“Nội hàm ” là cái chi chi ??

KHÁI NIỆM, ĐỊNH NGHĨA, NỘI HÀM, NGOẠI DIÊN?

Khái niệm, định nghĩa, nội hàm, ngoại diên là những thuật ngữ thường được dùng trong logic học. Nhiều bạn nhầm định nghĩa thành khái niệm, khái niệm thành định nghĩa trong khi bản chất của chúng hoàn toàn khác nhau. Nội hàm, ngoại diên liên quan chặt chẽ với định nghĩa nhưng ít gặp hơn. Trong bài viết này tôi sẽ cố gắng làm rõ thế nào là khái niệm, định nghĩa, nội hàm và ngoại diên theo một cách đơn giản nhất.

Khái niệm, định nghĩa, nội hàm, ngoại diên

Khái niệm, định nghĩa, nội hàm, ngoại diên

Khái niệm và định nghĩa

Sự vật, hiện tượng từ thế giới khách quan tạo ra những hình ảnh phản chiếu lên bộ óc con người. Toàn bộ thông tin về một sự vật, hiện tượng được gói gọn, xếp vào những ngăn nhỏ trong bộ não của con người, đó là những khái niệm. Khái niệm không thuộc về ngôn ngữ. Ngôn ngữ được sinh ra nhằm mục đích mô tả khái niệm theo quy ước thống nhất trong cộng đồng người. Những loài vật không có ngôn ngữ phát triển như con người cũng hình thành các khái niệm trong bộ não của chúng. Vậy, khái niệm về một sự vật hiện tượng là toàn bộ thông tin về sự vật hiện tượng đó, được ghi nhận bởi bộ não thông qua quá trình nhận thức thế giới khách quan.

Khái niệm tồn tại trước khi có ngôn ngữ

Không cần biết nói, không cần biết viết, không cần hiểu những người xung quanh nói gì thì bạn vẫn biết đối tượng đứng trước mặt bạn có phải là con người hay không. Bởi khái niệm về con người đã được bộ não gói gọn trong tư duy trừu tượng nhờ những quan sát, cảm nhận trước đó. Khi tiếp nhận thông tin về một đối tượng, não bộ sẽ lần lượt tìm kiếm khái niệm phù hợp với đối tượng đó trong kho chứa vô vàn khái niệm được tích lũy theo thời gian. Nếu đối tượng cần đưa ra đánh giá có đủ các thuộc tính của con người như: Có mặt mũi, chân tay, có thể đứng thẳng, có thể cầm nắm,… thì bộ não sẽ nhận định đối tượng trước mặt bạn là con người. Nếu không trùng khớp hoặc mâu thuẫn thì bộ não sẽ nhận định đối tượng đó không phải con người.

Quá trình hình thành ngôn ngữ, định nghĩa xuất hiện

Tập tính sống bầy đàn của người cổ xưa làm nảy sinh nhu cầu giao tiếp. Muốn giao tiếp với nhau thì phải có quy ước chung để gợi khái niệm mình muốn truyền đạt đến mọi người xung quanh. Quy ước chung có thể là âm thanh, cử chỉ hoặc các ký tự. Nguyên tắc hoạt động của ngôn ngữ là gì? Ngôn ngữ gắn cho những khái niệm một ký hiệu riêng bằng âm thanh, cử chỉ, nét viết,… để người với người có thể trao đổi suy nghĩ thông qua cái ký hiệu đã được gắn khái niệm. Cùng nhìn thứ dưới đây:

“Con chó đi ăn cỏ bị con bò đá”

Trong đầu bạn thấy gì? Đó là những hình ảnh: Con chó, con bò, cây cỏ, hành động đá. Nhưng “Con chó đi ăn cỏ bị con bò đá” không phải là hình ảnh nào hết mà chỉ là dãy ký tự ” C o n c h ó đ i ă n c ỏ b ị b ò đ á “. Người nước ngoài, người ngoài hành tinh sẽ thấy một dãy ký tự như thế. Nhưng trong tư duy của người biết ngôn ngữ Tiếng Việt sẽ xuất hiện những hình ảnh mà tôi đã nêu. Ngôn ngữ đã gắn những dãy ký tự với khái niệm có sẵn trong ý thức của người tiếp nhận nó. Như một phản xạ có điều kiện, thay vì những ký tự thì ta sẽ thấy những khái niệm được thay thế.

Trong quá trình giao tiếp, có người sở hữu nhiều khái niệm, có người sở hữu ít khái niệm. Để hình thành khái niệm trong tư duy của người chưa có khái niệm thì người ta dùng ngôn ngữ theo một cách rất thông minh. Dùng những từ chỉ khái niệm cơ bản để diễn đạt, xây dựng khái niệm phức tạp hơn. Quá trình này được gọi là định nghĩa khái niệm. Ví dụ: Bạn kể cho thằng em của bạn nghe về con khủng long, nhưng thằng em bạn còn nhỏ quá, nó chưa biết con khủng long như thế nào. Vậy bạn phải mô tả con khủng long bằng những khái niệm cơ bản mà em bạn đã biết. Bạn nói rằng: Con khủng long nó to như cái nhà, nó giống con gà mọc ra đuôi con thạch sùng, đầu lùng nhùng như con cá xấu,… Từ những khái niệm bạn gợi ra, chắp nối với nhau, em bạn đã có một hình dung nhất định về con khủng long là con gì (mặc dù không hoàn toàn chính xác). Sự giải thích, làm rõ khái niệm con khủng long của bạn là một sự định nghĩa.

Vậy định nghĩa là:

Định nghĩa là sự xác định bằng ngôn ngữ nhất định những đặc trưng cơ bản tạo thành nội dung của khái niệm về một sự vật, hiện tượng hay quá trình, với mục đích phân biệt nó với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác. Định nghĩa có vai trò quan trọng trong khoa học và là bộ phận căn bản trong mọi lý thuyết khoa học.

Trích nguyên văn wikipedia cho nó nhanh. Cái định nghĩa về “Định nghĩa” này cũng không khó hiểu cho lắm khi bạn đã xem những ví dụ ở trên.

Trong định nghĩa luôn có nội hàm, nội hàm lại quy định ngoại diên. Chúng ta cùng làm rõ vấn đề cuối cùng: Nội hàm và ngoại diên.

Nội hàm và ngoại diên

Nội hàm trong định nghĩa là những thuộc tính của khái niệm cần định nghĩa. Ngoại diên là phạm vi đối tượng thỏa mãn nội hàm của định nghĩa. Một định nghĩa có tính đúng đắn cao phải có nội hàm xúc tích và ngoại diên phù hợp với khái niệm cần định nghĩa. Nội hàm và ngoại diên liên hệ mật thiết với nhau. Càng nhiều nội hàm thì ngoại diên càng bị thu hẹp.

Ví dụ: Cô gái muốn tìm người yêu lý tưởng, cô bắt đầu nghĩ về người đó: Người yêu lý tưởng phải là một anh chàng đẹp trai – đây là một nội hàm trong định nghĩa về người yêu lý tưởng của cô gái (nội hàm thứ nhất). 90% Đàn ông trên thế giới cảm thấy mình đẹp trai… trong mắt họ, nhưng trong mắt cô gái chỉ có khoảng 10% số đàn ông còn lại là đẹp trai. Phạm vi 10% đàn ông trên thế giới là ngoại diên tương ứng với nội hàm thứ nhất.

Cô gái chưa dừng lại ở đó, người yêu lý tưởng của cô phải là người biết giặt giũ. 70% Đàn ông sẽ nói rằng họ không biết giặt giũ, cũng chẳng thích giặt giũ (nội hàm thứ hai). Nhưng thực tế vì nhiều lý do mà 70% đàn ông trên thế giới đều biết giặt giũ. Vậy là ngoại diên tương ứng với hai nội hàm ở trên sẽ là 10% x 70% = 7% đàn ông trên thế giới.

Cô gái chưa dừng lại ở đó, cô tiếp tục đưa ra rất nhiều điều kiện cho người yêu lý tưởng của mình. Rồi cuối cùng cô nhận thấy, chẳng ai phù hợp trở thành người yêu lý tưởng của cô. Tới đây, do các nội hàm mâu thuẫn với nhau nên không thể có giá trị ngoại diên nào thỏa mãn – ngoại diên bằng tập rỗng. Định nghĩa về người yêu lý tưởng của cô gái là một định nghĩa tồi.

Nội hàm và ngoại diên có ảnh hưởng lớn tới định nghĩa. Muốn định nghĩa khái niệm chính xác (tức thu hẹp ngoại diên cho gần với khái niệm) thì chỉ cần bổ sung nội hàm. Số lượng nội hàm trong một định nghĩa càng lớn thì việc bổ sung nội hàm càng khó khăn. Không xác định được nội hàm đúng đắn thì định nghĩa được xây dựng có thể thừa nhiều nội hàm vô nghĩa hoặc không liên quan gì đến khái niệm cần định nghĩa. Định nghĩa sai sẽ gợi ra khái niệm sai, mục đích của ngôn ngữ thất bại!

Như vậy, ngôn ngữ được tạo ra để gắn khái niệm vào những ký hiệu nhất định, được quy ước và thống nhất trong một cộng đồng người cụ thể. Định nghĩa là sự xác định khái niệm bằng ngôn ngữ. Trong định nghĩa có nội hàm, nội hàm quy định ngoại diên. Ngoại diên là phạm vi đối tượng thỏa mãn tất cả nội hàm có trong định nghĩa.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.