉ đang hành động theo tư duy thông thường thì thực tế vẫn có một lý thuyết nào đó đang âm thầm định hướng cho hành vi của chúng ta. Thường thì chúng ta không biết hay nhanh chóng quên mất đó là lý thuyết gì mà thôi. Nếu hiểu biết đầy đủ về các lý thuyết đang định hướng cho chúng ta thì chúng ta sẽ hiểu rõ hơn được ưu khuyết điểm của chúng và thời điểm tốt nhất để vận dụng chúng. Giống như nhà kinh tế học người Anh John Maynard Keynes từng nói những người thực tế vốn hay tự cho mình là sống không cần các lý thuyết thì thực ra lại thường hành động theo lời của một ai đó trong quá khứ mà họ không còn nhớ tên.[6]

Các nhân tố cấu thành quan hệ quốc tế

Các chủ thể, mục tiêu và công cụ là ba khái niệm cơ bản trong lí thuyết về chính trị quốc tế, nhưng cả ba khái niệm này cũng đang thay đổi. Theo quan điểm truyền thống của chủ nghĩa hiện thực, “chủ thể” quan trọng duy nhất chính là các quốc gia và chỉ có những quốc gia lớn mới thực sự đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, điều này đang thay đổi. Số lượng các quốc gia đã tăng mạnh trong nửa thế kỷ qua: Năm 1945 chỉ có khoảng 50 quốc gia trên thế giới; nhưng đến đầu thế kỷ 21, con số này đã gấp bốn lần và sẽ còn những quốc gia mới tiếp tục ra đời. Điều quan trọng hơn cả số lượng các quốc gia chính là sự gia tăng của các chủ thể phi quốc gia. Ngày nay các công ty đa quốc gia hoạt động xuyên các biên giới lãnh thổ và đôi khi kiểm soát các nguồn lực kinh tế thậm chí còn lớn hơn sức mạnh kinh tế của rất nhiều quốc gia (Xem Bảng 1.1). Ít nhất 12 công ty xuyên quốc gia có doanh thu hàng năm lớn hơn tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của quá nửa số các quốc gia trên thế giới.[7] Doanh số của của một tập đoàn như IBM, Shell hoặc Walmart còn lớn hơn GDP của các nước như Hungary, Ecuador và Senegal. Dù các công ty đa quốc gia này không có những dạng sức mạnh như sức mạnh quân sự, nhưng chúng lại có ảnh hưởng to lớn đối với mục tiêu kinh tế của các quốc gia. Xét về mặt kinh tế, đối với Bỉ, IBM còn quan trọng hơn nhiều so với Burundi – một thuộc địa cũ của Bỉ.

BẢNG 1.1 Doanh thu năm 2004 của một số công ty đa quốc gia (tính bằng đô la Mỹ)

Wal-Mart (Mỹ)288 tỉ
Royal Dutch Shell (Anh/ Hà Lan)269 tỉ
General Motors (Mỹ)194 tỉ
DaimlerChrysler (Đức/ Mỹ)177 tỉ
Toyota (Nhật)173 tỉ
General Electric (Mỹ)153 tỉ
Total (Pháp)153 tỉ
IBM (Mỹ)96 tỉ
Siemens (Đức)92 tỉ
Nestlé (Thụy Sĩ)70 tỉ
Sony (Nhật)67 tỉ

Nguồn: “The Fortune Global 500,” Fortune.

Thật không thể tưởng tượng được bức tranh Trung Đông nếu không có các quốc gia gây chiến với nhau cũng như sự tham gia của các cường quốc bên ngoài; nhưng cũng sẽ là một thiếu sót lớn nếu hình ảnh của Trung Đông thiếu vắng các chủ thể phi quốc gia. Các tập đoàn dầu lửa đa quốc gia lớn như Shell, British Petroleum và Exxon Mobil là một dạng chủ thể phi quốc gia. Ngoài ra còn có những chủ thể phi quốc gia khác. Đó là những tổ chức liên chính phủ lớn như Liên Hợp Quốc, hay các tổ chức nhỏ hơn như Liên đoàn Ảrập hay Tổ chức các Quốc gia Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC). Ngoài ra còn có các tổ chức phi chính phủ (NGOs) như Hội Chữ thập Đỏ (Red Cross) và Tổ chức Ân xá Quốc tế (Amnesty International). Bên cạnh đó còn có sự hiện diện của một loạt các nhóm sắc tộc đa quốc gia như người Kurd sống ở Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Iran và Iraq hay người Armenia sống rải rác ở Trung Đông và vùng Cápcadơ. Các nhóm khủng bố, các tập đoàn ma túy và băng nhóm mafia hoạt động xuyên biên giới các quốc gia và thường có tài sản ở nhiều nước khác nhau. Các phong trào tôn giáo, đặc biệt các phong trào Hồi giáo mang màu sắc chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi cũng kéo dài thêm danh sách các nhân tố có thể được coi là các chủ thể phi quốc gia.

Vấn đề đặt ra không phải là quốc gia hay các chủ thể phi quốc gia quan trọng hơn – vì thường thì câu trả lời vẫn là các quốc gia – mà vấn đề ở đây là một tập hợp phức tạp mới gồm các chủ thể quốc gia lẫn phi quốc gia như vậy sẽ ảnh hưởng thế nào đến chính trị của một khu vực theo những chiều hướng mà các quan điểm hiện thực truyền thống chưa thể lường hết được. Quốc gia là chủ thể chính trên sân khấu chính trị thế giới hiện đại, nhưng chính họ cũng không có sân khấu của riêng mình.

Vậy còn các mục tiêu thì sao? Theo truyền thống, mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trong hệ thống vô chính phủ là an ninh quân sự. Ngày nay, rõ ràng các quốc gia vẫn quan tâm rất nhiều đến an ninh quân sự, song họ cũng quan tâm không kém đến sự thịnh vượng về kinh tế (Xem Bảng 1.2) và cả các vấn đề xã hội như ngăn chặn nạn buôn lậu ma túy hay sự lây lan của đại dịch AIDS, cũng như các biến đổi về môi trường sinh thái. Hơn nữa, khi các mối đe dọa thay đổi, định nghĩa về an ninh cũng thay đổi. Quốc gia không còn theo đuổi duy nhất một mục tiêu là an ninh quân sự. Khi xem xét mối quan hệ giữa Mỹ và Canađa, nguy cơ chiến tranh giữa hai nước là hầu như không còn, và một nhà ngoại giao Canađa từng phát biểu rằng ông không sợ một ngày nào đó Mỹ sẽ đổ quân sang Canađa chiếm giữ Toronto như Mỹ đã làm năm 1813 mà lo ngại rằng Toronto sẽ bị rối tung bởi một chương trình máy tính được điều khiển từ Texas – một tình huống lưỡng nan về an ninh khác so với tình huống truyền thống mà các quốc gia phải đối mặt trong hệ thống vô chính phủ. Sức mạnh kinh tế không thể thay thế được an ninh chính trị (như Kuwait đã nhận ra khi bị Iraq xâm lược vào tháng 8/1990), nhưng chương trình nghị sự của nền chính trị quốc tế ngày càng trở nên phức tạp hơn vì các quốc gia theo đuổi đồng thời nhiều mục tiêu hơn. Chẳng hạn như ngày nay các vấn đề nhân đạo và nhân quyền trở nên quan trọng hơn, và một số nhà phân tích thích đề cập đến an ninh của từng cá nhân con người hơn so với an ninh của các quốc gia.

BẢNG 1.2 Ước tính GDP năm 2002 của một số quốc gia

(tính bằng đô la Mỹ theo sức mua ngang giá)

Mỹ11.800 tỉ
Trung Quốc7.300 tỉ
Nhật Bản3.800 tỉ
Ấn Độ3.300 tỉ
Đức2.400 tỉ
Brazil1.500 tỉ
Nga1.400 tỉ
Indonesia828 tỉ
Nam Phi491 tỉ
Achentina484 tỉ
Ảrập Xêut310 tỉ
Việt Nam227 tỉ
Guatemala60 tỉ
Iraq54 tỉ
Anbani17 tỉ
Jamaica11 tỉ
Eritrea4 tỉ

Nguồn: CIA World Factbook, 2005

Cùng với các mục tiêu, các công cụ của nền chính trị thế giới cũng đang thay đổi. Quan điểm của trường phái hiện thực cho rằng sức mạnh quân sự chính là công cụ duy nhất và quan trọng nhất. Nhà sử học người Anh A.J.P. Taylor khi mô tả thế giới thời kỳ trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã định nghĩa “cường quốc lớn” là quốc gia có thể chiếm thế thượng phong trong một cuộc chiến tranh. Rõ ràng ngày nay các quốc gia vẫn tiếp tục sử dụng sức mạnh quân sự, song nửa thế kỷ qua cho thấy vai trò của quân sự đã có sự thay đổi. Rất nhiều quốc gia, nhất là các quốc gia lớn, nhận ra rằng sử dụng lực lượng quân sự để đạt được mục tiêu đã trở nên tốn kém hơn rất nhiều so với trước kia. Như giáo sư Stanley Hoffman của Đại học Harvard đã mô tả, mối liên hệ giữa sức mạnh quân sự và những thành công của một quốc gia đã trở nên không còn rõ ràng như trước kia.

Đâu là lý do cho sự thay đổi trên? Thứ nhất, vũ khí nguyên tử – phương tiện tối thượng của sức mạnh quân sự – đã trở nên quá đỗi khủng khiếp. Mặc dù con số vũ khí nguyên tử lên hơn 50.000 nhưng chúng vẫn chưa bao giờ được sử dụng trong các cuộc chiến kể từ năm 1945 đến nay. Cái giá phải trả cho sự tàn phá do vũ khí nguyên tử gây nên quá chênh lệch so với bất cứ mục tiêu chính trị hợp lý nào khiến việc các nhà lãnh đạo không dám sử dụng chúng trở nên không có gì khó hiểu. Nói cách khác, thứ sức mạnh quân sự tối thượng đó trên thực tế là quá đắt đỏ khiến các nhà lãnh đạo không dám sử dụng chúng trong các cuộc chiến.

Ngay cả việc sử dụng vũ khí thông thường để cai trị những người dân sôi sục chủ nghĩa dân tộc cũng trở nên tốn kém hơn trước rất nhiều. Trong thế kỷ 19 các quốc gia Châu Âu chinh phục những vùng đất khác trên thế giới bằng những đội quân được trang bị vũ khí hiện đại và cai quản những vùng đất thuộc địa đó bằng những trại lính khá khiêm tốn. Nhưng trong kỷ nguyên có sự vận động xã hội liên tục của người dân, rất khó để cai trị một đất nước bị chiếm đóng nơi mà cộng đồng người dân ý thức rất rõ về bản sắc dân tộc của họ. Người Mỹ đã thấm thía điều đó trong cuộc chiến tranh Việt Nam những năm 1960 và 1970; và người Liên Xô cũng đã trải nghiệm bài học tương tự trong chiến tranh Afghanistan những năm 1980. Việt Nam và Afghanistan không thể cạnh tranh sức mạnh với các cường quốc hạt nhân, song Mỹ và Liên Xô đều đã phải tốn những chi phí khổng lồ khi cố gắng cai trị những người dân với tinh thần dân tộc mạnh mẽ ở đó. Chủ nghĩa dân tộc khiến cho sự cai trị của ngoại bang trở nên quá tốn kém và đắt đỏ.

Thay đổi thứ ba về vai trò của lực lượng quân sự liên quan đến những ràng buộc từ trong nước. Ý thức chống chủ nghĩa quân phiệt dần phát triển nhất là trong lòng các nước dân chủ. Điều này không hoàn toàn ngăn cản việc sử dụng vũ lực nhưng khiến sử dụng vũ lực trở thành một lựa chọn mạo hiểm về chính trị đối với các nhà lãnh đạo, đặc biệt là khi sử dụng với quy mô lớn và trong thời gian dài. Có ý kiến cho rằng người dân sống trong các nền dân chủ sẽ không chấp nhận thương vong do chiến tranh gây ra nhưng mọi việc không đơn giản như vậy. Ví dụ, Mỹ dự kiến chấp nhận đến 10.000 trường hợp thương vong khi lên kế hoạch tham gia vào cuộc chiến tranh vùng Vịnh năm 1990, nhưng không chịu chấp nhận thương vong ở Somaliaa và Kosovo, những nơi không liên quan nhiều đến lợi ích quốc gia của họ. Đồng thời nếu việc sử dụng vũ lực bị các nước khác coi là bất hợp pháp và phi lý thì điều này có thể khiến các nhà lãnh đạo trong các xã hội dân chủ phải trả giá đắt. Vũ lực không phải không còn chỗ đứng, và các nhóm khủng bố phi quốc gia không bị vấn đề đạo đức ràng buộc như các quốc gia, nhưng ngày nay đối với hầu hết các quốc gia việc sử dụng vũ lực đã trở nên tốn kém hơn nhiều so với trước đây.

Nguyên nhân cuối cùng cho sự thay đổi vai trò của vũ lực là hàng loạt các vấn đề phát sinh ngày nay không chỉ đơn giản dựa vào các biện pháp vũ lực là giải quyết được. Như trường hợp quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Nhật Bản là một ví dụ. Năm 1853, tàu Commodore Perry của Mỹ đi vào một hải cảng của Nhật và đe doạ sẽ oanh tạc nếu Nhật không mở cửa các cảng cho tàu vào giao thương. Đây không phải là một giải pháp hữu ích và có thể chấp nhận được về mặt chính trị đối với các tranh chấp thương mại hiện tại giữa Nhật và Mỹ. Vì thế, dẫu vẫn là một công cụ quan trọng trong quan hệ quốc tế song vũ lực không phải là công cụ duy nhất. Việc sử dụng các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, truyền thông, các thể chế quốc tế và các chủ thể xuyên quốc gia đôi khi lại đóng vai trò quan trọng hơn so với vũ lực. Vũ lực chưa phải là một công cụ lỗi thời, như chúng ta đã thấy trong cuộc chiến ở Afghanistan, nơi chính quyền Taliban đã dung dưỡng mạng lưới khủng bố tiến hành các cuộc tấn công ngày 11/9/2001 ở Mỹ; hay việc Mỹ và Anh dùng biện pháp quân sự để lật đổ chính quyền Saddam Hussein năm 2003. Thế nhưng vũ lực chỉ giúp chiến thắng chiến tranh chứ chẳng thể đem lại hoà bình cho Iraq, và sức mạnh quân sự cũng không phải là cách duy nhất đủ để chống lại chủ nghĩa khủng bố. Dù vũ lực vẫn là công cụ tối thượng trong chính trị quốc tế nhưng ngày nay các thay đổi về chi phí và tính hiệu quả của việc sử dụng vũ lực khiến cho nền chính trị quốc tế ngày nay càng trở nên phức tạp hơn.

Tuy nhiên, trò chơi cơ bản về an ninh vẫn tiếp diễn. Một số nhà khoa học chính trị lập luận rằng cân bằng quyền lực thường sẽ do một quốc gia bá quyền hay dẫn đầu quyết định, như Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, Pháp dười thời vua Louis XIV, Anh trong phần lớn thế kỷ 19 và Mỹ trong thế kỷ 20. Kết cục thì quốc gia dẫn đầu sẽ bị thách thức và chính thách thức này sẽ dẫn đến những xung đột lớn mà chúng ta gọi là chiến tranh thế giới hay chiến tranh bá quyền. Sau mỗi cuộc chiến tranh thế giới ấy sẽ có một hiệp ước ra đời và đánh dấu một trật tự mới: Hiệp ước Utrecht năm 1713, Hiệp ước Viên năm 1815 hay hệ thống Liên Hiệp Quốc sau năm 1945. Nếu không có một quy luật cơ bản nào của nền chính trị quốc tế thay đổi kể từ cuộc chiến giành ngôi vị bá chủ giữa Athens và Sparta thì liệu một thách thức mới có dẫn đến một cuộc chiến tranh thế giới khác không, hay vòng tuần hoàn của chiến tranh bá quyền đã chấm dứt? Liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có phải là một thách thức đối với Mỹ? Hay công nghệ nguyên tử đã khiến sự tàn phá của các cuộc thế chiến trở nên quá khủng khiếp? Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế có làm cho chiến tranh trở nên quá tốn kém hay không? Liệu những chủ thể phi quốc gia như các tổ chức khủng bố có buộc chính quyền các nước phải hợp tác với nhau? Một xã hội toàn cầu có khiến chiến tranh trở thành điều không thể chấp nhận về mặt xã hội và đạo đức hay không? Chúng ta phải hy vọng như vậy vì cuộc chiến tranh bá quyền tiếp theo nếu có xảy ra thì đó có lẽ sẽ là cuộc chiến đánh dấu chấm hết cho cả nhân loại. Nhưng trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu tại sao chiến tranh vẫn còn tồn tại và tiếp diễn.

CUỘC CHIẾN TRANH PELOPONNESE

VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC VÀ CHÍNH TRỊ QUỐC TẾ

Download toàn bộ văn bản tại đây: Logic xung dot trong chinh tri quoc te.pdf


[1] Peter Wallensteen và Margareta Sollenberg, “Arm Conflict, 1989-2000,” Báo cáo số 60 trong Margareta Sollenberf (biên tập), States in Armed Conflict 2000 (Uppsala, Thụy Điển: Đại học Uppsala, Khoa Nghiên cứu Hòa bình và Xung đột, 2001), trang 10.

[2] Thomas Hobbes, Leviathan, biên tập C. B. MacPherson (Luân Đôn: Penguin, 1981), trang 186.

[3] The New York World, “From Our Dec. 13 Pages, 75 Years Ago,” International Herald Trinune, 13/12/1985.

[4] Miles Kahler, “Inventing International Relations: International Relations Theory After 1945,” trong Michael W. Doyle và G. John Ikenberry, biên tập, New Thinking in International Relations Theory (Boulder, CO: Westview, 1977), trang 38.

[5] Emanuel Adler, “Constructivism in International Relations: Sources, Contributions, Debates and Future Directions,” trong Walter Carlsnaes, Thomas Risse và Beth Simmons, biên tập, Handbook of International Relations (Thousand Oaks, CA: Sage, 2003).

[6] John Maynard Keynes, The General Theory of Employment, Interest and Money (Luân Đôn: Macmillan, 1936), trang 383.

[7] Doanh số và GNP là những chỉ số đo khác nhau, và điều này phần nào phóng đại vai trò của các công ty đa quốc gia. Mặc dù vậy sự so sánh này vẫn rất thú vị.

Nguyên bản tiếng Anh

Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

source:Pearsonhighered.com

Marble relief commemorating Athenians who died in the Peloponnesian War

The world is shrinking. The Mayflower took three months to cross the Atlantic. In 1924, Charles Lindbergh’s flight took 33 hours. Fifty years later, the Concorde did it in three hours. Ballistic missiles can do it in 30 minutes. At the beginning of the twenty-first century, a transatlantic flight cost one-third of what it did in 1950, and a call from New York to London cost only a small percentage of what it did at midcen- tury. Global Internet communications are nearly instantaneous and transmission costs are negligible. An environmentalist in Asia or a human rights activist in Africa today has a power of communication once enjoyed only by large organizations such as governments or transnational corporations. On a more somber note, nuclear weapons have added a new dimension to war that one writer calls “double death,” meaning

page1image16728

1

Chapter 1

Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

that not only could individuals die, but under some circumstances the whole human species could be threatened. And as the September 11 terrorist attacks on New York and Washington in 2001 (9/11) illustrated, technology is putting into the hands of nonstate actors destructive powers that once were reserved solely for governments. As the effects of distance shrink, conditions in remote, poor countries such as Afghanistan suddenly become highly relevant to America and Europe.

Yet some other things about international politics have remained the same over the ages. Thucydides’ account of Sparta and Athens fighting the Peloponnesian War 2,500 years ago reveals eerie resemblances to the Arab-Israeli conflict after 1947. The world today is a strange cocktail of continuity and change. Some aspects of international politics have not changed since Thucydides; there is a certain logic of hostility, a dilemma about security that goes with interstate politics. Alliances, balances of power, and choices in policy between war and compromise have remained similar over the millennia.

On the other hand, Thucydides never had to worry about nuclear weapons, HIV/AIDS, or global warming. The task for international relations students is to build on the past but not be trapped by it—to understand the continuities as well as the changes. We must learn the traditional theories and then adapt them to current circumstances. The early chapters of this book will provide you with a historical and theoretical context in which to place the phenomena of the information revolution, globalization, interdependence, and transnational actors that are discussed in the later chapters. I found in my experience in government that I could ignore neither the age-old nor the brand-new dimensions of world politics.

International politics would be transformed if separate states were abolished, but world government is not around the corner. And while nonstate actors such as transna- tional corporations, nongovernmental organizations, and terrorist groups present new challenges to governments, they do not replace states. The peoples who live in the nearly 200 states on this globe want their independence, separate cultures, and different languages. In fact, rather than vanishing, nationalism and the demand for separate states have increased. Rather than fewer states, this century will probably see more. World government would not automatically solve the problem of war. Most wars today are civil or ethnic wars. In the two decades since the fall of the Berlin Wall in November 1989, 220 armed conflicts have occurred in 75 different locations around the world. Nine were interstate wars, and 24 were intrastate wars with foreign inter- vention.1 In fact, the bloodiest wars of the nineteenth century were not among the quarreling states of Europe but the Taiping Rebellion in China and the American Civil War. We will continue to live in a world of rival communities and separate states for quite some time, and it is important to understand what that means for our prospects.

WHAT IS INTERNATIONAL POLITICS?

The world has not always been divided into a system of separate states. Over the centuries there have been three basic forms of world politics. In a world imperial sys- tem, one government controls most of the world with which it has contact. The

greatest example in the Western world was the Roman Empire. Spain in the six- teenth century and France in the late seventeenth century tried to gain similar supremacy, but they failed. In the nineteenth century, the British Empire spanned the globe, but even the British had to share the world with other strong states. Ancient world empires—the Roman, Sumerian, Persian, and Chinese—were actu- ally regional empires. They thought they ruled the world, but they were protected from conflict with other empires by lack of communication. Their fights with bar- barians on the peripheries of their empires were not the same as wars among roughly equal states.

A second basic form of international politics is a feudal system, in which human loyalties and political obligations are not fixed primarily by territorial boundaries. Feudalism was common in Europe after the collapse of the Roman Empire. An individual had obligations to a local lord, but might also owe duties to some distant noble or bishop, as well as to the pope in Rome. Political obligations were determined to a large extent by what happened to one’s superiors. If a ruler married, an area and its people might find their obligations rearranged as part of a wedding dowry. Townspeople born French might suddenly find themselves made Flemish or even English. Cities and leagues of cities sometimes had a special semi- independent status. The crazy quilt of wars that accompanied the feudal situation did not much resemble modern territorial wars. These wars could occur within as well as across territories and were shaped by crosscutting, nonterritorial loyalties and conflicts.

A third form of world politics is an anarchic system of states, composed of states that are relatively cohesive but with no higher government above them. Examples include the city-states of ancient Greece or Machiavelli’s fifteenth-century Italy. Another example of an anarchic state system is the dynastic territorial state whose coherence comes from control by a ruling family. Examples can be found in India or China in the fifth century BCE. Large territorial dynasties reemerged in Europe about 1500, and other forms of international polities such as city-states or loose leagues of territories began to vanish. In 1648, the Peace of Westphalia ended Europe’s Thirty Years’ War, sometimes called the last of the great wars of religion and the first of the wars of modern states. In retrospect, the Peace of Westphalia enshrined the territorial sovereign state as the dominant political unit.

Thus today when we speak of international politics, we usually mean this terri- torial system of sovereign states (or simply the “Westphalian system” for short), and we define international politics as politics in the absence of a common sovereign, pol- itics among entities with no ruler above them. International politics is a self-help system. Thomas Hobbes, the seventeenth-century English philosopher, called such an anarchic system a “state of nature.” For some, the words state of nature may con- jure up images of a herd of cows grazing peacefully on a farm, but that is not what Hobbes meant. Think of a Texas town without a sheriff in the days of the Old West, or Lebanon after its government broke down in the 1970s, or Somalia in the 1990s. Hobbes did not think of a state of nature as benign; he saw it as a war of all against all, because there was no higher ruler to enforce order. As Hobbes famously declared, life in such a world would be nasty, brutish, and short.

What Is International Politics? 3

Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

Because there is no higher authority above states, there are important legal, political, and social differences between domestic and international politics. Domestic law is relatively clear and consistent and is generally obeyed. If not, the police and courts enforce it. By contrast, international law is patchy, incomplete, and rests on sometimes vague foundations. There is no common enforcement mech- anism. The world lacks a global police force, and while there are international courts, they can do little when sovereign states choose to ignore them.

Force plays a different role in domestic and international politics as well. In a well-ordered domestic political system, the government has a monopoly on the legitimate use of force. In international politics, no one has such a monopoly. Because international politics is the realm of self-help, and some states are stronger than others, there is always a danger that they may resort to force. When force cannot be ruled out, the result is mistrust and suspicion.

Domestic and international politics also differ in their underlying sense of com- munity. In a well-ordered domestic society, a widespread sense of community gives rise to common loyalties, standards of justice, and views of legitimate authority. On a global scale, people have competing loyalties. Any sense of global community is weak. People often disagree about what is just and legitimate. The result is a great gap between two basic political values: order and justice. In such a world, most peo- ple place national concerns before international justice. Law and ethics play a role in international politics, but in the absence of a sense of community norms, they are weaker forces than in domestic politics.

Of the three basic systems— world imperial, feudal, and anarchic system of states— some people speculate that the twenty-first century may see the gradual evolution of a new feudalism, or less plausibly, an American world empire. We will look at those questions in the final chapter.

Differing Views of Anarchic Politics

International politics is anarchic in the sense that there is no government above sov- ereign states. But political philosophy offers different views of how harsh a state of nature need be. Hobbes, who wrote in a seventeenth-century England wracked by civil war, emphasized insecurity, force, and survival. He described humanity as being in a constant state of war. A half century later, John Locke, writing in a more stable England, argued that although a state of nature lacked a common sovereign, people could develop ties and make contracts, and therefore anarchy was less of an obstacle to peace. Those two views of a state of nature are the philosophical precursors of two cur- rent views of international politics, one more pessimistic and one more optimistic: therealist and liberal approaches to international politics.

Realism has been the dominant tradition in thinking about international poli- tics for centuries. For the realist, the central problem of international politics is war and the use of force, and the central actors are states. Among modern Americans, realism is exemplified by the writings and policies of President Richard Nixon and his secretary of state, Henry Kissinger. The realist starts from the assumption of the anarchic system of states. Kissinger and Nixon, for example, sought to maximize the

power of the United States and to minimize the ability of other states to jeopardize U.S. security. According to the realist, the beginning and the end of international politics is the individual state in interaction with other states.

The other tradition, liberalism, can be traced back in Western political philoso- phy to Baron de Montesquieu and Immanuel Kant in eighteenth-century France and Germany respectively, and such nineteenth-century British philosophers as Jeremy Bentham and John Stuart Mill. A modern American example can be found in the writings and policies of political scientist and president, Woodrow Wilson.

Liberals see a global society that functions alongside states and sets an impor- tant part of the context for state action. Trade crosses borders, people have contacts with each other (such as students studying in foreign countries), and international institutions such as the United Nations mitigate some of the harsher aspects of anar- chy. Liberals complain that realists portray states as billiard balls careening off one another in an attempt to balance power. They claim that this explanation is not adequate, as people do have contacts across borders and because there is an interna- tional society. Realists, claim liberals, overstate the difference between domestic and international politics. Because the realist picture of anarchy as a Hobbesian “state of war” focuses only on extreme situations, in the liberals’ view it misses the growth of economic interdependence and the evolution of a transnational global society.

Realists respond by quoting Hobbes: “Just as stormy weather does not mean per- petual rain, so a state of war does not mean constant war.”2 Just as Londoners carry umbrellas on sunny April days, the prospect of war in an anarchic system makes states keep armies even in times of peace. Realists point to previous liberal predic- tions that went awry. For example, in 1910 the president of Stanford University said future war was no longer possible because it was too costly. Liberal writers pro- claimed war obsolete; civilization had grown out of it, they argued. Economic inter- dependence, ties between labor unions and intellectuals, and the flow of capital all made war impossible. Of course, these predictions failed catastrophically when World War I broke out in 1914, and the realists were vindicated.

Neither history nor the argument between the realists and liberals stopped in 1914. The 1970s saw a resurgence of liberal claims that rising economic and social interdependence was changing the nature of international politics. In the 1980s, Richard Rosecrance wrote that states can increase their power in two ways, either aggressively by territorial conquest or peacefully through trade. He used the experi- ence of Japan as an example: In the 1930s, Japan tried territorial conquest and suf- fered the disaster of World War II. But since then, Japan has used trade and invest- ment to become the second largest economy in the world (measured by official exchange rates) and a significant power in East Asia. Japan succeeded while spend- ing far less, proportionately to the size of either its population or its economy, than other major powers. Thus Rosecrance and modern liberals argue that the nature of international politics is changing.

Some new liberals look even further to the future and believe that dramatic growth in ecological interdependence will so blur the differences between domestic and international politics that humanity will evolve toward a world without borders. For example, everyone will be affected without regard to boundaries if carbon dioxide

What Is International Politics? 5

Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

1910: THE “UNSEEN VAMPIRE” OF WAR

If there were no other reason for making an end of war, the financial ruin it involves must sooner or later bring the civilized nations of the world to their senses. As President David Starr Jordan of Leland Stanford University said at Tufts College, “Future war is impossible because the nations cannot afford it.” In Europe, he says, the war debt is $26 billion, “all owed to the unseen vampire, and which the nations will never pay and which taxes poor people $95 million a year.” The burdens of militarism in time of peace are exhausting the strength of the leading nations, already overloaded with debts. The certain result of a great war would be overwhelming bankruptcy.

—The New York World3

accumulation warms the planet. Problems such as HIV/AIDS and drugs cross borders with such ease that we may be on our way to a different world. Professor Richard Falk of Princeton argues that transnational problems and values will alter the state-centric orientation of the international system that has dominated for the last 400 years. Transnational forces are undoing the Peace of Westphalia, and humanity is evolving toward a new form of international politics.

In 1990, realists replied, “Tell that to Saddam Hussein!” Iraq showed that force and war are ever-present dangers when it invaded its small neighbor Kuwait. Liberals responded by arguing that politics in the Middle East is the exception. Over time, they said, the world is moving beyond the anarchy of the sovereign state system. These divergent views on the nature of international politics and how it is changing will not soon be reconciled. Realists stress continuity; liberals stress change. Both claim to be more “realistic.” Liberals tend to see realists as cynics whose fascination with the past blinds them to change. Realists, in turn, think liberals are utopian dreamers peddling “globaloney.”

Who’s right? Both are right and both are wrong. A clear-cut answer might be nice, but it would also be less accurate and less interesting. The mix of continuity and change that characterizes today’s world makes it impossible to arrive at one simple synthetic explanation.

Because it involves changeable human behaviors, international politics will never be like physics: It has no strong determinist theory. What is more, realism and liberalism are not the only approaches. For much of the past century Marxism was a popular alternative for many people. Originally developed by Karl Marx and Friedrich Engels and subsequently enhanced and adapted by other theorists, Marxism focuses on the domestic economic structure of capitalist states. Their con- centration on economic class, production, and property relations has sometimes been called economic reductionism or historical materialism. Marxists believed that politics was a function of economics and that the greed of capitalists would drive important events in international relations, ultimately proving their own undoing as socialist revolution swept the globe. But Marxists underestimated the forces of nationalism, state power, and geopolitics. Their lack of attention to the importance

of diplomacy and the balance of power led to a flawed understanding of interna- tional politics and incorrect predictions. Even before the collapse of the Soviet Union in 1991, the failure of Marxist theory to account for peace among major capitalist states, and warfare among various communist states, left it lagging in the competition for explanatory value. For example, it was difficult for Marxists to explain clashes between China and the Soviet Union in 1969, the Vietnamese invasion of Cambodia in 1978, or the Sino-Vietnamese War of 1979.

In the 1960s and 1970s, dependency theory, which builds on Marxism, was popu- lar. It predicted that the wealthy countries in the “center” of the global marketplace would control and hold back poorer countries on the “periphery.” According to dependency theorists, the global economic and political division between the First World (rich, liberal, capitalist countries) and the Third World (developing coun- tries), also known as the North-South divide, is the result of both historical imperi- alism and the nature of capitalist globalization. Dependency theory enjoyed some explanatory successes, such as accounting for the failure of many poor countries to benefit from global economic liberalization to the extent that orthodox liberal economic theory predicted. It also drew attention to the curious and important phenomenon of the “dual economy” in Third World countries, in which a small, wealthy, educated, urban economic elite interacted with and profited handsomely from globalization, while the vast majority of impoverished, largely rural, farmers, laborers, and miners, did not. But while dependency theory helped illuminate some important structural causes of economic inequality, it had difficulty explaining why, in the 1980s and 1990s, “peripheral” countries in East Asia, such as South Korea, Singapore, and Malaysia, grew more rapidly than “central” countries such as the United States and Europe. The first two are now wealthy “developed” countries in their own right, and Malaysia is a rising middle-income country. These weaknesses of dependency theory were underlined when Fernando Henrique Cardoso, a leading dependency theorist in the 1970s, turned to liberal economic policies after being elected president of Brazil in the 1990s.

In the 1980s, analysts on both sides of the realist-liberal divide attempted to emulate microeconomics by developing formal, deductive theories. “Neorealists” such as Kenneth Waltz and “neoliberals” such as Robert Keohane developed structural models of states as rational actors constrained by the international system. Neorealists and neoliberals increased the simplicity and elegance of theory, but they did so at the cost of discarding much of the rich complexity of classical realist and lib- eral theories. “By the end of the 1980s, the theoretical contest that might have been was reduced to relatively narrow disagreements within one state-centric rationalist model of international relations.”4

More recently, a diverse group of theorists labeled constructivists has argued that realism and liberalism both fail to explain long-term change in world politics ade- quately. For example, neither realists nor liberals predicted the end of the Cold War, nor could they explain it satisfactorily after the fact. Constructivists emphasize the importance of ideas and culture in shaping both the reality and the discourse of international politics. They stress the ultimate subjectivity of interests and their links to changing identities. There are many types of constructivists, but they all

What Is International Politics? 7

Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

tend to agree that the two major theories are far from painting true pictures of the world and that we need not just explanations of how things are, but explanations of how they come to be. Constructivists have focused on important questions about identities, norms, culture, national interests, and international governance.5 They believe that leaders and other people are motivated not only by material interests, but also by their sense of identity, morality, and what their society or culture consid- ers appropriate. These norms change over time, partly through interaction with others. Constructivists agree that the international system is anarchic, but they argue that is a spectrum of anarchies ranging from benign, peaceful, even friendly ones to bitterly hostile competitive ones. The nature of anarchy at any given time depends upon prevailing norms, perceptions, and beliefs. As the prominent constructivist scholar Alexander Wendt puts it: anarchy is what states make of it. That is why Americans worry more about one North Korean nuclear weapon than 500 British nuclear weapons and why war between France and Germany, which occurred twice in the last century, seems unthinkable today.6

Neorealists and neoliberals take for granted that states seek to promote their “national interest,” but they have little to say about how those interests are shaped or change over time. Constructivists draw on different disciplines to examine the processes by which leaders, peoples, and cultures alter their preferences, shape their identities, and learn new behaviors. For example, both slavery in the nineteenth century, and racial apartheid in South Africa in the twentieth century, were accepted by most states once upon a time. But both came later to be widely condemned. Constructivists ask: Why the change? What role did ideas play? Will the practice of war go the same way someday? What about the concept of the sover- eign state? The world is full of political entities such as tribes, nations, and non- governmental organizations. Only in recent centuries has the sovereign state been a dominant concept. Constructivists suggest that concepts such as “state” and “sover- eignty” that shape our understandings of world politics and that animate our theo- ries are, in fact, socially constructed; they are not given. Nor are they permanent. Even our understanding of “security” evolves. Traditional international relations theories used to understand security strictly in terms of preventing violence or war among states, but in today’s world “human security”—a relatively new concept— seems at least as problematic. Moreover, a wider range of phenomena have become “securitized,” that is, treated politically as dire threats warranting extraordinary efforts to address them. Scholars and politicians worry today not only about inter- state war, but also about poverty, inequality, and economic or ecological catastro- phe, as we will see in Chapters 7 and 8.

Feminist constructivists add that the language and imageries of war as a central instrument of world politics have been heavily influenced by gender. Feminismgained strength as a critical approach in the early 1990s when traditional security concerns lost some of their apparent urgency in the wake of the Cold War. By focus- ing on social processes, non-elite issues, and transnational structures, and by reject- ing the established, limited focus on inter-state relations, feminism aims to study world politics more inclusively and reveal “the processes through which identities and interests, not merely of states but of key social constituencies, are shaped at the

global level.”7 Feminist scholars highlight disparities between the sexes. For exam- ple, out of 192 current members of the UN, only seventeen have female presidents, chancellors, or prime ministers. Feminist critiques also illuminate problematic aspects of globalization, such as the “export” or trafficking of women and children and the use of rape as an instrument of war.

Constructivism is an approach that rejects neorealism’s or neoliberalism’s search for scientific laws. Instead, it seeks contingent generalizations and often offers thick description as a form of explanation. Some of the most important debates in world politics today revolve around the meanings of terms such as sovereignty, humanitar- ian intervention, human rights, and genocide, and constructivists have much more to say about these issues than do older theories.8 Constructivism provides both a useful critique and an important supplement to realism and liberalism. Though sometimes loosely formulated and lacking in predictive power, constructivist approaches remind us of what the two main theories often miss. As we shall see in the next chapter, it is important to look beyond the instrumental rationality of pur- suing current goals and to ask how changing identities and interests can sometimes lead to subtle shifts in states’ policies, and sometimes to profound changes in inter- national affairs. Constructivists help us understand how preferences are formed and how knowledge is generated prior to the exercise of instrumental rationality. In that sense, constructivist thought complements rather than opposes the two main theo- ries. We will illustrate the questions of understanding long-term change in the next chapter and return to it in the final chapter.

When I was working in Washington and helping formulate American foreign policies as an assistant secretary in the State Department and the Pentagon, I found myself borrowing elements from all three types of thinking: realism, liberalism, and constructivism. I found all of them helpful, though in different ways and in different circumstances. Sometimes practical men and women wonder why we should bother with theories at all. The answer is that theories are the road maps that allow us to make sense of unfamiliar terrain. We are lost without them. Even when we think we are just using common sense, there is usually an implicit theory guiding our actions. We simply do not know or have forgotten what it is. If we are more conscious of the theories that guide us, we are better able to understand their strengths and weak- nesses, and when best to apply them. As the British economist John Maynard Keynes once put it, practical men who consider themselves above theory are usually listening to some dead scribbler from the past whose name they have long forgotten.9

Building Blocks

Actors, goals, and instruments are three concepts that are basic to theorizing about international politics, but each is changing. In the traditional realist view of interna- tional politics, the only significant “actors” are the states, and only the big states really matter. But this is changing. The number of states has grown enormously in the last half century: In 1945 there were about 50 states in the world; by the beginning of the twenty-first century, there were four times that many with more to come. More impor- tant than the number of states is the rise of nonstate actors. Today large multinational

What Is International Politics? 9

10 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?TABLE 1.1 Select Sales of Multinational

Corporations, 2008 (in US $)

Walmart Stores
Royal Dutch Shell (U.K./Netherlands) General Motors (U.S.)
Toyota (Japan)
DaimlerChrysler (Germany/U.S.) General Electric (U.S.)
Total (France)
Siemens (Germany)
IBM (U.S.)
Nestlé (Switzerland)
Sony (Japan)

$379 billion 319 billion 207 billion 205 billion 190 billion 168 billion 168 billion 107 billion

91 billion 80 billion 71 billion

Source: “The Fortune Global 500,” Fortune, http://money.cnn. com/magazines/fortune/global500/2008/full_list/.

corporations straddle international borders and sometimes command more economic resources than many states do (Table 1.1). At least 177 corporations have annual sales that are larger than the gross domestic product (GDP) of more than half the states in the world.10 The sales of companies such as Shell, Toyota, and Walmart are larger than the GDP of countries such as Hungary, Ecuador, and Senegal. While these multinational corporations lack some types of power such as military force, they are very relevant to a country’s economic goals. In terms of the economy, IBM is more important to Belgium than is Burundi, a former Belgian colony.

A picture of the Middle East without the warring states and the outside powers would be downright silly, but it would also be woefully inadequate if it did not include a variety of nonstate actors. Multinational oil companies such as Shell, British Petroleum, and Exxon Mobil are one type of nonstate actor, but there are others. There are large intergovernmental institutions such as the United Nations, and smaller ones such as the Arab League and the Organization of Petroleum Exporting Countries (OPEC). There are nongovernmental organizations (NGOs), such as the Red Cross and Amnesty International. There are also a variety of transnational ethnic groups, such as the Kurds who live in Turkey, Syria, Iran, and Iraq, and the Armenians, all scattered throughout the Middle East and the Caucasus. Terrorist groups, drug cartels, and mafia organizations transcend national borders and often divide their resources among several states. International religious movements, particularly political Islam in the Middle East and North Africa, add a further dimension to the range of nonstate actors.

The question is not whether state or nonstate groups are more important— usually the states are—but how new, complex coalitions affect the politics of a region in a way that the traditional realist views fail to disclose. States are the major actors in current international politics, but they do not have the stage to themselves.

What about goals? Traditionally the dominant goal of states in an anarchic sys- tem is military security. Countries today obviously care about their military secu- rity, but they often care as much or more about their economic wealth (Table 1.2), about social issues such as stopping drug trafficking or the spread of AIDS, or about ecological changes. Moreover, as I noted above, as threats change, the definition of security changes; military security is not the only goal that states pursue. Looking at the relationship between the United States and Canada, where the prospects of war are exceedingly slim, a Canadian diplomat once said his fear was not that the United States would march into Canada and capture Toronto again as it did in 1813, but that Toronto would be programmed out of relevance by computers in Texas—a rather different dilemma from the traditional one of states in an anarchic system. Economic strength has not replaced military security (as Kuwait discovered when Iraq invaded in August 1990), but the agenda of international politics has become more complex as states pursue a wider range of goals, including human security.

Along with the goals, the instruments of international politics are also changing. The realist view is that military force is the only instrument that really matters. Describing the world before 1914, the British historian A. J. P. Taylor defined a great power as one able to prevail in war. States obviously use military force today, but the past half century has seen changes in its role. Many states, particularly large ones, find it more costly to use military force to achieve their goals than was true in earlier

TABLE 1.2

United States China
Japan
India Germany Russia

Brazil Indonesia Saudi Arabia Argentina South Africa Vietnam Iraq Guatemala Albania Jamaica Eritrea

Estimated GDP of Select Countries, 2008 (US $ in Purchasing Power Parity)

$14.3 trillion 7.8 trillion 4.3 trillion 3.3 trillion 2.8 trillion 2.2 trillion 2.0 trillion 916 billion 583 billion 576 billion 490 billion 242 billion 113 billion

68 billion 22 billion 21 billion

4 billion

What Is International Politics? 11

Source: CIA World Factbook, 2009.

12 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

times. As Professor Stanley Hoffmann of Harvard University has put it, the link between military strength and positive achievement has been loosened.

What are the reasons? One is that the ultimate means of military force, nuclear weaponry, is hopelessly muscle-bound. Although they once numbered more than 50,000, nuclear weapons have not been used in war since 1945. The disproportion between the vast devastation nuclear weapons can inflict and any reasonable politi- cal goal has made leaders understandably loath to employ them. So the ultimate form of military force is for all practical purposes too costly for national leaders to use in war.

Even conventional force has become more costly when used to rule nationalis- tic populations. In the nineteenth century, European countries conquered other parts of the globe by fielding a handful of soldiers armed with modern weapons and then administered their colonial possessions with relatively modest garrisons. But in an age of socially mobilized populations, it is difficult to rule an occupied country whose people feel strongly about their national identity. Americans found this out in Vietnam in the 1960s and 1970s; the Soviets discovered it in Afghanistan in the 1980s. Vietnam and Afghanistan had not become more powerful than the nuclear superpowers, but trying to rule these nationalistically aware populations was too expensive for either the United States or the Soviet Union. Foreign rule is very costly in an age of nationalism. In the nineteenth century, Britain was able to rule India with a handful of soldiers and civil servants, which would be impossible in today’s world.

A third change in the role of force relates to internal constraints. Over time there has been a growing ethic of antimilitarism, particularly in democracies. Such views do not prevent the use of force, but they make it a politically risky choice for leaders, particularly when it is massive or prolonged. It is sometimes said that democracies will not accept casualties, but that is too simple. The United States, for example, expected some 10,000 casualties when it planned to enter the Gulf War in 1990, but it was loath to accept casualties in Somalia or Kosovo, where its national interests were less deeply involved. And if the use of force is seen as unjust or illegit- imate in the eyes of other states, this can make it costly for political leaders in democratic polities. Force is not obsolete, and terrorist nonstate actors are less constrained than states by such moral concerns, but force is more costly and more difficult for most states to use than in the past.

Finally, a number of issues simply do not lend themselves to forceful solutions. Take, for example, economic relations between the United States and Japan. In 1853, Commodore Matthew Perry sailed into the harbor at Uraga and threatened bombardment unless Japan opened its ports to trade. This would not be a very useful or politically acceptable way to solve current U.S.-Japan trade disputes. Thus while force remains a critical instrument in international politics, it is not the only instru- ment. The use of economic interdependence, communication, international institu- tions, and transnational actors sometimes plays a larger role than force. Military force is not obsolete as a state instrument—witness the fighting in Afghanistan, where the Taliban government had sheltered the terrorist network that carried out the September 2001 attacks on the United States, or the American and British use

of force to overthrow Saddam Hussein in 2003. But it was easier to win the war than to win the peace in Iraq, and military force alone is not sufficient to protect against terrorism. While military force remains the ultimate instrument in international politics, changes in its cost and effectiveness make today’s international politics more complex.

The basic game of security goes on. Some political scientists argue that the balance of power is usually determined by a leading, or hegemonic state—such as Spain in the sixteenth century, France under Louis XIV, Britain in most of the nineteenth century, and the United States in most of the twentieth century. Eventually the top country will be challenged, and this challenge will lead to the kind of vast conflagrations we call hegemonic, or world, wars. After world wars, a new treaty sets the new framework of order: the Treaty of Utrecht in 1713, the Congress of Vienna in 1815, the League of Nations in 1919, and the United Nations in 1945. If nothing basic has changed in international politics since the struggle for supremacy between Athens and Sparta, will a new challenge lead to another world war, or is the cycle of hegemonic war over? Will a rising China challenge the United States? Has nuclear technology made world war too devastating? Has economic interdependence made it too costly? Will nonstate actors such as terrorists force governments to cooperate? Has global society made war socially and morally unthinkable? We have to hope so, because the next hegemonic war could be the last. But first, it is important to understand the case for continuity.

THE PELOPONNESIAN WAR

Thucydides is widely considered the father of realism, the perspective most people use when thinking about international politics even when they do not know they are thinking theoretically. Theories are the indispensable tools we use to organize facts. Many of today’s leaders and editorial writers use realist theories even if they have not heard of Thucydides. A member of the Athenian elite who lived during Athens’ greatest age, Thucydides participated in some of the events described in his History of the Peloponnesian War. Robert Gilpin, a notable realist, asserted, “In honesty, one must inquire whether or not twentieth-century students of international relations know anything that Thucydides and his fifth-century BCE compatriots did not know about the behavior of states.” He then answered his own query: “Ultimately international politics can still be characterized as it was by Thucydides.”11 Gilpin’s proposition is debatable, but to debate it, we must know what Thucydides said. And what better introduction to realist theory is there than one of history’s great stories? However, like many great stories, it has its limits. One of the things we learn from the Peloponnesian War is to avoid too simplistic a reading of history.

A Short Version of a Long Story

Early in the fifth century BCE, Athens and Sparta (Figure 1.1) were allies that had cooperated to defeat the Persian Empire (480 BCE). Sparta was a conservative, land-oriented state that turned inward after the victory over Persia; Athens was a

The Peloponnesian War 13

page14image592

14 Chapter 1

Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

Epidamnus

Corcyra

Ionian Sea

Pydna
Potidaea

Lampsacus

E

S

D

C

O

N

A

I

A

M

M

A

G

N

E

Y

L

A

S

E

S

A

T

H

I

O

P

E

L

P

O

N

N

E

S

U

S

FIGURE 1.1

Classical Greece

Corinth Argos

Sparta

Salamis Aegina

Melos

Naxos

Megara Athens

commercial and sea-oriented state that turned outward. In the middle of the cen- tury, Athens had 50 years of growth that led to the development of an Athenian empire. Athens formed the Delian League, an alliance of states around the Aegean Sea, for mutual protection against the Persians. Sparta, in turn, organized its neigh- bors on the Peloponnesian peninsula into a defensive alliance. States that had joined Athens freely for protection against the Persians soon had to pay taxes to the Athenians. Because of the growing strength of Athens and the resistance of some to its growing empire, a war broke out in 461, about 20 years after the Greek defeat of the Persians. By 445, the first Peloponnesian War ended and was followed by a treaty that promised peace for 30 years. Thus Greece enjoyed a period of stable peace before the second, more significant, Peloponnesian War.

Aegean Sea

IONIA

Ephesus

Magnesia Myos

In 434, a civil war broke out in the small, peripheral city-state of Epidamnus. Like a pebble that begins an avalanche, this event triggered a series of reactions that led ultimately to the Peloponnesian War. Large conflicts are often precipitated by relatively insignificant crises in out-of-the-way places, as we shall see when we dis- cuss World War I.

In Epidamnus, the democrats fought with oligarchs over how the country would be ruled. The democrats appealed to the city-state of Corcyra, which had helped establish Epidamnus, but were turned down. They then turned to another city-state, Corinth, and the Corinthians decided to help. This angered the Corcyraeans, who sent a fleet to recapture Epidamnus, their former colony. In the process, the Corcyraeans defeated the Corinthian fleet. Corinth was outraged and declared war on Corcyra. Corcyra, fearing the attack from Corinth, turned to Athens for help. Both Corcyra and Corinth sent representatives to Athens.

The Athenians, after listening to both sides, were in a dilemma. They did not want to break the truce that had lasted for a decade, but if the Corinthians (who were close to the Peloponnesians) conquered Corcyra and took control of its large navy, the balance of power among the Greek states would be tipped against Athens. The Athenians felt they could not risk letting the Corcyraean navy fall into the hands of the Corinthians, so they decided to become “a little bit involved.” They launched a small endeavor to scare the Corinthians, sending ten ships with instruc- tions not to fight unless attacked. But deterrence failed; Corinth attacked, and when the Corcyraeans began to lose the battle, the Athenian ships were drawn into the fray more than intended. The Athenian involvement infuriated Corinth, which in turn worried the Athenians. In particular, Athens worried that Corinth would stir

The Peloponnesian War 15

page15image22704

Bust of Thucydides

16 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

up problems in Potidaea, which, although an Athenian ally, had historic ties to Corinth. Sparta promised to help Corinth if Athens attacked Potidaea. When a revolt did occur in Potidaea, Athens sent forces to put it down.

At that point there was a great debate in Sparta. The Athenians appealed to the Spartans to stay neutral. The Corinthians urged the Spartans to go to war and warned them against failing to check the rising power of Athens. Megara, another important city, agreed with Corinth because contrary to the treaty, the Athenians had banned Megara’s trade. Sparta was torn, but the Spartans voted in favor of war, according to Thucydides, because they were afraid that if Athenian power was not checked, Athens might control the whole of Greece. Sparta went to war to maintain the balance of power among the Greek city-states.

Athens rejected Sparta’s ultimatum, and war broke out in 431. The Athenian mood was one of imperial greatness, with pride and patriotism about their city and their social system, and optimism that they would prevail in the war. The early phase of the war came to a stalemate. A truce was declared after ten years (421), but the truce was fragile and war broke out again. In 413, Athens undertook a very risky ven- ture. It sent two fleets and infantry to conquer Sicily, the great island off the south of Italy, which had a number of Greek colonies allied to Sparta. The result was a terrible defeat for the Athenians. At the same time Sparta received additional money from the Persians, who were only too happy to see Athens trounced. After the defeat in Sicily, Athens was internally divided. In 411 the oligarchs overthrew the democrats, and 400 of them attempted to rule Athens. These events were not the end, but Athens never really recovered. An Athenian naval victory in 410 was followed five years later by a Spartan naval victory, and by 404 Athens was compelled to sue for peace. Sparta demanded that Athens pull down the long walls that protected it from attack by land-based powers. Athens’ power was broken.

Causes and Theories

This is a dramatic and powerful story. What caused the war? Thucydides is very clear. After recounting the various events in Epidamnus, Corcyra, and so forth, he said that those were not the real causes. What made the war inevitable was the growth of Athenian power and the fear this caused in Sparta.

Did Athens have a choice? With better foresight, could Athens have avoided this disaster? Pericles, the Athenian leader in the early days of the war, had an inter- esting answer for his fellow citizens. “[Y]our country has a right to your services in sustaining the glories of her position . . . You should remember also that what you are fighting against is not merely slavery as an exchange for independence, but also loss of empire and danger from the animosities incurred in its exercise. Besides, to recede is no longer possible . . . For what you hold is, to speak somewhat plainly, a tyranny; to take it was perhaps wrong, but to let it go is unsafe.”12 In other words, Pericles told Athenians that they had no choice. Perhaps they should not be where they were, but once they had an empire, there was not much they could do about it without even larger risks. Thus Pericles favored war. But there were other voices in Athens, such as those of the Athenian delegates to the debate in Sparta in 432 BCE who urged the

Spartans to “consider the vast influence of accident in war, before you are engaged in it.”13 That turned out to be good advice; why didn’t the Athenians heed their own counsel? Perhaps the Athenians were carried away by emotional patriotism or anger that clouded their reason. But there is a more interesting possibility: Perhaps the Athenians acted rationally but were caught in a security dilemma.

Security dilemmas are related to the essential characteristic of international politics: anarchic organization, the absence of a higher government. Under anarchy, independent action taken by one state to increase its security may make all states less secure. If one state builds its strength to make sure that another cannot threaten it, the other, seeing the first getting stronger, may build its strength to protect itself against the first. The result is that the independent effort of each to improve its security makes both more insecure. It is an ironic result, yet neither has acted irra- tionally. Neither has acted from anger or pride, but from fear caused by the threat perceived in the growth of the other. After all, building defenses is a rational response to a perceived threat. States could cooperate to avoid this security dilemma; that is, they could agree that neither should build up its defenses and all would be better off. If it seems obvious that states should cooperate, why don’t they?

An answer can be found in the game called the Prisoner’s Dilemma. (Security dilemmas are a specific type of Prisoner’s Dilemma.) The Prisoner’s Dilemma sce- nario goes like this: Imagine that somewhere the police arrest two men who have small amounts of drugs in their possession, which would probably result in one-year jail sentences. The police have good reason to believe these two are really drug deal- ers, but they do not have enough evidence for a conviction. As dealers, the two could easily get 25-year jail sentences. The police know that the testimony of one against the other would be sufficient to convict the other to a full sentence. The police offer to let each man off if he will testify that the other is a drug dealer. They tell them that if both testify, both will receive ten-year sentences. The police figure this way these dealers will be out of commission for ten years; otherwise they are both in jail for only a year and soon will be out selling drugs again.

The suspects are put in separate cells and are not allowed to communicate with each other. Each prisoner has the same dilemma: If the other stays silent, he can secure his own freedom by squealing on the other, sending him to jail for 25 years, and go free himself; or he can stay silent and spend a year in jail. But if both prison- ers squeal, they each get ten years in jail. Each prisoner thinks, “No matter what the other guy does, I’m better off if I squeal. If he stays quiet, I go free if I squeal and spend a year in jail if I don’t. If he squeals, I get ten years if I squeal and 25 years if I don’t.” If both think this way, both will squeal and spend ten years in jail each. If they could trust each other not to squeal, however, they would both be much better off, spending only one year in jail.

That is the basic structural dilemma of independent rational action in a situa- tion of this kind. If the two could talk to each other, they might agree to make a deal to stay silent and both spend one year in jail. But even if communication were pos- sible, there would be another problem: trust and credibility. Continuing with the metaphor in the Prisoner’s Dilemma, each suspect could say to himself, “We are both drug dealers. I have seen the way the other acts. How do I know that after

The Peloponnesian War 17

18 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

we’ve made this deal, he won’t say, ‘Great! I’ve convinced him to stay quiet. Now I can get my best possible outcome: freedom!’?” Similarly, in international politics the absence of communication and trust encourages states to provide for their own security, even though doing so may reduce all states to mutual insecurity. In other words, one state could say to another, “Don’t build up your armaments and I will not build up my armaments, and we will both live happily ever after,” but the second state may wonder whether it can afford to trust the first state.

The Athenian position in 432 looks very much like the Prisoner’s Dilemma. In the middle of the century, the Athenians and Spartans agreed they were both better off having a truce. Even after the events in Epidamnus and the dispute between Corcyra and Corinth, the Athenians were reluctant to break it. The Corcyraeans ulti- mately convinced the Athenians with the following argument: “[T]here are but three considerable naval powers in Hellas [Greece], Athens, Corcyra, and Corinth, and that if you allow two of these three to become one, and Corinth to secure us for herself, you will have to hold the sea against the united fleets of Corcyra and the Peloponnesus. But if you receive us, you will have our ships to reinforce you in the struggle.”14

Should Athens have cooperated with the Peloponnesians by turning Corcyra down? If they had, what would have happened if the Peloponnesians had captured the Corcyraean fleet? Then the naval balance would have been two to one against Athens. Should Athens have trusted the Peloponnesians to keep their promises? The Athenians decided to ally with Corcyra, thereby risking the treaty—the equiv- alent of squealing on the other prisoner. Thucydides explains why: “For it began now to be felt that the coming of the Peloponnesian War was only a question of time, and no one was willing to see a naval power of such magnitude as Corcyra sacrificed to Corinth . . .”15

Inevitability and the Shadow of the Future

Ironically, the belief that war was inevitable played a major role in causing it. Athens felt that if the war was going to come, it was better to have two-to-one naval superiority rather than one-to-two naval inferiority. The belief that war was immi- nent and inevitable was critical to the decision. Why should that be so? Look again at the Prisoner’s Dilemma. At first glance, it is best for each prisoner to cheat and let the other fellow be a sucker, but because each knows the situation, they also know that if they can trust each other, both should go for second best and cooperate by keeping silent. Cooperation is difficult to develop when playing the game only once. Playing a game time after time, people can learn to cooperate, but if it is a one-time game, whoever “defects” can get the reward and whoever trusts is a sucker. Political scientist Robert Axelrod played the Prisoner’s Dilemma on a computer with differ- ent strategies. He found that after many games, on average the best results were obtained with a strategy he called tit for tat—“I will cooperate on my first move, and after that I will do to you what you last did to me. If on the first move you defect, I will defect. If you defect again, I should defect again. If you cooperate, I will cooperate. If you cooperate again, I cooperate again.” Eventually, players find that the total benefit from the game is higher by learning to cooperate. But Axelrod

warns that tit for tat is a good strategy only when you have a chance to continue the game for a long period, when there is a “long shadow of the future.” On the last move, it is always rational to defect.

That is why the belief that war is inevitable is so corrosive in international pol- itics. When you believe war is inevitable, you believe that you are very close to the last move, and you worry about whether you can still trust your opponent. If you sus- pect your opponent will defect, it is better to rely on yourself and take the risk of defecting rather than cooperating. That is what the Athenians did. Faced with the belief that war would occur, they decided they could not afford to trust the Corinthians or the Spartans. It was better to have the Corcyraean navy on their side than against them when it looked like the last move in the game and inevitable war.

Was the Peloponnesian War really inevitable? Thucydides had a pessimistic view of human nature: “I have written my work,” he wrote, “not as an essay which is to win the applause of the moment, but as a possession for all time.”16 His history shows human nature caught in the situation of the Prisoner’s Dilemma then and for all time. Thucydides, like all historians, had to emphasize certain things and not others. Thucydides concluded that the cause of the war was the growth of the power of Athens and the fear it caused in Sparta. But the Yale classicist Donald Kagan argues that Athenian power was in fact not growing: Before the war broke out in 431 BCE the balance of power had begun to stabilize. And though, says Kagan, the Spartans worried about the rise of Athenian power, he contends they had an even greater fear of a slave revolt. Both Athens and Sparta were slave states and both feared that going to war might provide an opportunity for the slaves to revolt. The difference was that the slaves, or Helots, in Sparta were 90 percent of the population—far greater than Athens slave percentage—and the Spartans had recently experienced a Helot revolt in 464 BCE.

Thus the immediate or precipitating causes of the war, according to Kagan, were more important than Thucydides’ theory of inevitability admits. Corinth, for exam- ple, thought Athens would not fight; it misjudged the Athenian response, partly because it was so angry at Corcyra. Pericles overreacted; he made mistakes in giving an ultimatum to Potidaea and in punishing Megara by cutting off its trade. Those policy mistakes made the Spartans think that war might be worth the risk after all. Kagan argues that Athenian growth caused the first Peloponnesian War but that the Thirty-Year Truce doused that flame. So to start the second Peloponnesian War, “the spark of the Epidamnian trouble needed to land on one of the rare bits of flam- mable stuff that had not been thoroughly drenched. Thereafter it needed to be con- tinually and vigorously fanned by the Corinthians, soon assisted by the Megarians, Potidaeans, Aeginetans, and the Spartan War Party. Even then the spark might have been extinguished had not the Athenians provided some additional fuel at the crucial moment.”17 In other words, the war was not caused by impersonal forces but by bad decisions in difficult circumstances.

It is perhaps impudent to question Thucydides, a father figure to historians, but very little is ever truly inevitable in history. Human behavior is voluntary, although there are always external constraints. Karl Marx observed that men make history, but not in conditions of their own choosing. The ancient Greeks made flawed

The Peloponnesian War 19

20 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

choices because they were caught in the situation well described by Thucydides and by the Prisoner’s Dilemma. The security dilemma made war highly probable, buthighly probable is not the same as inevitable. After all, the Joker in The Dark Knightconstructed a version of the Prisoner’s Dilemma for the passengers on the two Gotham City ferries wired with explosives, but they opted to cooperate rather than defect. The 30-year unlimited war that devastated Athens was not inevitable. Human decisions mattered. Accidents and personalities make a difference even if they work within limits set by the larger structure, the situation of insecurity that resembles the Prisoner’s Dilemma.

What modern lessons can we learn from this ancient history? We need to be aware of both the continuities and the changes. Some structural features of interna- tional politics predispose events in one direction rather than another. That is why it is necessary to understand security dilemmas and the Prisoner’s Dilemma. On the other hand, such situations do not prove that war is inevitable. There are degrees of freedom, and human decisions can sometimes prevent the worst outcomes. Cooperation does occur in international affairs, even though the general structure of anarchy often tends to discourage it.

It is also necessary to beware of patently shallow historical analogies. During the Cold War, it was often popular to say that because the United States was a democracy and a sea-based power while the Soviet Union was a land-based power and had slave labor camps, America was Athens and the Soviet Union was Sparta locked into replaying a great historical conflict. But such shallow analogies ignored the fact that ancient Athens was a slave-holding state, wracked with internal turmoil, and that democrats were not always in control. Moreover, unlike in the Cold War, Sparta won.

Another lesson is to be aware of the selectivity of historians. No one can tell the whole story of anything. Imagine trying to tell everything that happened in the last hour, much less the entire story of your life or a whole war. Too many things hap- pened. A second-by-second account in which everything was reported would take much longer to tell than it took for the events to happen in the first place. Thus his- torians always abstract. To write history, even the history of the last hour or the last day, we must simplify. We must select. What we select is obviously affected by the values, inclinations, and theories in our minds, whether explicit or inchoate.

Historians are affected by their contemporary concerns. Thucydides was con- cerned about how Athenians were learning the lessons of the war, blaming Pericles and the democrats for miscalculating. He therefore stressed those aspects of the situ- ation we have described as the Prisoner’s Dilemma. Yet while these aspects of the war were important, they are not the whole story. Thucydides did not write much about Athenian relations with Persia, or the decree that cut off Megara’s trade, or about Athens raising the amount of tribute that others in the Delian League had to pay. We have no reason to suspect that Thucydides’ history was deliberately mis- leading or biased, but it is an example of how each age tends to rewrite history because the questions brought to the vast panoply of facts tend to change over time.

The need to select does not mean that everything is relative or that history is bunk. Such a conclusion is unwarranted. Good historians and social scientists do their best to ask questions honestly, objectively bringing facts to bear on their topic. But they and their students should be aware that what is selected is by necessity only

Ethical Questions and International Politics 21

THE RISE OF CHINA

Ever since Thucydides’ explanation of the Peloponnesian War, historians have known that the rise of a new power has been attended by uncertainty and anxieties. Often, though not always, violent conflict has followed. The rise in the economic and military power of China, the world’s most populous country, will be a central question for Asia and for American foreign policy at the beginning of a new century. Explaining why democratic Athens decided to break a treaty that led to war, Thucydides pointed to the power of expectations of inevitable conflict. “The general belief was that whatever happened, war with the Peloponnese was bound to come,” he wrote. Belief in the inevitability of conflict with China could have similar self-fulfilling effects.

The Economist, June 27, 199818

part of the story. Always ask what questions the writer was asking as well as whether he or she carefully and objectively ascertained the facts. Beware of biases. Choice is a very important part of history and of writing history. The cure to misunderstanding history is to read more, not less.

ETHICAL QUESTIONS AND INTERNATIONAL POLITICS

Given the nature of the security dilemma, some realists believe that moral concerns play no role in international conflicts. However, ethics do play a role in interna- tional relations, although not quite the same role as in domestic politics.

Moral arguments have been used since the days of Thucydides. When Corcyra went to Athens to plead for help against Corinth, it used the language of ethics: “First, . . . your assistance will be rendered to a power which, herself inof- fensive, is a victim to the injustice of others. Second, . . . you will give unforget- table proof of your goodwill and create in us a lasting sense of gratitude.”19Substitute Bosnia for Corcyra and Serbia for Corinth, and those words could be uttered in modern times.

Moral arguments move and constrain people. In that sense, morality is a power- ful reality. However, moral arguments can also be used rhetorically as propaganda to disguise less elevated motives, and those with more power are often able to ignore moral considerations. During the Peloponnesian War, the Athenians sailed to the island of Melos to suppress a revolt. In 416 BCE, the Athenian spokesmen told the Melians that they could fight and die or they could surrender. When the Melians protested that they were fighting for their freedom, the Athenians responded that “the strong do what they can and the weak suffer what they must.”20 In essence, the Athenians stated that in a realist world, morality has little place. Might makes right. When Iraq invades Kuwait, or the United States invades Grenada or Panama, or the Indonesians suppress a revolt in East Timor, they all to some degree employ similar logic. But, in the modern world, it is increasingly less acceptable to state one’s motives as plainly as Thucydides suggests the Athenians did in Melos. Does this

22 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

mean that morality has come to occupy a more prominent place in international relations, or simply that states have become more adept at propaganda? Has interna- tional politics changed dramatically, with states more attuned to ethical concerns, or is there a clear continuity between the actions of the Athenians 2,500 years ago and the actions of Iraq or Serbia in the late twentieth century?

Moral arguments are not all equal. Some are more compelling than others. We ask whether they are logical and consistent. For instance, when the activist Phyllis Schlafly argued that nuclear weapons are a good thing because God gave them to the free world, we should wonder why God also gave them to Stalin’s Soviet Union and Mao’s China.

A basic touchstone for many moral arguments is impartiality—the view that all interests are judged by the same criteria. Your interests deserve the same attention as mine. Within this framework of impartiality, however, there are two different traditions in Western political culture about how to judge moral arguments. One descends from Immanuel Kant, the eighteenth-century German philosopher, the other from British utilitarians of the early nineteenth century such as Jeremy Bentham. As an illustration of the two approaches, imagine walking into a poor village and finding that a military officer is about to shoot three people lined up against the wall. You ask, “Why are you shooting these peasants? They look quite harmless.” The officer says, “Last night some- body in this village shot one of my men. I know somebody in this village is guilty, so I am going to shoot these three to set an example.” You say, “You can’t do that! You’re going to kill an innocent person. If only one shot was fired, then at least two of these people are innocent, perhaps all three. You just can’t do that.” The officer takes a rifle from one of his men and hands it to you saying, “If you shoot one of them for me, I’ll let the other two go. You can save two lives if you will shoot one of them. I’m going to teach you that in civil war you can’t have these holier-than-thou attitudes.”

What are you going to do? You could try to mow down all the troops in a Rambo- like move, but the officer has a soldier aiming his gun at you. So your choice is to kill one innocent person in order to save two or to drop the gun and have clean hands. The Kantian tradition says that all deliberate killing is wrong, so you should refuse to perpe- trate the evil deed. The utilitarian tradition suggests that if you can save two lives, you should do it. Now, suppose that you sympathize with the Kantian perspective; imagine now that the numbers were increased. Suppose there were 100 people against the wall. Or imagine you could save a city full of people from a terrorist’s bomb by shooting one possibly innocent person. Should you refuse to save a million people in order to keep your hands and conscience clean? At some point, consequences matter. Moral arguments can be judged in three ways: by the motives or intentions involved, by the means used, and by their consequences or net effects. Although these dimensions are not always easily reconciled, good moral argument tries to take all three into account.

Limits on Ethics in International Relations

Ethics plays less of a role in international politics than in domestic politics for four reasons. One is the weak international consensus on values. There are cultural and reli- gious differences over the justice of some acts. Second, states are not like individuals.

Ethical Questions and International Politics 23

States are abstractions, and although their leaders are individuals, statesmen are judged differently than when they act as individuals. For instance, when picking a roommate, most people want a person who believes “thou shalt not kill.” But the same people might vote against a presidential candidate who said, “Under no circumstances will I ever take an action that will lead to a death.” A president is entrusted by citizens to protect their interests, and under some circumstances this may require the use of force. Presidents who saved their own souls but failed to protect their people would not be good trustees.

In private morality, sacrifice may be the highest proof of a moral action, but should leaders sacrifice their whole people? During the Peloponnesian War, the Athenians told the leaders of the island of Melos that if they resisted, Athens would kill all the men and sell the women and children into slavery. Melos resisted and was destroyed. Should they have come to terms? In 1962, should President Kennedy have run a risk of nuclear war to force the Soviets to remove missiles from Cuba when the United States had similar mis- siles in Turkey? Different people may answer these questions differently. The point is, when individuals act as leaders of states, their actions are judged somewhat differently.

A third reason ethics plays a lesser role in international politics is the com- plexity of causation. It is hard enough to know the consequences of actions in domestic affairs, but international relations has another layer of complexity: the interaction of states. That extra dimension makes it harder to predict consequences accurately. A famous example is the 1933 debate among students at the Oxford Union, the debating society of Oxford University. Mindful of the 20 million people killed in World War I, the majority of students voted for a resolution that they would never again fight for king and country. But someone else was listening: Adolf Hitler. He concluded that democracies were soft and that he could press them as hard as he wanted because they would not fight back. In the end, he pressed too far and the result was World War II, a consequence not desired or expected by those students who voted never to fight for king and country. Many later did, and many died.

A more trivial example is the “hamburger argument” of the early 1970s, when people were worried about shortages of food in the world. A number of students in American colleges said, “When we go to the dining hall, refuse to eat meat because a pound of beef equals eight pounds of grain, which could be used to feed poor peo- ple around the world.” Many students stopped eating hamburger and felt good about themselves, but they did not help starving people in Africa or Bangladesh one bit. Why not? The grain freed up by not eating hamburgers in America did not reach the starving people in Bangladesh because those starving had no money to buy the grain. The grain was simply a surplus on the American market, which meant American prices went down and farmers produced less. To help peasants in Bangladesh required getting money to them so they could buy some of the excess grain. By launching a campaign against eating hamburger and failing to look at the complexity of the causal chain that would relate their well-intended act to its consequences, the students failed.

Finally, there is the argument that the institutions of international society are particularly weak and that the disjunction between order and justice is greater in international than in domestic politics. Order and justice are both important. In a domestic polity we tend to take order for granted. In fact, sometimes protesters

24 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

purposefully disrupt order for the sake of promoting their view of justice. But if there is total disorder, it is very hard to have any justice; witness the bombing, kidnapping, and killing by all sides in Lebanon in the 1980s or in Somalia since the end of the Cold War. Some degree of order is a prior condition for justice. In international pol- itics, the absence of a common legislature, central executive, or strong judiciary makes it much harder to preserve the order that precedes justice.

Three Views of the Role of Morality

At least three different views of ethics exist in international relations: those of theskeptics, the state moralists, and the cosmopolitans. Although there is no logical con- nection, people who are realists in their descriptive analysis of world politics often tend to be either skeptics or state moralists in their evaluative approach, whereas those who emphasize a liberal analysis tend toward either the state moralist or cosmopolitan moral viewpoints.

Skeptics. The skeptic says that moral categories have no meaning in interna- tional relations because no institutions exist to provide order. In addition, there is no sense of community, and therefore no moral rights and duties. For the skeptics, the classic statement about ethics in international politics was the Athenians’ response to the Melians’ plea for mercy: “The strong do what they can and the weak suffer what they must.” Might makes right. And that, for the skeptics, is all there is to say.

Philosophers often say that ought (moral obligation) implies can (the capacity to do something). Morality requires choice. If something is impossible, we cannot have an obligation to do it. If international relations are simply the realm of “kill or be killed,” then presumably there is no choice, and that would justify the skeptics’ posi- tion. But international politics consists of more than mere survival. If choices exist in international relations, pretending choices do not exist is merely a disguised form of choice. To think only in terms of narrow national interests is simply smuggling in val- ues without admitting it. The French diplomat who once told me, “What is moral is whatever is good for France,” was ducking hard choices about why only French inter- ests should be considered. The leader who says, “I had no choice,” often did have a choice, albeit not a pleasant one. If there is some degree of order and of community in international relations—if it is not constantly “kill or be killed”—then there is room for choices. Anarchy means “without government,” but it does not necessarily mean chaos or total disorder. There are rudimentary practices and institutions that provide enough order to allow some important choices: balance of power, interna- tional law, and international organizations. Each is critical to understanding why the skeptical argument is not sufficient.

Thomas Hobbes argued that to escape from “the state of nature” in which any- one might kill anyone else, individuals give up their freedom to a “leviathan,” or government, for protection, because life in the state of nature is nasty, brutish, and short. Why then don’t states form a superleviathan? Why isn’t there a world govern- ment? The reason, Hobbes said, is that insecurity is not so great at the international level as at the individual level. Governments provide some degree of protection

Ethical Questions and International Politics 25

against the brutality of the biggest individuals taking whatever they want, and the balance of power among states provides some degree of order. Even though states are in a hostile posture of potential war, “they still uphold the daily industry of their sub- jects.” The international state of nature does not create the day-to-day misery that would accompany a state of nature among individuals. In other words, Hobbes believed that the existence of states in a balance of power alleviates the condition of international anarchy enough to allow some degree of order.

Liberals point further to the existence of international law and customs. Even if rudimentary, such rules put a burden of proof on those who break them. Consider the Persian Gulf crisis in 1990. Saddam Hussein claimed that he annexed Kuwait to recover a province stolen from Iraq in colonial times. But because international law forbids crossing borders for such reasons, an overwhelming majority of states viewed his action as a violation of the UN charter. The twelve resolutions passed by the UN Security Council showed clearly that Saddam’s view of the situation ran against international norms. Law and norms did not stop Saddam from invading Kuwait, but they did make it more difficult for him to recruit support, and they contributed to the creation of the coalition that expelled him from Kuwait.

International institutions, even if rudimentary, also provide a degree of order by facilitating and encouraging communication and some degree of reciprocity in bargaining. Given this situation of nearly constant communication, international politics is not always, as the skeptics claim, “kill or be killed.” The energies and attention of leaders are not focused on security and survival all the time. Cooperation (as well as conflict) occurs in large areas of economic, social, and mil- itary interaction. And even though cultural differences exist about the notion of justice, moral arguments take place in international politics and principles are enshrined in international law.

Even in the extreme circumstances of war, law and morality may sometimes play a role. Just war doctrine, which originated in the early Christian church and became secularized after the seventeenth century, prohibits the killing of innocent civilians. The prohibition on killing innocents starts from the premise “thou shalt not kill.” But if that is a basic moral premise, how is any killing ever justified? Absolute paci- fists say that no one should kill anyone else for any reason. Usually this is asserted on Kantian grounds, but some pacifists add a consequentialist argument that “violence only begets more violence.” Sometimes, however, the failure to respond to violence can also beget more violence. For example, it is unlikely that Osama bin Laden would have left the United States alone if President George W. Bush had turned the other cheek after September 11. In contrast to pacifism, the just war tradition com- bines a concern for the intentions, means, and consequences of actions. It argues that if someone is about to kill you and you refuse to act in self-defense, the result is that evil will prevail. By refusing to defend themselves, the good die. If one is in imminent peril of being killed, it can be moral to kill in self-defense. But we must distinguish between those who can be killed and those who cannot be killed. For example, if a soldier rushes at me with a rifle, I can kill him in self-defense, but the minute the soldier drops the rifle, puts up his hands, and says, “I surrender,” he is a prisoner of war and I have no right to take his life. In fact, this is enshrined in inter- national law, and also in the U.S. military code. An American soldier who shoots an

26 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

enemy soldier after he surrenders can be tried for murder in an American court. Some American officers in the Vietnam and Iraq Wars were sent to prison for vio- lating such laws. The prohibition against intentionally killing people who pose no harm also helps explain why terrorism is wrong. Some skeptics argue that “one man’s terrorist is just another man’s freedom fighter.” However, under just war doctrine, you can fight for freedom, but you cannot target innocent civilians. Though they are often violated, some norms exist even under the harshest international circum- stances. The rudimentary sense of justice enshrined in an imperfectly obeyed inter- national law belies the skeptics’ argument that no choices exist in a situation of war.

We can therefore reject complete skepticism because some room exists for morality in international politics. Morality is about choice, and meaningful choice varies with the conditions of survival. The greater the threats to survival, the less room for moral choice. At the start of the Peloponnesian War, the Athenians argued, “[P]raise is due to all who, if not so superior to human nature as to refuse dominion, yet respect justice more than their position compels them to do.”21Unfortunately, the Athenians lost sight of that wisdom later in their war, but it reminds us that situations with absolutely no choice are rare and that national secu- rity and degrees of threat are often ambiguous. Skeptics avoid hard moral choices by pretending otherwise. To sum up in an aphorism: Humans may not live wholly by the word, but neither do they live solely by the sword.

JUST WAR DOCTRINE

Classical just war doctrine grew out of the Roman and Christian traditions. Cicero, St. Augustine, and St. Thomas Acquinas were key early thinkers. Today just war doctrine has broad appeal. There are many possible formulations, but all have two components: principles of jus ad bellum, which specify the conditions under which it is morally permissi- ble to use force; and principles of jus in bello, which specify how force may be used morally.

The five standard principles of jus ad bellum include (1) just cause, (2) right intention, (3) legitimate authority, (4) last resort, and (5) reasonable chance of success. Over the cen- turies, interpretations of these principles have changed. Just cause used to be restricted almost entirely to self-defense, for example, but today may include counterintervention or preventing humanitarian catastrophe. Kings and emperors used to enjoy unquestioned legit- imate authority, but increasingly world opinion requires the approval of an international body such as the United Nations Security Council.

The three main principles of jus in bello are (1) observe the laws of war, (2) maintain proportionality, and (3) observe the principle of noncombatant immunity. The laws of war have also evolved over the centuries and represent a much more stringent set of con- straints today than in medieval times. Modern military technology makes it more difficult in some respects to maintain proportionality and protect innocent civilians, since the destructive power of modern weaponry is vastly greater than in the age of the sword and spear, but modern precision-guided munitions and advanced battlefield management systems can compensate for this to some extent.

Ethical Questions and International Politics 27

Many writers and leaders who are realists in their descriptive analysis are also skeptics in their views about values in world politics. But not all realists are com- plete skeptics. Some recognize that moral obligations exist, but say that order has to come first. Peace is a moral priority, even if it is an unjust peace. The disorder of war makes justice difficult, especially in the nuclear age. The best way to preserve order is to preserve a balance of power among states. Moral crusades disrupt balances of power. For example, if the United States becomes too concerned about spreading democracy or human rights throughout the world, it may create disorder that will actually do more damage than good in the long run.

The realists have a valid argument, up to a point. International order is impor- tant, but it is a matter of degrees, and there are trade-offs between justice and order. How much order is necessary before we start worrying about justice? For example, after the 1990 Soviet crackdown in the Baltic republics in which a number of people were killed, some Americans urged a break in relations with the Soviet Union. In their view, Americans should express their values of democracy and human rights in foreign policy, even if that meant instability and the end of arms control talks. Others argued that while concerns for peace and for human rights were important, it was more important to control nuclear weapons and negotiate an arms reduction treaty. In the end, the American government went ahead with the arms negotiations, but linked the provision of economic aid to respect for human rights. Over and over in international politics, the question is not absolute order versus justice, but how to trade off choices in particular situations. The realists have a valid point of view, but they overstate it when they argue that it has to be all order before any justice.

State Moralists. State moralists argue that international politics rests on a society of states with certain rules, although those rules are not always perfectly obeyed. The most important rule is state sovereignty, which prohibits states from interven- ing across borders into each others’ jurisdiction. The political scientist Michael Walzer, for example, argues that national boundaries have a moral significance because states represent the pooled rights of individuals who have come together for a common life. Thus respect for the sovereignty and territorial integrity of states is related to respect for individuals. Others argue more simply that respect for sov- ereignty is the best way to preserve order. “Good fences make good neighbors,” in the words of the poet Robert Frost.

In practice, these rules of state behavior are frequently violated. In the last few decades, Vietnam invaded Cambodia, China invaded Vietnam, Tanzania invaded Uganda, Israel invaded Lebanon, the Soviet Union invaded Afghanistan, the United States invaded Grenada and Panama, Iraq invaded Iran and Kuwait, the United States and Britain invaded Iraq, and NATO bombed Serbia because of its mistreatment of ethnic Albanians in the province of Kosovo—to name just a few examples. Determining when it is appropriate to respect another state’s sovereignty is a long- standing challenge. In 1979, Americans condemned the Soviet invasion of Afghanistan in strong moral terms. The Soviets responded by pointing to the Dominican Republic, where in 1965 the United States sent 25,000 troops to prevent the formation of a communist government. The intention behind the American

28 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

intervention in the Dominican Republic, preventing a hostile regime from coming to power in the Caribbean, and the intention of the Soviet Union’s intervention in Afghanistan, preventing the formation of a hostile government on its border, were quite similar.

To find differences, we have to look further than intentions. In terms of the means used, very few people were killed by the U.S. intervention in the Dominican Republic, and the Americans soon withdrew. In the Afghan case, many people were killed, and the Soviet forces remained for nearly a decade. In the 1990s, some critics compared the Iraqi invasion of Kuwait with the American invasion of Panama. In December 1989, the United States sent troops to overthrow the Panamanian dictator Manuel Noriega, and in August 1990, Iraq sent troops into Kuwait to overthrow the emir. Both the United States and Iraq violated the rule of nonintervention. But again there were differences in means and consequences. In Panama, the Americans put into office a government that had been duly elected but that Noriega had not permitted to take power. The Americans did not try to annex Panama. In Kuwait, the Iraqi government tried to annex the coun- try and caused much bloodshed in the process. Such considerations do not mean that the Panama case was all right or all wrong, but as we will see in Chapter 6, problems often arise when applying simple rules of nonintervention and sovereignty.

Cosmopolitans. Cosmopolitans such as the political theorist Charles Beitz see international politics not just as a society of states, but as a society of individuals. When we speak about justice, say the cosmopolitans, we should speak about justice for individuals. They argue that realists focus too much on issues of war and peace. Cosmopolitans contend that if realists focused on issues of distributive justice—that

INTERVENTION

Imagine the following scene in Afghanistan in December 1979:
An Afghan communist leader came to power promoting a platform of greater inde-

pendence from the Soviet Union. This worried Soviet leaders because an independent regime on their border might foment trouble throughout Central Asia (including Soviet Central Asia) and would create a dangerous precedent of a small communist neighbor escaping the Soviet Empire. Imagine the Russian general in charge of the Soviet invasion force confronting the renegade Afghan leader, whom he is about to kill, explaining why he is doing these things against the international rules of sovereignty and nonintervention. “As far as right goes, other countries in our sphere of influence think one has as much of it as the other, and that if any maintain their independence it is because they are strong, and that if we do not molest them it is because we are afraid; so that besides extending our empire we should gain in security by your subjection; the fact that you are a border state and weaker than others rendering it all the more important that you should not succeed in thwarting the masters of Central Asia.”

Thus spoke the Athenians to the leaders of Melos (5.97), with but minor substitutions! Intervention is not a new problem.

Ethical Questions and International Politics 29

is, who gets what—they would notice the interdependence of the global economy. Constant economic intervention across borders can sometimes have life-or-death consequences. For example, it is a life-or-death matter if you are a peasant in the Philippines and your child dies of a curable disease because the local boy who went to medical school is now working in the United States for a much higher salary.

Cosmopolitans argue that national boundaries have no moral standing; they simply defend an inequality that should be abolished if we think in terms of distrib- utive justice. Realists (who include both moral skeptics and some state moralists) reply that the danger in the cosmopolitans’ approach is that it may lead to enormous disorder. Taken literally, efforts at radical redistribution of resources are likely to lead to violent conflict, because people do not give up their wealth easily. A more limited cosmopolitan argument rests on the fact that people often have multiple loyalties— to families, friends, neighborhoods, and nations; perhaps to some transnational reli- gious groups; and to the concept of common humanity. Most people are moved by pictures of starving Somali children or Darfur refugees, for some common community exists beyond the national level, albeit a weaker one. We are all humans.

Cosmopolitans remind us of the distributive dimensions to international rela- tions in which morality matters as much in peace as in war. Policies can be designed to assist basic human needs and basic human rights without destroying order. And in cases of gross abuse of human rights, cosmopolitan views have been written into international laws such as the international convention against genocide. As a result, policy makers are more conscious of moral concerns. For example, President Bill Clinton has said that one of his worst mistakes was not to have done more to stop genocide in Rwanda in 1994, and the United States and other countries have supported African peacekeeping troops in efforts to suppress genocidal violence in the Sudanese province of Darfur.

Of the approaches to international morality, the skeptic makes a valid point about order being necessary for justice but misses the trade-offs between order and justice. The state moralist who sees a society of states with rules against intervention illustrates an institutional approach to order but does not provide enough answers regarding when some interventions may be justified. Finally, the cosmopolitan who focuses on a society of individuals has a profound insight about common humanity but runs the risk of fomenting enormous disorder by pursuing massive redistributive policies. Most people develop a hybrid position; labels are less important than the central point that trade-offs exist among these approaches.

Because of the differences between domestic and international politics, morality is harder to apply in international politics. But just because there is a plurality of princi- ples, it does not follow that there are no principles at all. How far should we go in applying morality to international politics? The answer is to be careful, for when moral judgments determine everything, morality can lead to a sense of outrage, and outrage can lead to heightened risk. Prudence can be a virtue, particularly when the alterna- tive is disastrous unintended consequences. After all, there are no moral questions among the dead. But we cannot honestly ignore morality in international politics. Each person must study events and make his or her own decisions about judgments and trade-offs. The enduring logic of international conflict does not remove the

30 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

responsibility for moral choices, although it does require an understanding of the special setting that makes those choices difficult.

While the specific moral and security dilemmas of the Peloponnesian War are unique, many of the issues recur over history. As we trace the evolution of interna- tional relations, we will see again and again the tension between realism and liberal- ism, between skeptics and cosmopolitans, between an anarchic system of states and international organizations. We will revisit the Prisoner’s Dilemma and continue to grapple with the ethical conundrums of war. We will see how different actors on the world stage have approached the crises of their time and how their goals and instru- ments vary. As mentioned at the outset, certain variables that characterize interna- tional politics today simply did not exist in Thucydides’ day: no nuclear weapons; no United Nations; no Internet; no transnational corporations; no cartels. The study of international conflict is an inexact science combining history and theory. In weav- ing our way through theories and examples, we try to keep in mind both what has changed and what has remained constant so we may better understand our past and our present and better navigate the unknown shoals of the future.

page30image18416

490 BCE
480 BCE
478 BCE
476 BCE
464 BCE
461 BCE
445 BCE
445–434 BCE434 BCE

433 BCE432 BCE431 BCE430 BCE416 BCE413 BCE411 BCE404 BCE

CHRONOLOGY: PELOPONNESIAN WARS

First Persian War
Second Persian War
Spartans abdicate leadership
Formation of Delian League and Athenian Empire Helot revolt in Sparta
Outbreak of first Peloponnesian War
Thirty-Year Truce
Ten years of peace
Epidamnus and Corcyra conflicts
Athens intervenes in Potidaea
Spartan Assembly debates war
Outbreak of second Peloponnesian War
Pericles’ Funeral Oration
Melian dialogue
Athens’ defeat in Sicily
Oligarchs revolt in Athens
Athens defeated, forced to pull down walls

page30image27832
page30image27992
page30image28152
page30image28312
page30image28472
page30image28632
page30image28792
page30image28952
page30image29112
page30image29272
page30image29432
page30image29592
page30image29752
page30image29912
page30image30072
page30image30232
page31image8064
page31image8064
page31image9464
page31image9464
page31image9664
page31image9664
page31image9864
page31image9864
page31image10464
page31image10464
page31image10664
page31image10664
page31image11064
page31image11064
page31image11464
page31image11464

Exercises

Apply what you learned in this chapter by using the online resources on MyPoliSciKit (www.mypoliscikit.com).

Practice Tests Flashcards

Study Questions

Videos:
• “China’s Tibet Policy”
• “The Cuban Missile Crisis”

Simulation: “Why Study International Relations?”

Selected Readings 31

page31image15592
page31image16512
page31image17440
page31image20384
page31image23832
page31image23992
  1. What role should ethical considerations play in the conduct of international relations? What role do they play? Can we speak meaningfully about moral duties to other countries or their populations? What are America’s moral obligations in Iraq? in Afghanistan?
  2. How well did the Iraq war satisfy the principles of jus ad bellum and jus in bello? What about Afghanistan?
  3. Is there a difference between moral obligations in the realms of domestic politics and inter- national politics? On the basis of the Melian dialogue, did the Athenians act ethically? Did the Melian elders?
  4. What is realism? How does it differ from the liberal view of world politics? What does constructivism add to realism and liberalism?
  5. What does Thucydides pinpoint as the main causes of the Peloponnesian War? Which were immediate? Which were underlying?
  6. What sort of theory of international relations is implicit in Thucydides’ account of the war?
  7. Was the Peloponnesian War inevitable? If so, why and when? If not, how and when might ithave been prevented?

Selected Readings

  1. Morgenthau, Hans, Politics Among Nations 7th ed. (Boston: McGraw-Hill Higher Education,2006), chap. 1.
  2. Waltz, Kenneth, Man, the State, and War: A Theoretical Analysis (New York: Columbia University Press, 1959), pp. 1–15.
  3. Lebow, Richard Ned, A Cultural Theory of International Relations (Cambridge: Cambridge University Press, 2008), pp. 1–28.
  4. Moravscik, Andrew, “Taking Preferences Seriously: A Liberal Theory of International Politics,” International Organization 51:4 (Autumn 1997), pp. 513–553.
  5. Ba, Alice, and Matthew J. Hoffmann, “Making and Remaking the World for IR 101: A Resource for Teaching Social Constructivism in Introductory Classes,” International Studies Perspectives 4:1 (February 2003), pp. 15–33.
  6. Strassler, Robert B., ed., The Landmark Thucydides: A Comprehensive Guide to the Peloponnesian War, trans. Richard Crawley (New York: Touchstone, 1996).
  7. Kagan, Donald, The Outbreak of the Peloponnesian War (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1969), pp. 31–56, 345–356.

32 Chapter 1 Is There an Enduring Logic of Conflict in World Politics?

Notes

  1. Calculated from UCDP/PRIO Armed Conflict Dataset and Codebook, version 4-2009; see also Nils Petter Gleditsch, Peter Wallensteen, Mikael Eriksson, Margareta Sollenberg, and Håvard Strand, “Armed Conflict 1946–2001: A New Dataset,” Journal of Peace Research 39:5 (September 2002), pp. 615–637.
  2. Thomas Hobbes, Leviathan, ed. C. B. MacPherson (London: Penguin, 1981), p. 186.
  3. The New York World, “From Our Dec. 13 Pages, 75 Years Ago,” International Herald Tribune,December 13, 1985.
  4. Miles Kahler, “Inventing International Relations: International Relations Theory After 1945,” in Michael W. Doyle and G. John Ikenberry, eds., New Thinking in International Relations Theory (Boulder, CO: Westview, 1977), p. 38.
  5. Emanuel Adler, “Constructivism in International Relations: Sources, Contributions, Debates and Future Directions,” in Walter Carlsnaes, Thomas Risse, and Beth Simmons, eds., Handbook of International Relations (Thousand Oaks, CA: Sage, 2003).
  6. IanHurd,quotingAlexanderWendt,“Constructivism,”inChristopherReus-SmitandDuncan Snidal, eds., Oxford Handbook of International Relations (Oxford: Oxford University Press, 2008).
  7. Jacqui True, “Feminism,” in Scott Burchill and Andrew Linklater, eds., Theories of International Relations, 3rd ed. (New York: Palgrave Macmillan, 2005), p. 233.
  8. Michael Barnett, “Social Constructivism” in John Baylis and Steve Smith, eds.,
    The Globalization of World Politics, 3rd ed. (Oxford: Oxford University Press, 2005), p. 260.
  9. John Maynard Keynes, The General Theory of EmploymentInterest and Money (London: Macmillan, 1936), p. 383.
  10. Sales and GDP are different measures, so the comparison is imperfect. Nonetheless, it understates the importance of corporations, since corporate sales are a component of GDP.
  11. Robert Gilpin, War and Change in World Politics (Cambridge: Cambridge University Press, 1981), pp. 227–228.
  12. Thucydides, History of the Peloponnesian War 2.63, trans. Richard Crawley; in Robert B. Strassler, ed., The Landmark Thucydides: A Comprehensive Guide to the Peloponnesian War(New York: Touchstone, 1996), pp. 125–126.
  13. 1.78; in ibid., p. 44.
  14. 1.36; ibid., p. 24.
  15. 1.44; ibid., p. 28.
  16. 1.22; ibid., p. 16.
  17. Donald Kagan, The Outbreak of the Peloponnesian War (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1969), p. 354. For an alternative interpretation of the realities of Athenian expansion, see G. E. M. de Ste. Croix, The Origins of the Peloponnesian War (Ithaca, NY: Cornell University Press, 1972), pp. 60, 201–203.
  18. Joseph S. Nye, Jr., “As China Rises, Must Others Bow?” The Economist, June 27, 1998, p. 23.
  19. Thucydides, History of the Peloponnesian War 1.33, p. 22.
  20. 5.89; ibid., p. 352.
  21. 1.76; ibid., p. 43.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.