Cờ đỏ và nhân cách thời nay-Đỗ Trường

Đỗ Trường

(Đọc thấy có cháu bị cô giáo phạt đến mấy trăm phát tát, chợt làm mình nghĩ đến bài viết về vấn đề này đã lâu)

            CỜ ĐỎ VÀ NHÂN CÁCH THỜI NAY


Sống ở nước ngoài đã lâu, tôi ít có điều kiện về thăm quê, nên một số từ ngữ tiếng Việt không hay dùng, đôi lúc cũng quên quên, nhớ nhớ. Ấy vậy mà nhìn thấy màu đỏ, hay nghe ai đó nhắc đến từ đỏ, cờ đỏ, đội cờ đỏ là tôi giật mình thon thót. Có lẽ, ai có những giây phút ám ảnh này, mới hiểu, thông cảm cho Phù Thăng và thấy được cái hay, đồng cảm với truyện ngắn Hạt Thóc của ông. 
Thế hệ chúng tôi, sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, chắc chắn không ai có thể quên nhiệm vụ đội cờ đỏ, được làm quen ngay từ ngày đầu đến lớp(vỡ lòng). Đội cờ đỏ của lớp, của trường do tuyển chọn, hoặc phân công từng tổ thay nhau làm trong tuần. Đội này, được phát băng đỏ đeo trên tay. Nhiệm vụ chính giám sát hành vi của các bạn cùng lớp, cùng trường, báo cáo lại thày cô giáo chủ nhiệm, hoặc ban giám hiệu chấm điểm thi đua. Nó là cơ sở để thày cô, ghi hạnh kiểm vào học bạ cuối năm. 
Hồi học lớp hai, lớp ba gì đó, tôi cũng được phân công làm cờ đỏ một tuần. Công việc của tôi, giữ trật tự cho việc chào cờ đầu tuần và có quyền cho tổ, bàn nào ra khỏi lớp trước, khi tan học. Thường tổ nào trật tự, chăm chỉ học tập, cờ đỏ cho ra cho ra đầu tiên, còn lại tổ nghịch ngợm, điểm kém ra sau cùng. Ngay buổi sáng nhận băng đỏ, mấy thằng ngồi cuối lớp, nghịch và lười học, nhưng lại con nhà giầu, rủng rỉnh tiền ăn quà sáng, dúi ngay vào tay tôi gói xôi nóng hổi, bảo: Hôm nay, mày phải cho tổ tao ra đầu tiên đấy! 
Đang đói vàng cả mắt, mùi của hương nếp đập thẳng vào mũi. Có là Thánh cũng chẳng cưỡng lại được, tôi đút tọt gói xôi vào cặp. Cả giờ học đầu tiên, rình khi cô giáo quay mặt lên bảng, tôi lại gục mặt xuống bàn, véo, vặt, giải quyết nhanh gọn gói xôi, chẳng còn một chút tâm trí nào cho bài học. Hết buổi học, sau khi hô cả lớp đứng nghiêm chào cô giáo, tôi cho tổ mấy thằng hối lộ quà sáng, ra đầu tiên. Tất nhiên có gặp sự eo xèo của các tổ khác, nhưng với tôi lúc này, tiếng nói phản đối đó, làm sao giá trị bằng gói xôi nóng hổi kia. 


Bây giờ, ngồi nghĩ lại, nếu như mấy chục năm trước, không phá bĩnh bỏ việc, bỏ học, có máu ăn hối lộ từ thuở còn mặc quần thủng đít, với một chút lươn lẹo, có lẽ tôi trở thành thằng cờ đỏ có mấu có cạnh chứ chẳng chơi. Nhưng nhìn những nhát chém thuê của các đồng chí giáo sư cờ đỏ Phong Lê, Nguyễn Văn Lưu và đám bậu sậu, theo đóm ăn tàn Đông La(Nguyễn Huy Hùng) về luận văn thạc sỹ của Nhã Thuyên, tôi lại giật mình kinh hãi. 
Thật ra, cờ đỏ không chỉ gác cổng trong học đường, chỉ điểm trong giới văn học nghệ thuật, mà nó đã chui tận xó bếp, cũng như sinh hoạt của mỗi gia đình, phường xóm. Bố tôi, học trường thuốc từ thời Tây, nhưng không hiểu sao, sau năm 1954, ông không làm việc trong bệnh viện. Đến ông chú tôi cũng vậy, dù đã đỗ tú tài, không chịu học tiếp, hoặc làm việc cho nhà nước, quanh năm với cái hòm cắt tóc, dạo quanh Hải Phòng để kiếm sống. Bố tôi làm đủ thứ nghề, nhưng (tịnh) không thấy ông nhắc đến cái nghề y đã học bao giờ. Sau này, các y, bác sỹ trẻ ở gần nhà, sang nhờ đọc cho cái hướng dẫn sử dụng thuốc, bằng tiếng Pháp, ông mới nói chuyện rôm rả về nó. Thỉnh thoảng, đêm hôm, hàng xóm có người ốm đau đến nhờ, ông buộc phải giúp. Sau này, nhiều người bệnh tìm đến, đội cờ đỏ đánh hơi, rình mò cảnh cáo ông, không được chữa chui, chữa lậu. Thật ra, chữa bệnh cho toàn người nghèo, ông có nhận tiền đâu. Nếu như tính công, họ cũng chẳng có tiền để trả. Nhiều lần cờ đỏ xộc vào nhà bắt ông, khi đang khám bệnh. Họ thu dụng cụ, thuốc men, áp giải ông ra tiểu khu làm kiểm điểm. 
Chứng kiến những cảnh đó, tôi thấy sợ. Sự ám ảnh từ tuổi thơ đó, in hằn mãi trong tôi. Sau đó, nhiều lần được cử làm cờ đỏ của lớp, của trường, nhưng tôi đều viện lý do, từ chối. Lúc này, giá trị của sự dị ứng cờ đỏ và sợ hãi lớn hơn những gói xôi nóng hổi kia trong tôi rất nhiều. 
Nhìn những cảnh cờ đỏ bắt bớ, đánh đập người biểu tình chống Tầu, những người dân mất đất, mất nhà gần đây, tôi thấy quyền lực, tổ chức của bọn này, ngày càng được củng cố tăng cường. Và dường như hiện nay, ngoài cờ đỏ xuất đầu lộ diện, còn một thứ cờ đỏ luẩn quất đâu đó, dân dã quen gọi là thứ âm binh. Bọn này, có lẽ còn nguy hiểm, kém nhân cách hơn cờ đỏ lộ diện. Trong văn học nghệ thuật cũng vậy. Ngoài những cờ đỏ gác cổng có tên tuổi, chai lỳ còn có những cờ đỏ ma, bịt mặt, ẩn mình trong những bí danh đọc lên cứ như những điệp viên 007 vậy. 
Hôm rồi, ông bạn hàng xóm, nguyên là giáo viên trường đảng cao cấp, đưa cho tôi, mấy bài viết của Đông La và bảo: Cái tay Đông La này, làm thơ rỗng tếch, văn viết chưa sạch nước cản, nhưng kiểu chửi của hắn rất giống mấy bà ở quê khi bị mất cắp gà. Nhân sỹ, trí thức từ trong đến ngoài nước cứ dính vào chống Tầu và khai thác Boxit là hắn cho là trí thức bầy đàn. Hắn chửi tuốt tuồn tuột từ nhà văn Nguyên Ngọc… cho đến nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, chỉ vì can tội viết thật, nói thật những suy nghĩ của mình có lẽ làm phật ý bề trên của hắn. 
Trước khi ra khỏi cổng, ông bạn còn ngoái lại: Ông đọc đi, rồi viết một bài, chứ ở trong đến ngoài nước chẳng ai có ý kiến gì, thế này thì loạn mất. 
Hôm rồi, viết bài về cuốn sách Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, tôi có nhắc đến đoạn phê bình KHÔNG CHÍNH NHÂN của Đông La với cuốn sách này. Bài vừa lên mạng, có nhiều bạn bè và người đọc viết thư, đề nghị tôi hãy gạch bỏ đoạn về Đông La đi, vì họ không muốn nhìn, đọc cái tên này. Có bác căng hơn bảo, cái tên Đông La làm bẩn cả bài viết. Tôi tuy không đồng ý với Đông La về bài viết này, nhưng không có cái suy nghĩ cực đoan như vậy. Nhưng điềm đạm như ông bạn cựu giáo viên, đã đào tạo lý luận cao cấp cho nhiều cán bộ lãnh đạo của đảng, đưa cho, dứt khoát tôi phải đọc. 
Đọc xong, tôi còn đọc tiếp một số bài thơ và văn khác trên Blog của chính chủ Đông La. Qủa thật, nếu như ai đã nói, văn tức là người, thì văn thơ của Đông La mang dáng dấp của người không có gốc. Tức là ít (không) có truyền thống giáo dục gia đình. Chỉ thấy lấp ló những từ ngữ xáo mòn, tự hão huyền về tài năng, với cái đầu rỗng tếch và mớ kiến thức nghèo nàn của mình. Tôi cho đây là những suy nghĩ không được bình thường, nếu như không muốn nói, Đông La nên đến nhà thương Biên Hòa để kiểm tra lại. Với những từ ngữ chợ búa đầy sát khí của mớ lý thuyết hoang đường này, không ai muốn lên tiếng phản bác lại Đông La là phải. 
Tôi không hề có ân oán với bác Đông La và cũng chẳng quen biết nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên,( thỉnh thoảng có đọc một vài bài viết của anh. Gần đây nhất bài về luận văn của Nhã Thuyên, nhóm mở miệng). Nhưng công tâm mà nói, Đông La muốn làm thơ có hồn, viết văn thật, lý luận thật, hãy cởi cái áo cờ đỏ ra, rũ sạch những tâm khí đen ngòm cho tâm hồn thanh thản, rồi cắp sách đến Phạm Xuân Nguyên, làm lại từ đầu. 
Là người viết lý luận chuyên nghiệp, giáo sư Phong Lê thừa biết luân văn “Vị trí của kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa“ của Nhã Thuyên là đề tài khoa học, nghiên cứu về một hiện tượng văn học trong xã hội. (Nói như giáo sư Trần Đình Sử: Là hiện tượng văn học ngoại biên). Nhưng sao GS Phong Lê, Nguyễn Văn Lưu… hùa nhau, vung đại đao chính trị chém tới tấp vào người nghiên cứu và người hướng dẫn luận văn như vậy? Dù trước đây vài năm, một số trường, học viện quân sự có mấy luận văn Tiến sỹ trùng nhau, đại vớ vẩn, đại tầm phào: Lợi ích của việc bộ đội tắm sông…hay gì ..gì đó. Các bác lại ngậm tăm, ngâm thóc giống vậy. Có người cho rằng, các bác ăn cơm chúa thì phải múa cho hay là điều đương nhiên. Tôi không nghĩ như vậy, nhưng chưa tìm ra lời biện giải. 
Có lẽ nào, các bác bán linh hồn một cách rẻ mạt cho vài ba cái tầm thường đó?
Nghề văn và văn học vốn là sang trọng, cao quí. Nếu như nhà thương, bệnh viện là nơi cứu sống con người, thì văn thơ sẽ vá lại những linh hồn rách nát ấy. Chỉ có kẻ lợi dụng văn thơ , đạt đến mục đích nào đó, mới đẻ ra thứ quái thai, tầm thường mà thôi. Và đúng như một lần, tôi đã viết: Không hiểu văn thơ nó có bùa mê thuốc lú gì, khi khố rách áo ôm, cấm thấy bác nào nhòm ngó, ấy vậy mà lúc có tý chức quyền, tiền bạc, lăn xả vào cứ như ma ám. Có bác đánh đùng một phát đẻ đến năm, bảy tập, thơ chẳng ra thơ, vè chẳng ra vè, thế rồi thuê các bình luận gia ùa vào bóng kích. Ông khác chức cao, nhiều tiền hơn, thuê hẳn mấy bác phó lẩy nhạc, cho các em chân dài ca chơi. Thế mới kinh!. Bác nào chập cheng quá, thì thuê người viết. Không thuê được, các bác giở trò luộc nấu. Kẻ thô lỗ bảo hành vi đó là trộm cắp, người lịch lãm hơn gọi là đạo văn, thó văn..Gần ba mươi năm nay, tôi không được hưởng không khí tết ở Việt Nam. Nên ngày đầu năm cứ bài văn, bài thơ nào có chữ xuân, chữ tết là tôi đọc tuốt tuồn tuột, của bất kỳ ai và không cần biết hay, dở. Trường hợp bác Nguyễn Văn Mạc (Magdeburg- CHLB Đức) thó văn(Đêm Giao Thừa Nhớ Mẹ) của nhà thơ Trần Mạnh Hảo, tôi bắt gặp trong hoàn cảnh như vậy. Khi bài viết lên mạng được vài tiếng, tôi nhận được điện thoại của mấy ông bạn hỏi, thù ghét gì ông Mạc mới sáng mùng một đã nhởi dữ vậy?. Các ông buồn cười thật, ngay cái tên Nguyễn Văn Mạc lần đầu tôi mới nghe, làm gì có thù với chả hằn. Bác ta ghi trong bài văn thó cả địa chỉ, số điện thoại, tôi gõ Google mới biết ông ta làm giám đốc giám điếc, chủ tịch chủ tiếc gì đó thôi. Luộc nấu ngang nhiên như vậy, bác Mạc chứ Tổng thống, Thủ tướng tôi cũng phải nhởi như thường. Mà cái số ông Mạc này cũng xui, thó đúng vào cái bài viết về Mẹ hay nhất của Trần Mạnh Hảo, tôi lại vừa có bài viết về nó, nên ngứa mồm không chịu được. Thật ra, nếu tôi không ù suông trước, sẽ có người khác lôi cổ cái bài văn thó này ra thôi. Rút kinh nghiệm, lần sau bác nào có tính táy máy, nên chọn bài tầm tầm, tác giả ít người biết đến may ra thoát. Chứ cân đai mũ mã đến như bác chủ tịch hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh, chẳng biết có cầm nhầm bài thơ của nữ sĩ người Đức hay không, bị các cháu sinh viên trường sư phạm Hà Nội, móc mói, hỏi han, ngượng chết đi được.
Vâng! Nhân cách con người là sản phẩm của chế độ xã hội đương thời. Một xã hội giả tạo với những cơn lên đồng bệnh hoạn này, ai sẽ giữ lại được linh hồn đích thực của kẻ sĩ?


Wien- ngày 14-8- 2013


Đỗ Trường

Nhà văn Phù Thăng và những ngày… “phá vây”

08:05 04/03/2013

Niềm vui dù đến với bác Phù Thăng thật muộn màng, nhưng đó cũng là nỗi niềm chung của nhiều tác giả. Trong số 38 tác giả khối văn học được nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2012 có đến 14 tác giả đã qua đời. Phù Thăng cũng nằm trong số ấy.

Trước đây tiểu thuyết “Phá vây” mang đến cho Phù Thăng nhiều phiền lụy thì nay chính tác phẩm đó lại mang về cho ông vinh quang lớn. Khi xem Đài truyền hình tường thuật trực tiếp cuộc trao giải, nước mắt tôi ứa tràn. Phải chi cuộc trao giải này diễn ra 5 năm về trước thì bác Phù Thăng được bước lên bục vinh dự cùng bao tác giả khác. Nay bác đã đi xa rồi…

Nhớ lại những lần về thăm vợ chồng bác Phù Thăng, hình ảnh tôi nhớ nhất là nụ cười đôn hậu của cả hai bác khi mời chúng tôi thưởng thức những món “cây nhà, lá vườn”. Ngôi nhà cấp bốn của hai bác tọa lạc ngay bìa làng, dù đường vào chỉ là đường đất nhưng ôtô vẫn có thể vào tới cổng. Ngôi nhà có 3 gian chính. Một gian được ngăn làm buồng, một gian kê tủ thờ và chiếc bàn nhỏ tiếp khách, một gian vừa kê giường, vừa kê giá sách và bàn làm việc của bác Phù Thăng. Những lần về thăm bác, chúng tôi thường uống nước xong là ra ngồi trên chiếc giường cạnh bàn làm việc của bác. Gọi là bàn làm việc nhưng đó cũng chỉ là chiếc bàn uống nước bằng kính kê cạnh chiếc ghế đi văng. Trên tường là giá sách với nhiều cuốn sách bạn bè bác gửi tặng. Những năm chúng tôi thường xuyên về thăm bác (khoảng từ năm 1997 đến năm 2004) thì ở Hải Dương chưa phổ cập vi tính, càng chưa có mạng Internet, nhà bác chỉ có điện thoại bàn. Nhưng chúng tôi cũng chẳng bao giờ gọi điện trước, cứ nhớ bác thì về hoặc đi công tác tiện đường là tạt qua. Chưa lần nào chúng tôi đến mà bác vắng nhà. Khi chúng tôi nói chúng tôi đã đọc bài về bác trong “Chân dung và đối thoại” của Trần Đăng Khoa, bác tủm tỉm cười và bảo: “Ôi dào, những chuyện đã qua cứ để cho qua, các bạn còn trẻ cứ viết đi, viết theo sự thôi thúc của trái tim mình là được”. Chúng tôi hiểu rằng bác không muốn khơi lại chuyện buồn, nhưng tôi vẫn cố hỏi thêm hai chi tiết, một là bản thảo của bác bọc lá chuối để trong chum; hai là truyện ngắn “Hạt thóc” đã in ở đâu. Bác bảo đúng là mình có cho bản thảo vào chum như Khoa viết, còn truyện “Hạt thóc” thì mình mới có ý tưởng như thế rồi kể cho bạn bè nghe chứ chưa viết ra. Rồi bác kể về những bạn bè của bác những ai thường đến thăm, những ai lâu không gặp, nếu các bạn có gặp thì cho mình gửi lời thăm…

Nhà văn Phù Thăng trên khai sinh là nguyễn Trọng Phu, sinh ra và lớn lên tại làng Phù Tinh, xã Trường Thành, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Từ năm 1940 bác cùng gia đình chuyển sang sinh sống tại thôn Tất Lại, xã Cộng Lạc, huyện Tứ Kỳ cùng trong tỉnh. Phụ thân của bác Phù Thăng là một chức dịch hàng Tổng, nhưng cụ không theo phong cách làm việc của đa phần chức sắc lúc bấy giờ – họ thường hách dịch, vơ vét của dân. Cụ thì hiền lành, nhân hậu, luôn làm việc vì dân và thương những người nghèo. Cụ hiền hậu đến mức cụ tên là Nguyễn Trọng Bật, đáng lẽ dân làng gọi cụ là Tổng Bật thì mọi người thường gọi chệch đi là Tổng Bụt, ý nói cụ hiền như Bụt và cũng kính trọng cụ như Bụt. Cũng vì luôn yêu quí bà con trong làng, trong tổng nên năm 1955, khi cải cách ruộng đất, nhân dân thôn Phù Tinh đã cứu cụ thoát khỏi án oan, dù lúc đó gia đình cụ đã chuyển sang làng Tất Lại, huyện Tứ Kỳ. Bác Phù Thăng rất yêu quí cha mình và thể hiện tình yêu ấy một cách khác thường. Khi cha mất rồi, trên chiếc ghế ngồi của Phù Thăng luôn vắt tấm áo của cha. Thân mẫu của Phù Thăng là người hiền thục, tuy không được học chữ nhưng tâm hồn rất phong phú và đa cảm. Cụ thường dành dụm tiền đưa cho con trai đi thuê những cuốn truyện cổ về đọc cho mình nghe. Có đoạn quá thương cảm, cả hai mẹ con cùng khóc. Chính người cha đức độ và người mẹ tinh tế ấy đã truyền lại cho Phù Thăng một tính cách ngay thẳng, một bản lĩnh vững vàng và một tâm hồn lãng mạn. Tất cả những phẩm chất đó tạo nên một nhà văn, nhà biên kịch Phù Thăng sau này.

Nhà văn Phù Thăng bắt đầu đến với văn chương khi hòa bình lập lại trên miền Bắc. Bấy giờ, bác đang là giáo viên Trường Bồi dưỡng văn hóa của Quân khu III. Truyện ngắn đầu tiên “Con những người du kích” bác gửi đến tạp chí Văn nghệ Quân đội đúng lúc tạp chí đang có cuộc thi viết về “Những kỷ niệm sâu sắc trong đời bộ đội”. Và truyện ngắn ấy đã đoạt giải Nhì của cuộc thi (cuộc thi không có giải nhất). Sau thành công bước đầu này, lãnh đạo nhà trường đã tạo điều kiện và dành thời gian cho Phù Thăng sáng tác. Năm 1960, trường ca “Hoa vạn thọ” của Phù Thăng đoạt giải B trong cuộc thi thơ của tạp chí Văn học (cùng đoạt giải B với Phù Thăng là nhà thơ Nguyễn Bính). Hiếm có tác giả nào trong một thời gian ngắn lại đoạt 2 giải cao cả về văn lẫn thơ như Phù Thăng. Thời gian này, Phù Thăng là một trong số rất ít tác giả có nhiều đầu sách ra đời. Tiểu thuyết “Trận địa mới”, NXB Quân đội nhân dân in năm 1960; tập truyện ngắn “Chuyện kể cho người mẹ”, NXB Văn học in năm 1960; truyện vừa “Thử lửa”, NXB Quân đội nhân dân in năm1961; tiểu thuyết “Phá vây”, NXB Quân đội nhân dân in năm 1962; truyện vừa “Con nuôi trung đoàn”, NXB Kim Đồng in năm 1965.

Theo nhà thơ Xuân Sách thì chỉ trong vòng hơn 1 tháng dự trại viết do Tổng cục Chính trị mở, Phù Thăng đã viết xong cuốn tiểu thuyết “Phá vây” có độ dài trên 600 trang in. Những ai từng dự trại sáng tác chắc đều biết người viết văn xuôi khổ cực như thế nào. Ngày nay, thông thường với thời gian hơn một tháng, dù có máy vi tính trợ giúp thì tác giả chỉ hoàn thành một, hai truyện ngắn hoặc vài chương tiểu thuyết đã được coi là tích cực rồi. Thế mà ngày ấy bác Phù Thăng viết bằng bút thường, vài chữ lại phải chấm vào lọ mực, trong thời gian ngắn ngủi ấy bác đã viết hàng ngàn trang (thì mới có hơn 600 trang in). Tiểu thuyết “Phá vây” đã gây được tiếng vang lớn, nhưng rồi sau đó tác giả gặp phiền hà vì một số quan niệm quá ngặt nghèo lúc đó. Trước tiểu thuyết “Phá vây”, Phú Thăng được điều chuyển từ Trường Bồi dưỡng văn hóa của Quân khu III lên Phòng Văn nghệ của Tổng cục Chính trị và được thăng quân hàm Thiếu úy. Sau “Phá vây”, bác được điều chuyển xuống Xưởng phim Quân đội, rồi lại chuyển sang Xưởng phim truyện cho đến lúc về hưu (1980). Thời gian làm việc ở hai xưởng phim, bác đã viết kịch bản và biên kịch nhiều phim, tiêu biểu như: Kịch bản phim “Quê nhà”, kịch bản phim “Nguyễn Văn Trỗi”, kịch bản phim truyện “Biển lửa”, biên kịch phim “Tiếng gọi phía trước”. Các phim này đều được tặng giải Bông sen Vàng, Bông sen Bạc trong các kỳ liên hoan phim Việt Nam từ lần thứ nhất đến lần thứ tư.

Thời gian nghỉ hưu ở quê nhà, bác được mời tham gia viết lịch sử Trung đoàn 42, rồi bác viết bản thảo cuốn tiểu thuyết “Tấn công” là phần tiếp theo của cuốn “Phá vây”, vẫn viết về những người lính dũng cảm của Quân khu III. Thời gian nghỉ hưu ở quê, một phần do tuổi cao, một phần do hoàn cảnh, bác Phù Thăng không còn “cày” nhiều trên trang giấy như trước mà bác dành sức lực và thời gian cày trên cánh đồng thực thụ, để lấy thóc, lấy ngô, khoai nuôi các con. Dù tuổi cao, sức yếu (cơ thể chưa đầy 40 kg), vậy mà bác nhận tới 7 sào ruộng khoán, rồi lại nhận chinh phục những con trâu ngang ngược, dữ dằn nhất như con trâu Sứt, đến nỗi dân làng quen gọi là ông Phu Sứt. Có lần tôi hỏi bác, sao bác phải làm nhiều như vậy, có phải vì gia đình quá khó khăn không? Bác cười bảo, lý do đó chỉ là một phần thôi, cái chính là mình thích lao động, mình yêu cây lúa, cây ngô, cũng như yêu những con chữ trên trang giấy vậy. Mình đã về làng quê thì cũng phải làm một lão nông ra trò chứ.

Năm 1994, sau rất nhiều nỗ lực thuyết phục của bạn bè và lớp đàn em như Nguyễn Huy Khoát, Ngô Bá Thước, Nguyễn Ngọc San, bác Phù Thăng mới chịu trở thành Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Hải Hưng. Lúc đó bác đã sống ở quê đến 15 năm rồi. Không phải bác không biết tới Hội, cũng không phải bác coi thường Hội Văn nghệ địa phương như một số người lầm tưởng, mà bác ngại vốn cạn rồi, vào Hội lại không đóng góp được gì với Hội thì buồn lắm. Cũng vì cái tâm lý này mà chưa bao giờ bác làm đơn xin vào Hội Nhà văn Việt Nam. Chỉ vì bác ngại mình không đóng góp được gì và cảm thấy mình hơi lạc lõng thôi. Hội Văn nghệ Hải Hưng trước kia và Hải Dương sau này luôn luôn kính trọng bác, yêu quí bác, coi bác như người anh cả trong số các hội viên.

Những năm nửa sau của cuộc đời, bác Phù Thăng viết ít và in càng ít (chỉ thỉnh thoảng in một bài thơ), nhưng bạn bè, độc giả lại dành tình cảm cho bác ngày một nhiều. Năm 2003, Nhà Xuất bản Hải Phòng đã cho tái bản tiểu thuyết “Phá vây”. Có lẽ đây là niềm vui lớn với bác Phù Thăng nói riêng và với bạn đọc nói chung. Nếu không tái bản thì ngày nay bạn đọc, nhất là các bạn trẻ khó lòng tìm được tác phẩm này. Khi bác Phù Thăng từ bỏ thế giới này, nhiều nhà văn, nhà thơ, bạn đọc đã đến tận thôn Tất Lại để đưa bác về nơi an nghỉ cuối cùng. Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh cũng đã mang vòng hoa đến tiễn đưa Phù Thăng ra tận cánh đồng làng, mặc dù chưa bao giờ bác Phù Thăng là hội viên Hội Nhà văn. 

Một lần bác Phù Thăng yếu mệt, tôi đến thăm và muốn xin bác ghi cho vài điều gì đó, cũng là để lưu bút tích của bác. Tôi đưa bác cuồn sổ tay của mình. Chừng 15 phút sau bác đưa lại và nói: “Hiền Hòa xem, ý của mình là thế này, vừa là tặng riêng vừa là tặng chung cho các bạn viết trẻ”. Tôi đón nhận cuốn sổ và cảm động gai người khi đọc xong bài thơ. Tôi cố nói vui để ngăn nỗi nghẹn ngào “Xin cảm ơn đại ca”. Bài thơ đó như sau:

Rất mong em Hiền Hòa

Trong đời như giọt nước

Trong nhà như tiếng ru

Trong tình như mật ngọt

Nhưng văn chương cần lửa

Và như thép xanh nòng

Thơ cũng là bão tố

Quét sạch những bất công

Xua đi và bồi đắp

Nỗi buồn và niềm vui

Đời vẫn là như thế

Yêu – yêu thật say mê

Ghét – ghét cay ghét đắng

Nhưng tình người phải thắm

Giữ trong ta dài lâu“.

Nay bác Phù Thăng đã đi xa rồi, những vần thơ viết vội của bác đã trở thành món quà vô giá với tôi. Những vần thơ này cũng chính là phương châm của người cầm bút, yêu ghét phải rõ ràng, phải hết mình, phải sâu sắc. Nhưng cái quan trọng nhất vẫn là tình người phải thắm và phải giữ dài lâu

Đỗ Thị Hiền Hoà

văn nghệ CAND


Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.