Bên bờ những đổ nát-Phan Xuân Sinh

              Bút ký BÊN BỜ NHỮNG ĐỔ NÁT

Phan Xuân Sinh's Profile Photo, Image may contain: one or more people, sunglasses, eyeglasses and closeup

Phan Xuân Sinh

Hôm nay đọc trên FB bút ký của một người bạn, anh Vương Trùng Dương, viết về những trường hợp gãy đổ tình yêu của những người trai trong thời chinh chiến, người yêu còn lưu giữ chiếc nhẫn của trường CTCT Đà Lạt. Bỗng dưng tôi sững sờ, dù rằng những chuyện tương tự như thế nầy tôi đã từng chứng kiến. Không trách ai hết, tất cả cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc tương tàn, mỗi lần ai đó khui lại tự nhiên mình lại cảm thấy xót xa, trăn trở. Tình yêu nó là một thứ bất diệt từ xưa tới nay không ai chối cãi được, nó dẫn ta tới thiên đường, nó đưa ta lên tuyệt đỉnh sung sướng và cũng chính nó đẩy ta xuống địa ngục, hiện thân ác quỷ đày đọa ta.

Bây giờ với tuổi đời không còn nhỏ, nhìn lại mọi sự việc: phản bội, lẫn tránh, chia tay v.v…dù rằng lỗi tại ai, mình cũng cảm thấy hối tiếc chứ không còn hận thù hay trách móc. Làm thân con gái họ phải chọn cho mình một con đường đi vinh quang nhất, an toàn nhất, ấm thân nhất, chứ dại gì chui đầui vào chỗ chết để thể hiện mức độ chung tình với người yêu, để rồi không được gì chỉ thấy thiệt thân. Tuy nhiên mình phải cúi đầu kính phục những người con gái gạt tất cả những rào cản để chung tình với người mình yêu, dù rằng người đó đã vào sinh ra tử, để làm tròn trách nhiệm của mình. Chuyện tình trong thời chiến nói mãi không hết, hạnh phúc không được nhiều chỉ thấy toàn đổ vỡ, đau lòng. Tôi bị thương mùa hè đỏ lửa (1972) nằm tại Tổng Y Viện Duy Tân Đà Nẵng, trại Ngoại Thương 1A (dành cho sĩ quan). Từ chỗ nầy tôi đã chứng kiến biết bao chuyện đau lòng. Một anh trung úy hình như thuộc Tiểu Khu Quảng Trị hay Quảng Tín gì đó (lâu quá tôi không nhớ rõ đơn vị anh đồn trú). Anh bị thương mất hai chân, có vợ và đứa con trai hai tuổi. Vợ thăm nuôi và ở lại luôn trong bệnh viện với anh. Thường thì chị đi chợ mua một ít đồ ăn nấu sẵn để ăn. Một hôm như thường lệ chị để con cho anh giữ rồi chị đi chợ nhưng lần nầy chị đi luôn không về. Cả trại ai cũng nhốn nháo về chuyện nầy. Nửa đêm anh ôm con khóc tức tưởi, làm cho chúng tôi những người cùng hoàn cảnh với anh rơi nước mắt. Thật tình nghĩ cho cùng chúng tôi không trách chị, một người con gái vào khoảng 23 tuổi, trẻ đẹp. Làm sao hy sinh suốt đời cho chồng bị tật nguyền như vậy được. Biết vậy, nhưng chúng tôi vẫn cảm thấy quyết định của chị tàn nhẫn quá, chỉ biết thở dài ngậm ngùi. Tội nhất là đứa con mới 2 tuổi, làm cách nào để nuôi cháu. Nếu bây giở cháu còn sống thì cũng đã gần 50 tuổi, nhìn lại hoàn cảnh gia đình, cháu buồn biết chừng nào?

Cũng tại phòng Ngoại Thương 1A nầy vào Mùa Hè Đỏ Lửa, có một anh Trung Úy bi mất hai chân, từ phòng hồi sức vừa đưa xuống, anh còn nằm mê man trên gường thì có một người con gái vào thăm. Cô đó là người yêu của anh. Anh vừa mở mắt thì cũng vừa trông thấy người yêu của mình quay lưng bỏ đi, anh gọi tên mấy lần nhưng cô ta không quay lại. Người lính nuôi anh, thấy hoàn cảnh bất bình như vậy chạy theo cô gái và đưa tay tát vào mặt cô ta mấy cái. Tụi tôi thì hoan hô anh lính, nhưng anh trung úy thì la anh lính không được làm vậy. Tuần lễ sau, tôi qua chỗ anh trung úy nằm để nói chuyện, anh kể cho tôi nghe về người con gái đó. Cô ta là một giáo viên, hai người yêu nhau hơn 5 năm rồi, 5 năm đủ chín muồi cho một cuộc tình. Anh thấy cuộc đời lính tráng của mình quá nguy hiểm, không biết sống chết thế nào nên anh đề nghị với cô hãy chấm dứt cuộc tình nầy. Nhưng cô không chịu và đã nói với anh dù sau nầy anh có thế nào thì em vẫn yêu anh. Thế mà anh không ngờ sự việc nó xẩy ra như vậy. Mấy đêm nay anh không ngủ được, nhớ lại cái thời hai đứa yêu nhau. Những kỷ niệm chập chờn trong đầu. Nước mắt anh lưng tròng, khuôn mặt anh co rúm đau khổ làm cho tôi không chịu được, cũng đã khóc theo. Sau một lúc im lặng anh nói với tôi nếu cô vào thăm anh sẽ bảo cô đừng vào thăm nữa. Lời chia tay phải chính anh nói, phải phát ra từ anh thì mới không cảm thấy phũ phàng. Còn bây giờ chính cô ta là người chủ động trước không một lời từ biệt. Sau nầy cứ vào dịp cuối tháng chúng tôi lại gặp nhau ngày tái khám tại Tổng Y Viện Duy Tân .

Cũng một hoàn cảnh như vậy, Hanh một chuẩn úy mới ra trường ở huyện Đại Lộc, Quảng Nam. Đi hành quân dẫm phải trái mìn bị mất hai chân. Vào chiều thứ bảy, người yêu của Hanh đẩy xe lăn cho anh dạo phố. Một hình ảnh thật đẹp với chúng tôi thuở ấy. Người yêu của Hanh là một người con gái đẹp, một nữ sinh nết na, thùy mị. Chúng tôi nghĩ cặp đôi nầy chắc không bao lâu sẽ vãn tuồng. Thế nhưng sự đánh giá của chúng tôi nhầm lẫn, oan ức cho cô bạn gái của Hanh. Sau năm 75 chị quyết định về sống với Hanh dù gia đình ngăn cản. Sự hy sinh to lớn của chị dù biết sống với Hanh là chị sẽ chôn vùi cuộc đời mình vào khổ cực, vào đói nghèo. Chị đến với Hanh tức là chấp nhận những phủ phàng trước mắt. Những sĩ quan Miền Nam còn lành lặn vẫn bữa đói bữa no, huống chi sĩ quan bị thương tật nặng nề như Hanh làm sao bươn chải kiếm sống. Thật tội nghiệp cho cặp vợ chồng như Hanh, có một cuộc tình thật đẹp, thật tuyệt vời.

Năm 2008 tôi có dịp về thăm Đà Nẵng. Tôi đến thăm vợ chồng nhà thơ Uyên Hà, vợ chồng Uyên Hà là dân Đại Lộc nên tôi có hỏi thăm về vợ chồng Hanh, họ vẫn sống với nhau hạnh phúc và có mấy người con. Hanh làm thợ hàn máng xối sống qua ngày. Tôi nhờ vợ Uyên Hà chuyển cho Hanh một ít tiền, và bảo chị đừng nói tên người gửi. Vài ngày sau tôi nhận được lời cám ơn của Hanh quạ chị Uyên Hà. Vừa rối Uyên Hà có qua Mỹ ghé thăm tôi, tôi hỏi thăm về vợ chồng Hanh. Và được biết hai vợ chồng đều chết cách đây vài năm. Vợ chết vì bị ung thư sau đó Hanh chết vì bị đột quỵ. Các con của Hanh bây giờ cũng khá, nhà cửa khang trang. Các cháu đã tự mình vươn lên và đứng vững trên sức lực của mình. Tôi rất kính phục vợ chồng Hanh.

Trong chiến tranh biết bao nhiêu cuộc tình đã gãy đổ, biết bao nhiêu gia đình đã ngã gục, không chỉ Miền Nam mà Miền Bắc cũng vậy. Sự hàn gắn vết thương nầy cho đến bây giờ vẫn chưa lành lặn, chưa kéo da non. Vì sao vậy? Bên thắng cuộc vẫn hiu hiu tự đắc, vẫn kể lại chiến công thần thánh của mình. Họ quên đi rằng nếu quân đội Miền Nam dở dở, ươn ươn như lời họ kể, thì họ không trầy vi tróc vẩy khi chiếm Miền Nam. Xương máu của họ đã tưới trên Miền Nam không biết bao nhiêu kể. Sự tuyên truyền ngô nghê, rẻ rúng về cuộc chiến tranh xâm lược của họ mà dân chúng Miền Bắc tin tưởng tuyệt đối, chính là thế ưu việt của họ danh chánh ngôn thuận mà người dân tin tưởng. Chiến thắng của họ phần nhiều chỉ dựa trên sự lừa đảo. Người dân Miền Bắc đã ngộ ra được thì đã muộn. Nên nhớ rắng người lính của hai miền đều là dân Việt, không thể nói dân Miền Bắc hơn dân Miền Nam được. Đó là sự so sánh khập khiển, khó nghe, thế mà cho đến bây giờ khi kể lại cuộc chiến, những chiến binh Miền Bắc vẫn cái giọng điệu vô học, tự sướng của mình nói lên mà không ngượng cũng lạ thật.

Trên thống kê sau nầy thì số thương vong bộ đội Miền Bắc gần gấp đôi số thương vong chiến binh Miền Nam thế mà khi nghe họ kể lại cuộc chiến mà họ tham gia, bao giờ họ vẫn cho mình là số một. Bao giờ họ cũng chê bai quân lính Việt Nam Cộng Hòa. Gần 50 năm chấm dứt chiến tranh họ vẫn dùng giọng điệu tuyên truyền thánh thần để mạ lị đối phương. Bây giờ ngồi nghe TV trong nước nói về cuộc chiến mình cảm thấy thương hại cho họ. Lối tuyên truyền đó bây giờ đã lỗi thời và đôi khi thấy vô lý. Một phi công Miền Bắc cho đến nay vẫn còn hãnh diện đã bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Một phi công khác cho máy bay núp trong mây, chờ máy bay Mỹ tới xông ra bắn hạ. Tuyên truyền như vậy mà bây giờ vẫn nghe lại, thật tình không tin nổi tai mình và không ngờ rằng hạ cấp như vậy. Mới đây trên “youtube” một cán binh kể lại cuộc chiến mà anh tham gia ở Cổ Thành Quảng Trị. Anh nầy trước đây là một sinh viên năm thứ 2. Đang học thì bị đưa vào chiến trường Miền Nam vì ngoài Bắc lúc đó không còn thanh niên nên vơ vét để cung cấp cho chiến trường. Anh chưa học một ngày cầm súng thế mà vào Nam chiến đấu với chức vụ Trung đội trưởng (tương đương với một chuẩn úy của quân đội Miền Nam). Anh kể là đoàn quân mới thành lập của anh đánh vào thành Quảng Trị, đối phương là Tiểu Đoàn 6 Thủy Quân Lục Chiến. Anh không cho biết phe anh gồm có 3 Sư Đoàn, trong lúc phía Miền Nam chỉ có 1 tiểu chủ lực và một tiểu đoàn Địa Phương Quân để phòng thủ. Lực lượng không cân xứng như vậy buộc lòng phải rút quân. Anh nhận xét Tiểu Đoàn 6 TQLC “nhác” nên để mất cổ thành. Một thằng dốt nát như vậy mà cho lên đài để nói, huênh hoan, tự cao, tự đắc. Anh không kể sau đó TQLC chiếm lại Cổ Thành, phe anh chạy sút dép, bỏ lại mấy trăm xác chết như vậy là “anh hung” sao? Bây giờ mọi thứ đã được phơi bày. Quân đội Miền Nam thua vì không còn súng đạn. Chứ Mỹ tiếp tế súng đạn dồi dào như Nga-Tàu tiếp tế cho Miền Bắc, thì cho đến bây giờ chưa chắc bên nào thắng.

Nói đến chuyện thắng-thua thật lỗi thời. Các anh dùng mọi thủ đoạn để chiếm đoạt Miền Nam, cai trị đất nước gần 45 năm dùng chính sách cướp đất cướp nhà, vơ vét, sống phè phỡn trên nỗi đau của đồng loại. Người có chút lương tâm cảm thấy xấu hổ. Thế nhưng miếng mồi quá béo bở, đời sống tiền muôn bạc tỷ đã làm cho họ mờ mắt. Người dân ta thán trong vô vọng họ vẫn để ngoài tai. Tiếng kêu Thủ Thiêm Miền Nam cũng như Đồng Tâm Miền Bắc không thức tỉnh được họ.

Trải qua một cuộc chiến tranh tương tàn mà dân tộc phải gánh chịu, đó là một bất hạnh. Tuy nhiên nó đã qua, hối tiếc mãi vẫn không giúp được gì, mà sống mãi với những hệ lụy lại càng khổ đau thêm. Bút ký nầy tôi viết với dụng ý hãy xóa bỏ tất cả, hãy quên đi tất cả để sống hòa hợp trong một đất nước mà nhân quyền và tự do phải được tôn trọng.

Houston, ngày 3 tháng 11 năm 2018.

Phan Xuân Sinh

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.