Chuyện về cố Tổng Giám Mục/cố Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

Chuyện về Cố Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận

Các chức khácHồng y đẳng phó tế nhà thờ Santa Maria della Scala (2001–2002)
Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công lý và Hòa bình (1994–1998) 
Tổng giám mục Phó Sài Gòn (1975–1994) 
Giám mục chính tòa Nha Trang (1967–1975)
Truyền chức
Thụ phong11 tháng 6 năm 1953
Tấn phong24 tháng 6 năm 1967
Thăng Hồng y21 tháng 2 năm 2001
Thông tin cá nhân
Sinh17 tháng 4 năm 1928
HuếViệt Nam
Mất16 tháng 9, 2002(74 tuổi)
RômaÝ
Nơi an tángNhà thờ Santa Maria della Scala, Roma
Quốc tịchViệt Nam 
Vatican
Hệ pháiCông giáo
Nơi sinh trưởngHuế
Cha mẹÔng Tađêô Nguyễn Văn Ấm 
Bà Êlizabeth Ngô Đình Thị Hiệp
Khẩu hiệuGaudium et Spes 
(Vui mừng và Hy vọng)
Cách xưng hô với
Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
Danh hiệuĐức Hồng Y
Trang trọngĐức Hồng y
Thân mậtCha
Sau khi chếtĐức Cố Hồng Y
Khẩu hiệuVui mừng và Hy vọng
TòaNha Trang (1967–1975)
Vadesi (1975–2002)
Sài Gòn (phó 1975–1994) 
Giáo triều Rôma(1994-2002)

Ông sinh ngày 17 tháng 04 năm 1928 tại Huế trong một gia đình có truyền thống Công giáo, từng chịu tử đạo trong thế kỉ XVII.

Năm 1953, ông được thụ phong linh mục do Giám mục Tông Toà Giáo phận Huế Jean-Baptiste Urrutia Thi chủ phong. Tháng 4 năm 1967, linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được Giáo hoàng Phaolô VI bổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang, kế vị Giám mục Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi.

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó của Tổng giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tạm hoãn về Sài Gòn, đến ngày 7 tháng 5 mới về để nhận nhiệm vụ mới.[2] Ngày 1 tháng 7 năm 1975, chính quyền yêu cầu Giám mục Nguyễn Văn Thuận trở về chức vụ cũ tại giáo phận Nha Trang như trước đây. Ngày 15 tháng 8 năm 1975, ông bị bắt, bị tù và cải tạo suốt 13 năm.

Năm 1989 ông được phép xuất ngoại sang Úc thăm cha mẹ, sau đó sang Roma gặp Giáo hoàng. Quay trở về Việt Nam, tháng 11 cùng năm, ông mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, đã được nhập viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và được giải phẫu, nhưng bệnh tình nặng, nên đi Roma tiếp tục điều trị. Ông đến Roma tháng 4 năm 1990. Trong khi đang được điều trị bệnh tại Roma, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ông không còn được trở lại Việt Nam.

Trong những năm 1992 và 1993, Tòa Thánh bàn luận với chính quyền Việt Nam, và đề nghị cho ông về Việt Nam làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Hà Nội nhưng không được chính quyền chấp nhận. Năm 1994, ông từ chức Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí MinhTòa Thánh bổ nhiệm ông giữ chức vụ Phó chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình. Năm 1998, Hồng y Roger Etchegaray về hưu, ông đảm nhận chức vụ Chủ tịch, khiến ông trờ thành người Công giáo Việt Nam nhận chức vụ cao nhất trong Giáo hội Công giáo Rôma từ trước đến nay.

Tháng 1 năm 2001, Giáo hoàng Gioan Phaolô II chọn ông làm hồng y, và theo các báo quốc tế, ông cũng được đánh giá là ứng cử viên sáng giá kế vị giáo hoàng Gioan Phaolô II già yếu. Ngày 16 tháng 9 năm 2002, vì bị ung thư tiền liệt tuyến, ông qua đời tại Rôma.

Ngày 17 tháng 9 năm 2007, Giáo hội Công giáo Rôma bắt đầu những thủ tục đầu tiên cho việc tuyên phong chân phước và phong thánh cho ông.[3]

Ngày 05 tháng 07 năm 2013, người Công giáo Việt Nam tưng bừng tổ chức lễ bế mạc của các giai đoạn giáo phận của tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc dù ông chưa được phong thánh, các tín hữu Việt Nam đã coi ông là một vị thánh và xem ông như một biểu tượng của Giáo hội Việt Nam.

Ngày 04 tháng 05 năm 2017, Giáo hoàng Phanxicô đã phê chuẩn các sắc lệnh của Bộ Tuyên thánh, tiến thêm một bước trong án tuyên thánh cho Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Giáo hoàng đã công nhận nhân đức anh hùng của Hồng y Nguyễn Văn Thuận từng bị cầm tù vì đức tin tại Việt Nam trong suốt 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam. Giáo hoàng tuyên bố Hồng y Thuận là Đấng đáng kính, đây là bước tiến quan trọng trong án phong thánh cho ông.[4]

Thiếu thời

Tu Tập & Linh mục

Năm lên 12 tuổi, vào tháng 08 năm 1940, ông gia nhập Tiểu chủng viện An Ninh, tại Cửa Tùng, Quảng Trị, sau đó, theo học triết và thần học tại Đại chủng viện Kim Long, Huế. Ngày 11 tháng 6 năm 1953, Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được thụ phong linh mục tại Nhà thờ chính tòa Phủ Cam, do Giám mục Jean-Baptiste Urrutia Thi (thuộc MEP) – Giám mục Đại diện Tông Tòa Huế làm chủ phong.[2]

Sau khi được chịu chức, Tân linh mục được cử đến Giáo xứ Tam Tòa, Đồng Hới, làm phụ tá cho linh mục Đa Minh Hoàng Văn Tâm. Sau đó, được chuyển đến Giáo xứ Phanxicô Xaviê – Huế, làm phụ tá cho Linh mục Richard Barbon, tên Việt là Triết.[2] Sau một vài tháng tại giáo xứ Phanxicô Xaviê, Giám mục Urrutia lại bổ nhiệm Linh mục Thuận làm tuyên úy của Viện Pellerin, Bệnh viện Trung ương, và các nhà tù tỉnh.[5] Linh mục Thuận tình nguyện làm tuyên úy cho nhà tù, nhà thương, trại cùi.[7]

Từ năm 1956 đến năm 1959, ông đi du học tại Phân khoa Giáo luật thuộc Ðại học Giáo hoàng Urbaniana, Roma. Ông hoàn thành việc học với văn bằng tiến sĩ Giáo luật qua việc bảo vệ xuất sắc luận án: “Studium comparativum de organisatione capellanorum militum in mondo” (“Tổ chức Tuyên úy Quân đội trên thế giới”).[2] Trong thời gian du học, ông có dịp tiếp xúc, sinh hoạt với các phong trào Ðạo Binh Ðức Mẹ, Hướng Ðạo, Cursillos, Focolare. Các phong trào này ảnh hưởng đến đường lối hoạt động của ông sau này.[8]

Trở về nước, năm 1960, Linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được cử làm giáo sư Tiểu Chủng viện Huế.[2] Trong thời gian ngắn, ông khởi công xây cất cơ sở mới và thành lập Tiểu chủng viện Hoan Thiện ở ngay thành phố Huế, cạnh trường Thiên Hữu.[8]

Từ năm 1962, ông làm Giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện. Năm 1964, khi mới 36 tuổi, Tổng giám mục Huế Phêrô Máctinô Ngô Đình Thục chọn ông làm Linh mục Tổng Đại diện Tổng giáo phận Huế cho đến năm 1967.[2]

Giám mục Nha Trang (1967 – 1975)

Ngày 13 tháng 4 năm 1967, linh mục Phanxicô Xaviê Thuận được Giáo hoàng Phaolô VIbổ nhiệm làm Giám mục chính tòa Giáo phận Nha Trang người Việt Nam tiên khởi, thay thế Giám mục Paul Raymond Marie Marcel Piquet Lợi (thuộc MEP). Ngày 24 tháng 6 năm 1967, vào lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục bởi Khâm sứ Tòa Thánh Angelo Palmas, cùng với hai Giám mục khác là Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế Philípphê Nguyễn Kim Điền và Giám mục Jean-Baptiste Urrutia Thi – Nguyên Tổng giám mục Hiệu toà Isauropolis, Giám quản giáo phận phận Huế là phụ phong. Khẩu hiệu của ông là: Gaudium et Spes (Vui Mừng và Hy vọng), tên của Hiến chế Mục vụ của Công đồng Vaticanô II.[2]

Ngày 10 tháng 7 năm 1967, ông về nhận Giáo phận Nha Trang.[5] Trong 8 năm làm giám mục tại đây, ông rất thành công trong việc phát triển Giáo phận, ông chú trọng việc đào tạo nhân sự, gia tăng con số các Đại chủng sinh từ 42 lên 147, số Tiểu chủng sinh cũng gia tăng từ 200 lên đến 500, học trong 4 Tiểu chủng viện. Ông tổ chức các khóa thường huấn linh mục cho sáu giáo phận thuộc Giáo tỉnh Huế, ông thành lập và phát triển các hội đoàn giáo dân, phong trào Công giáo tiến hành như: Phong trào Công lý và Hòa bình, Cursillos, Focolare, Hướng đạo, Cộng đoàn La vang, Tu hội Hy Vọng. Ông cho phổ biến nhiều thư với các chủ đề: Tỉnh thức và cầu nguyện vào năm 1968; Vững mạnh trong Ðức tin để Tiến bước trong An bình, năm 1969; Công lý và Hòa bình, năm 1970; Sứ vụ Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta, năm 1971; Kỷ niệm 300 năm vào năm 1971; Năm Thánh Canh tân và Hòa giải, năm 1973. Trong Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam, ông từng trải qua những nhiệm vụ: Chủ tịch Ủy ban Công Lý và Hòa Bình; Chủ tịch Ủy ban Truyền thông xã hội (1967 – 1975); Chủ tịch Ủy ban Phát triển Việt Nam (1967 – 1975); Phụ trách Ủy ban Di dân; Cộng tác trong việc thành lập Ðài Phát thanh Chân Lý Á Châu.[2]

Năm 1970, nhân kỷ niệm 300 năm Giám mục Lambert de la Motte (phiên âm tên Việt là Lâm Bích) đến Giáo phận Nha Trang, Giám mục Nguyễn Văn Thuận đã sáng lập Chủng viện Lâm Bích.[9]

Trong những cuộc họp ông có cơ hội gặp gỡ Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Tổng giám mục của Cracow, và để học hỏi những kinh nghiệm mục vụ trong giai đoạn khó khăn nhất của Ba Lan dưới chế độ cộng sản. Từ năm 1971 đến năm 1975, ông được chọn làm Cố vấn Hội Ðồng Giáo hoàng về Giáo dân, Ông cũng được bổ nhiệm làm Cố vấn và thành viên của Thánh Bộ Truyền giáo, nhận trách nhiệm đến thăm và giám sát các chủng viện tại một số quốc gia ở châu Phi.[5] Ngoài ra, ông cũng là thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích.[2]

Tổng Giám mục phó Sài Gòn (1975 – 1994)

Huy hiệu Tổng giám mục Phó của ông

Ngày 23 tháng 4 năm 1975, ông được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Tổng Giám mục hiệu tòa Vadesi, Tổng Giám mục phó của Tổng giáo phận Sài Gòn với quyền kế vị. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông tạm hoãn về Sài Gòn, đến ngày 7 tháng 5 thì ông mới về thành phố này để nhận nhiệm vụ mới.[2] Trong sách “Năm chiếc bánh và hai con cá” do chính ông viết, ông hồi tưởng về sự kiện này như sau:Ðêm ấy 07.05.1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang – vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Ðức Thánh Cha. Tiếp đến là gian khổ, thử thách tại Sàigòn… [10]

Ngày 27 tháng 6 năm 1975, Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn – Gia Định công bố quyết định không cho ông được hoạt động tôn giáo tại nhiệm sở mới. Trong cuộc họp kéo dài từ 15 đến 19 giờ, ông đã tiếp xúc với ba Cán bộ cao cấp của Ủy ban Quân quản cùng các người Công giáo yêu nước, họ cho rằng việc thuyên chuyển một người họ hàng với Ngô Đình Diệm vào Sài Gòn vào thời điểm này là âm mưu của các nước đế quốc.[10] Ngày 1 tháng 7 năm 1975, Ủy ban Quân Quản gởi cho ông một văn thư yêu cầu phải trở lại nơi cư trú như trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.[11]

Ở trong tù và bị quản chế

Bị bắt

Ngày 15 tháng 08 năm 1975, Ủy ban Quân quản mở cuộc họp tại Nhà hát Thành phố để tuyên truyền về “âm mưu” và buộc tội Tân Tổng giám mục Phó Nguyễn Văn Thuận. Bị mời đến có khoảng 350 giáo sĩ, tu sĩ. Lúc 14 giờ, hai giám mục của Sài Gòn là Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình và Tổng giám mục Phó Nguyễn Văn Thuận được đưa đến Dinh Độc Lập. Khi đi dọc hành lang để đến phòng họp, tổng giám mục Bình đi trước giám mục Thuận thì một công an chặn và dẫn giám mục Thuận rời khỏi đó. Tổng giám mục Bình có cuộc hội kiến với tướng Trà. Khi ra về, khi được hỏi về giám mục Thuận để cùng ra về, Tổng giám mục Bình nhận được hồi đáp của tướng Trà:Như cụ thấy, chế độ này là chế độ Cộng sản. Tên Thuận là dòng dõi Ngô Ðình Diệm, chúng nó chống Cách mạng từ trong trứng chống ra, nên không thể để nó ở đây được.[10] Cùng ngày, Công an đến bắt ông đưa ra Nha Trang, nhưng không phải đưa về Tòa Giám mục Nha Trang mà đưa đến quản thúc tại Giáo xứ Cây Vông, thuộc xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.[12] Ít lâu sau, ông bị đưa vào giam ở trại Phú Khánh, Nha Trang. Đến ngày 29 tháng 11 năm 1976, ông bị chính quyền đưa vào giam ở trại Thủ Đức. Hai ngày sau, ông cùng nhiều tù nhân chính trị khác được đưa xuống tàu Trường Xuân đi ra Bắc. Tại miền Bắc, ông đã bị giam trong 9 năm ở nhiều trại tù khác nhau, và bị quản chế 3 năm[13] mặc dù chính quyền không có một phiên tòa xét xử về tội danh nào.

Ngày 22 tháng 9 năm 1993, nhân việc rắc rối về việc bổ nhiệm Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi từ Phan Thiết về Sài Gòn, ông Trương Tấn Sang, lúc đó là Chủ tịch UBNDTP Hồ Chí Minh, gửi thư cho TGM Phaolô Nguyễn Văn Bình có nhắc lại việc bổ nhiệm TGM Nguyễn Văn Thuận (cho thấy nguyên nhân ông bị tù 13 năm) như sau: “Như cụ đã biết, năm 1975 Chính phủ ta đã không chấp nhận ông Nguyễn Văn Thuận về Giáo phận thành phố và dứt khóat sẽ không bao giờ chấp nhận, vì ông Nguyễn Văn Thuận đã từng gắn bó với một gia đình có nhiều nợ máu với nhân dân và bản thân ông Nguyễn Văn Thuận cũng có một quá trình lâu dài và tinh vi chống phá sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ độc lập dân tộc.” [14]

Trong tù, ông vẫn cử hành thánh lễ cho chính mình và cho những tù nhân khác. Những người đến thăm đã lén chuyển rượu lễ và bánh lễ cho ông, ngụy trang bằng chai thuốc trị đau bao tử. Với những thứ đó, mỗi ngày ông dùng ba giọt rượu và một giọt nước đổ vào lòng bàn tay để cử hành Bí tích Thánh Thể (thánh lễ). Buổi tối, khi ông và các tù nhân khác phải đi ngủ, họ nằm sát nhau để cử hành thánh lễ, sau đó lén chuyền Thánh Thể cho nhau qua các tấm màn chống muỗi. Họ dùng bao thuốc lá để cất giữ Thánh Thể.[15]

Tình bạn với cai tù

Tập tin:Thánh giá Hồng y Thuận.pngThánh giá Hồng y Thuận làm trong tù

Trong khi ở trong tù với năm cai ngục trẻ. Những phụ trách đã cấm họ để nói chuyện với ông. Ban đầu vệ sĩ được thay đổi mỗi mười lăm ngày. Quản lý nhà tù tin các vệ sĩ có nguy cơ bị “nhiễm” – trở thành bạn bè ông nếu ở lại với ông trong thời gian dài. Cuối cùng, họ dừng không thay đổi nữa vì sợ ông sẽ làm “ô nhiễm” toàn bộ lực lượng. Do đó, các sinh viên trẻ đã trở thành bạn ông.[16]

Ông nói với họ qua cánh cửa về cuộc sống, các quốc gia khác nhau ông đã đến thăm, gia đình, thời thơ ấu, ông đã dạy họ tiếng Anh, tiếng Pháp, và ngay cả một chút tiếng Nga. Một ngày, ông hỏi một trong số họ mang lại một cái gì đó để cắt một miếng gỗ và ông đã có thể làm cây thánh giá. Mặc dù tất cả các biểu tượng tôn giáo đã bị cấm, ông đã có một dây chuyền thánh giá trong 3 tháng. Ông giấu trong một bánh xà phòng. Một lần khác ông hỏi xin một đoạn dây điện và một cặp kìm. Viên cai tù của ông nói: Tôi sẽ mang lại nhưng ông phải hoàn thành trong bốn giờ – trong bốn giờ ông đã nắn một chuỗi dây chuyền. Thánh giá đó về sau được mạ bạc và nó là thập giá mà ông vẫn đeo.[16]

Viết sách trong thời gian quản chếSửa đổi

Ngày 16 tháng 8 năm 1975, một ngày sau khi bị bắt, ông bắt đầu viết cuốn Năm chiếc bánh và hai con cá. Cùng viết song song với cuốn Năm chiếc bánh và hai con cá là cuốn Đường hy vọng với 1001 câu suy niệm ngắn gọn để giúp giáo dân sống đạo một cách kiên vững trong hoàn cảnh mới của đất nước – cuốn sách được đánh giá là một di chúc tinh thần xúc động đối với nhiều người Công giáo Việt Nam.[7][17][18] Đến năm 1986 thì mới cơ bản hoàn thành cuốn sách. Năm 1997, ông viết lời mở đầu cho cuốn sách này.[17]

Sau này, Hồng y Roger Etchegaray cho biết Hồng y Thuận đã kể lại cho ông nghe khoảng thời gian viết quyển sách Đường hy vọng:[19]

Trong thời gian quản chế ở Giang Xá, cách Hà Nội 17 cây số, từ 1978 đến 1982, ông cũng đã viết thêm hai cuốn sách với chủ đề hy vọng. Ðó là cuốn Ðường Hy vọng dưới ánh sáng lời Chúa và Cộng đồng Vatican II và cuốn Những người lữ hành trên Ðường Hy vọng. Những năm biệt giam sau đó, ông đã viết khoảng 400 bài suy niệm bằng tiếng ngoại quốc để thành tập “Cầu nguyện Hy vọng”.[7]

Phản ứng của gia đìnhSửa đổi

Bà Thủy Tiên – em gái Hồng y Thuận kể về thời kì này, bà cho biết:[20]

Bà Thủy Tiên cũng cho biết:[20]

Được ra tù

Tìm hiểu thêmBài hoặc đoạn này cần được wiki hóa theo các quy cách định dạng và văn phong Wikipedia.
Xin hãy giúp phát triển bài này bằng cách liên kết trong đến các mục từ thích hợp khác.

Ngày 21 tháng 11 năm 1988, một cán bộ đến gặp ông:[7]

Cơm trưa xong, ông được đưa đến Nhà khách Chính phủ. Sau khi bắt tay, ông Mai Chí Thọ – Bộ trưởng Bộ Nội vụ, nói:

Thấy Bộ trưởng bối rối, ông nói tiếp:

Nói vậy rồi Bộ trưởng quay sang nói với người cán bộ:

Ngày 23 tháng 11 năm 1988 thì ông được thả tự do và bị quản chế tại tòa Giám mục Hà Nội.[7]

Lưu vong (1990 – 2002)

Rời Việt Nam và đề nghị của Tòa Thánh

Ngày 27 tháng 3 năm 1989 ông rời khỏi Việt Nam sang Úc thăm cha mẹ đang sống tại đó, sau đó sang Roma gặp Giáo hoàng.[11] Quay trở về Việt Nam, tháng 11 năm 1989 ông mắc bệnh viêm tiền liệt tuyến, đã được nhập viện Bệnh viện Việt Đức Hà Nội và được giải phẫu, nhưng bệnh tình nặng kéo dài, nên mới được phép đi Roma tiếp tục điều trị. Ông đến Roma tháng 4 năm 1990.[6] Trong khi đang được điều trị bệnh tại Roma, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố ông không còn được trở lại Việt Nam (persona non grata).[21] Năm 1993, ông đến Úc khi cha mất.[20]

Trong cuộc sống lưu vong của mình, ông đã được mời đi giảng và thuyết trình tại nhiều quốc gia và đối tượng khác nhau, ví dụ như Nhà thờ Notre Dame de Paris (Nhà thờ Đức Bà Pari) trong Mùa Chay, và tại các trường đại học khác nhau trên thế giới. Tại Mexico vào tháng 1998, ông giảng cho hơn 50.000 thanh niên.[5]

Ngày 14 tháng 1 năm 1992, phái đoàn Toà Thánh do Đức ông C.Celli dẫn đầu đến Hà Nội để làm việc với chính phủ Việt Nam, đề nghị giải pháp toàn bộ gồm ba điểm: Bổ nhiệm Tổng giám mục Giám quản Phạm Đình Tụng là Tổng giám mục Hà Nội, Giám mục Nguyễn Văn Thuận làm Tổng giám mục Phó Hà Nội và Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên, do chính phủ không chấp nhận Giám mục Thuận làm Tổng giám mục Phó Hà Nội, và Toà Thánh cho đây là biện pháp toàn bộ nên giải pháp bất thành, phái đoàn Toà Thánh trong lần làm việc với chính phủ năm 1994 thừa nhận đây là một sai lầm.[22]

Sau đó, cuộc gặp từ ngày 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1993, phái đoàn Toà Thánh đưa ra giải pháp toàn bộ mới, trong đó bớt đi đề nghị đầu tiên so với năm 1992, vẫn giữ nguyên 2 đề nghị sau về các giám mục Huỳnh Văn Nghi và Nguyễn Văn Thuận. Nhưng chính phủ chỉ đồng ý đề nghị về phần Giám mục Nghi mà không chấp nhận Giám mục Thuận ra Hà Nội, vì là một giải pháp toàn bộ, Toà Thánh không bổ nhiệm Giám mục Nghi làm Tổng giám mục Phó như đã định.[23] Tổng giám mục Celli được cho là cố gắng linh động nhằm chọn được các giám mục kế vị ở Hà Nội để kế vị Hồng y Căn cũng như ở Sài Gòn.[24]

Công việc tại Giáo triều

Tại Vatican, ông được mời làm thành viên Ủy ban Quốc tế về Di trú và Di dân. Ngày 9 tháng 4 năm 1994, sau khi việc đề nghị cho ông làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Hà Nội năm 1992 – 1993 bất thành nên Tòa Thánh bổ nhiệm ông làm Phó chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, cũng trong thời gian này ông từ chức Tổng Giám mục phó Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (mặc dù ông không được chính quyền Việt Nam công nhận nhưng trên lý thuyết ông vẫn được công nhận bởi Tòa Thánh cho đến ngày từ chức).[21]

Trong Mùa Chay năm 2000, ông đã nhận được lời mời từ Giáo hoàng Gioan Phaolô II mời ông giảng tĩnh tâm Mùa Chay cho giáo triều Vatican, vào lúc bắt đầu của thiên niên kỷ thứ ba.[5] Trong Nhà nguyện Mẹ Đấng Cứu Thế, từ chiều ngày 12 tháng 03 đến 18 tháng 03 năm 2000, ông giảng tĩnh tâm cho Giáo hoàng và các thành viên Giáo triều Rôma. Những bài giảng của ông được in thành sách Chứng nhân Hy Vọng.[7] Khi Giáo hoàng gặp ông trong buổi triều yết riêng và cho ông một chén thánh, Hồng y Thuận cho biết: 24 năm trước, tôi cử hành Thánh Lễ với ba giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay của tôi, tôi sẽ không bao giờ có nghĩ ngày hôm nay, Đức Thánh Cha sẽ cho tôi một chén mạ vàng. Chúa của chúng tôi là rất nhân lành và do đó là tình yêu của Người.[5]

Chiều ngày 20 tháng 8 năm 2000, ngày bế mạc ngày Quốc tế Giới Trẻ thứ XV tại Roma, ông đã tiếp đón hai Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, giám mục chính tòa Giáo phận Thái Bình, chủ tịch Ủy ban phụ trách Giáo dân của Hội đồng Giám mục Việt Nam và Giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Giám mục chính tòa Giáo phận Phát Diệm, cùng phái đoàn Việt nam tham dự Ngày Quốc tế Giới Trẻ tại nhà của ông. Trong cuộc gặp, ông cũng mời một số linh mục hiện làm việc tại Roma, trong đó có Ðức ông Barnabê Nguyễn Văn Phương, thuộc Bộ Truyền giáo, và Ðức ông Giuse Đinh Đức Đạo, phụ trách cộng đồng công giáo Hải ngoại.[25]

Các giải thưởng

Ngày 11 tháng 5 năm 1996 ông được nhận bằng Tiến sĩ Danh dự tại Đại Chủng viện Notre Dame ở New OrleansLouisianaHoa Kỳ. Ngày 24 tháng 6 năm 1998, ông được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, thay thế cho Hồng y Roger Etchegaray nghỉ hưu.[21]

Ông được tặng thưởng nhiều huân chương do bởi đời sống chứng tá và các hoạt động xây dựng công lý và hòa bình. Ngày 9 tháng 6năm 1999, tại Tòa Đại sứ Pháp bên cạnh Tòa Thánh, Chính phủ Pháp đã trao tặng ông huy chương “Commandeur de l’Ordre National du Mérite”. Ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Tòa Thị chính Rôma, Hiệp hội “Cùng nhau xây dựng hòa bình” đã trao tặng Huy chương vinh danh ông. Ngày 20 tháng 10 năm 2001, tại Torino, ông được trao tặng Huy Chương Hòa bình do tổ chức SERMIG – Hiệp hội Truyền giáo của giới trẻ. Ngày 9 tháng 12 năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu G. Donati cũng đã trao tặng ông Giải thưởng Hòa bình năm 2001.[2]

Vinh thăng hồng y

Công bố

Ngày 21 tháng 1 năm 2001Giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố tuyển chọn ông vào Hồng y đoàn, tước hiệu Hồng y linh mục nhà thờ Santa Maria della Scala. Do không thể quay về Việt Nam nên ông tiếp tục đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình ở Vatican với tư cách hồng y bậc phó tế, nên ông là hồng y bậc phó tế đầu tiên người Việt Nam và là hồng y thứ 4 Việt Nam. Ngày 21 tháng 2 năm 2001 lễ nhận mũ hồng y của ông được tổ chức.[2]

Cũng được vinh thăng hồng y cùng ông đợt này còn có các Giám mục từ các nơi như: Hồng y Jorge Mario Bergoglio người Argentina – sau này là Giáo hoàng Phanxicô; Hồng y Louis-Marie Bille tại Lyon, Pháp; Hồng y Ivan Dias tại Bombay, Ấn Ðộ,…[26]

Ngoài ra ông còn là hồng y phó tế duy nhất của Giáo hội Công giáo Việt Nam, trong khi 3 vị được vinh thăng trước đều là hồng y linh mục.

Huy hiệuS

Huy hiệu Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, có khẩu hiệu Latinh nghĩa là: “Vui mừng và hy vọng”

Huy hiệu của ông có nền màu xanh dương với ngôi sao trắng tượng trưng cho Đức Maria là ngôi Sao Biển. Ngôi sao dẫn đường cho những con thuyền trong cuộc du hành từ đời này cho đến vĩnh cửu. Mười khúc tre tượng trưng cho 10 điều răn. Tre là một biểu tượng Á Châu cho người quân tử. Nổi bật trên màu xanh và ngôi sao là ba ngọn núi biểu tượng của đại dương và lục địa. Ba ngọn núi còn là biểu trưng cho ba miền Việt Nam: Bắc, Trung, và Nam. Núi và biển cả cũng còn tượng trưng cho Nha Trang, là Giáo phận ông làm Giám mục chính tòa.[7]

Khẩu hiệu bằng tiếng La Tinh GAUDIUM ET SPES, nghĩa là “Vui mừng và hy vọng” cũng là nhan đề của Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay, được Công đồng Chung Vaticanô II ban hành ngày 7 tháng 12 năm 1965, ngày cuối cùng trước khi bế mạc Công Ðồng kéo dài 3 năm 2 tháng này (11 tháng 10 năm 1962 đến ngày 8 tháng 12 năm 1965). Cùng với Hiến Chế Tín Lý về Giáo hội Ánh Sáng Muôn Dân – ” Lumen Gentium”, qua Công Ðồng này, Giáo hội đã hoàn toàn muốn canh tân chính mình để có thể thực sự phản ánh Dung Nhan Chúa Kitô, trong sứ vụ Muối Ðất Men Bột của mình, ở một thế giới càng văn minh về vật chất và nhân bản lại càng có dấu hiệu và triệu chứng phá sản đức tin cũng như băng hoại luân lý. Huy hiệu của Hồng y Thuận không những nói lên mục tiêu mà ông đặt ra cho mình để theo đuổi suốt phần đời còn lại, mà còn là tất cả những gì ông đã sống và làm việc, là gắn bó với Đức Maria, với đức tin của mình, với Giáo hội mà không tách khỏi quê hương và dân tộc Việt Nam.[7]

Dư luận quốc tế

Trong số phát hành ngày 21 tháng 2 năm 2001, Nhật báo The Los Angeles Times có bài với nhan đề “The Men Who Would Be Pope?” (Người có thể lên ngôi Giáo hoàng?) đã dự đoán danh sách 14 vị hồng y có nhiều khả năng kế vị Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong đó có ông.[27]

Trong khi đó Nhật báo The New York Post, ngày 25 tháng 2 năm 2001, cũng đăng bài nhan đề “Is Asian Cardinal In Line For Papacy ?” (Một Hồng y Á Châu Có Thể Lên Ngôi Giáo hoàng?) của ký giả Rod Dreher. Trong đó có đoạn:[27]

Năm 2001 ông bị bướu lạ ở bụng, phải qua Boston, Hoa Kỳ, để được giải phẫu. Tháng 5 năm 2002 bệnh tái phát. Ngày 28 tháng 4 năm 2002, ông về Úc thăm mẹ và mừng 100 tuổi của bà trước khi mổ lại lần thứ hai vào ngày 8 tháng 5 năm 2002 tại Milano, nhưng vì tuổi già và sức khỏe không bảo đảm, nên cuộc phẫu thuật mới được thực hiện khoảng một phần ba thì ngưng lại.[11]

Qua đời

6 giờ chiều ngày 16 tháng 9 năm 2002, ông qua đời tại Roma do bệnh ung thư ruột.[2] Thánh lễ an táng ông được chính Giáo hoàng Gioan Phaolô II cử hành trọng thể vào chiều ngày 20 tháng 9 năm 2002, với 4.000 người tham dự, trong đó có 4 hồng y và 130 giám mục cùng với ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.[28] Trong số các giám mục tham dự thánh lễ an táng, có sự hiện diện của 5 giám mục Việt Nam: Tổng giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh; Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế; giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám mục Giáo phận Nha Trang; giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến, Giám mục Giáo phận Phát Diệm; và giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nho, Giám mục phó Giáo phận Nha Trang.

Trong thánh lễ, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhận xét ông:[2]

10 năm sau khi ông được an táng tại nghĩa trang Verano, di hài ông đã được cải táng về Nhà thờ hiệu tòa của ông, Nhà thờ Đức Mẹ Scala, ở trung tâm Roma sáng ngày 8 tháng 6 năm 2012.[28]

Ở Tu viện Celittinen, Koeln, bây giờ có căn phòng dành riêng lưu giữ những hình ảnh cùng kỷ vật của ông, và cũng tại nhà Dòng này ông đã sống trải qua nhiều ngày năm tháng lúc còn sinh thời, nhất là đã dâng thánh lễ Misa với nhà Dòng tại nhà nguyện tu viện.[29]

Mở án tuyên chân phước

Kinh xin ơn

Ngày 16 tháng 9 năm 2007, giám mục Giampaolo Crepaldi, Tổng thư ký Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình viết kinh xin ơn ông:[30]

Thủ tục tuyên chân phước

Ngày 17 tháng 9 năm 2007, Giáo hội Công giáo Rôma bắt đầu những thủ tục đầu tiên cho việc tuyên chân phước và tuyên thánh cho ông.[3] Cùng ngày, từ dinh thự Giáo hoàng ở Castel Gandolfo, trong buổi triều yết, Giáo hoàng Biển Đức XVI đã nói:[2]

Và Giáo hoàng Biển Đức kết thúc: Anh chị em thân mến, tôi vui mừng sâu xa đón nhận tin về việc khởi sự án tuyên chân phước cho vị Ngôn Sứ đặc biệt về niềm hy vọng Kitô này và trong khi chúng ta phó thác cho Chúa linh hồn ưu tuyển của ngài, chúng ta hãy cầu nguyện để tấm gương của Đức Cố Hồng y là giáo huấn hữu hiệu cho chúng ta. Với lời cầu chúc đó, tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em.

Đây là lần đầu tiên có một người Việt Nam được khởi sự án tuyên chân phước mà không phải là tử đạo.[31] Theo tiến trình phong thánh của Giáo hội Công giáo Rôma thì Hồng y Nguyễn Văn Thuận đang ở bậc Đấng đáng kính (một trong bốn bậc phong thánh: Tôi tớ ChúaĐấng Đáng kínhChân phướcHiển Thánh).

Chính thức mở án tuyên Chân phước và Hiển Thánh

Vào sáng ngày 22 tháng 10 năm 2010, Hồng y Peter Turkson, chủ sự lễ cầu nguyện cho ông tại Nhà thờ Santa Maria della Scala. Tham dự thánh lễ có các thành viên thuộc Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình, các Hồng y, Giám mục, linh mục, thân nhân, bạn hữu của Hồng y Thuận. Tiếp đến, vào lúc 12 giờ trưa cùng ngày, tại Phòng Hòa Giải trong Dinh Laterano ở Roma, một phiên họp chính thức mở cuộc điều tra án tuyên chân phước và tuyên thánh cho ông.[32] Nghi thức bắt đầu bằng một bài Thánh ca, sau đó là việc đọc biên bản. Tiếp đến, Hồng y Agostino Vallini, Giám quản Giáo phận Rôma tuyên bố chính thức mở Án điều tra.[2][32]

Kết thúc giai đoạn tuyên chân phước tại giáo phận

Ngày 05 tháng 07 năm 2013, người Công giáo Việt Nam tưng bừng tổ chức lễ bế mạc của các giai đoạn giáo phận của tiến trình tuyên chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc dù ông chưa được tuyên thánh, nhiều tín hữu Việt Nam đã coi ông là một vị thánh và xem ông như một biểu tượng của Giáo hội Việt Nam.[33]

Tuy nhiên, tiến trình tuyên chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận bị chính quyền Việt Nam phản đối và cản trở. Có ý kiến từ giới trí thức Công giáo người Việt ở nước ngoài cho rằng, chính án tù kéo dài mà Hồng y Thuận phải chịu sau năm 1975 ở Việt Nam là một vấn đề.[34] Chính quyền đã ngăn chặn nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức, một nhân chứng trong tiến trình phong chân phước cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi ông đang lên máy bay đi Roma theo lời mời của Tòa thánh Vatican tham dự lễ “Bế mạc phần điều tra tại địa phương” trong hồ sơ phong chân phước và hiển thánh cho Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.[35][36]

Thánh bộ Vatican sẽ xem xét hồ sơ và nếu mọi việc thuận lợi thì ông có thể sẽ được tuyên chân phước, và sau đó cũng có thể được tuyên thánh. Jean-Marie Schmitz, chủ tịch hiệp hội Bạn hữu Hồng y Phanxicô Nguyễn Văn Thuận cho biết có ba phép lạ được xem là của Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, trong đó có một nữ tu bị mù đã được sáng mắt.[37]

Ngày 3 tháng 5 năm 2017, Uỷ ban Hồng y và Giám mục thuộc Bộ Tuyên Thánh tại Vatican đã vừa biểu quyết đồng loạt chấp nhận Án Tuyên Thánh của Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, vì thế sắp tới Giáo hoàng Phanxicô sẽ công bố Sắc chỉ nâng cố Hồng y Thuận lên bậc Đấng Đáng Kính. Với bước ngoặt quan trọng này, Hồng y Thuận sẽ tiến gần hơn đến việc được phong Chân Phước và cuối cùng là được tuyên Thánh.

Những câu nói

Cho dù các anh giết tôi, tôi vẫn yêu thương các anh. Bởi vì Chúa Kitô đã dạy tôi phải yêu thương tất cả mọi người, cả những kẻ thù. Nếu tôi không làm như vậy, tôi không đáng được gọi là Kitô hữu.
— “Năm chiếc bánh và hai con cá”- Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận
Con có một Tổ Quốc: Việt Nam. Quê hương yêu quý ngàn đời. Con hãnh diện. Con vui sướng. Con yêu non sông gấm vóc. Con yêu lịch sử vẻ vang.
— “Năm chiếc bánh và hai con cá”- Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận
Đồng tiền nếu bạn đặt dưới chân sẽ là bệ đỡ còn nếu bạn đặt trên đầu nó sẽ là gánh nặng
— “Đường Hy Vọng”- Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận
Thất bại lớn nhất của đời người là mất niềm hy vọng
— Hồng y FX Nguyễn Văn Thuận

Tác phẩm

  • Đường hy vọng (1975)
  • Đường hy vọng dưới ánh sáng Lời Chúa và Công Đồng Vaticano II (1979)
  • Những người lữ hành trên Đường Hy Vọng (1980)
  • Năm chiếc bánh và hai con cá (1975 – 1986) [17]
  • Cầu nguyện
  • Hãy trao tặng tuổi trẻ nụ cười
  • Niềm vui sống đạo
  • Sứ Điệp Đức Mẹ La Vang
  • Chứng nhân hy vọng

Nhận định

Ông Peter Hebblethwaite, trong quyển sách The Next Pope xuất bản năm 2000, có đánh giá hồng y Nguyễn Văn Thuận:

Ðức Tổng Giám mục Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, 72 tuổi, Chủ tịch Hội Ðồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình, là người kế nghiệp vị tiền nhiệm người Pháp, Hồng y Roger Etchegaray. Nhiều người nghĩ rằng khi vị Tổng Giám mục này được vinh thăng Hồng Y, Ngài sẽ là ứng viên sáng giá cho ngôi Giáo hoàng tiếp theo. Ngài là một con người mà cuộc sống luôn toát ra sự thánh thiện, khôn ngoan, khéo léo, mềm dẻo. Ngài đã bị tống giam trong tù ngục cộng sản 13 năm, trong đó có 9 năm biệt giam. Trong thời gian dài kiên trì chịu đựng một cuộc sống tận cùng khổ đau, thiếu thốn tất cả, Ngài được ơn linh ứng viết một cuốn sách tu đức rất giá trị sâu sắc với những lời văn đơn sơ nhưng đầy tính thuyết phục.

Tham khảo

Liên kết ngoài

Theo Wikipedia

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.