Đọc “Chim địa đàng”của Phạm Chi Lan(đã ra đi về cõi)

                   Chim địa đàng

1962-2009

PHẠM CHI LAN

*
                         CHIM ĐỊA ĐÀNG

tặng Barbara, người luôn cười trên sự đau khổ của chính mình, 
người đi vào giấc ngủ vĩnh cửu với giấc mơ đẹp nhất.


Một hôm, ông ta đem về một cành hoa hình dáng kỳ lạ trong chiếc bình sứ mầu đen. Ðó là đầu một con chim có mào xanh, chim ngửa cổ nhìn trời một cách thê thiết thành khẩn. Vẻ lạc loài trong một nơi chốn xa lạ, nó chìm lặng và ẩn nhẫn chờ đợi, hoặc đang nói gì với khoảng trống trên cao nơi nó đang hướng mặt bày tỏ. Ðây không phải vườn thượng uyển nơi nó đã được sinh ra. Một loài chim từ thế giới khác thoát thân thành giống hoa kỳ dị lạc trong khu vườn thời tiết bất thường, nơi có những điều vô lý như số phận mỏng manh của nó.
Tôi nhớ tôi khóc duy nhất có hai lần, không kể tiếng khóc lúc lọt lòng mẹ. Ðó là tiếng vỡ của buồng phổi, tiếng chào mừng sự sống. Tôi cất tiếng cám ơn mẹ (biết bà có nhận lời cám ơn của tôi?), cám ơn những kẻ đã có công đưa tôi vào đời, dù đó có phải là một trường hợp ngẫu nhiên, cùng với đám thuốc men của nhà thương thí nơi có những kẻ lăng xăng mở cánh cửa một đời sống đón nhận nó vào với lòng ngại ngùng.
Mẹ tôi không biết cha tôi là ai nên tôi cũng không cần thiết biết ông ta là ai. Một người đàn ông nào đó có khả năng truyền giống đến cùng lúc với những người đàn ông khác chẳng hạn. Hạt giống gieo vãi vào hoang địa trổ sinh hoa trái, một công trình kỳ diệu của đấng hóa công. Ðất mẹ cũng không để lại cho tôi chút di sản hoa mầu trong mùa kết trái. Tôi không giống một người nào bên dòng họ mẹ, ngay cả bà là người đã đưa tôi vào đời. Tôi là hiện thân của tăm tối và bất trắc đi qua cuộc đời bà? Tôi không giống mẹ, từ thể chất cho đến tính chất. Nếu không từ cửa lòng mẹ chui ra, có gì chứng minh tôi là con của bà. Mẹ vẫn bảo tôi là một cái vỏ trứng rỗng không nhân. Thật là ngu đần không biết hưởng cái êm dịu sung sướng do giác quan đem lại. Ðó là điều rộng rãi trời ban, còn lại những hạnh phúc khác người ta phải nỗ lực đi tìm. Cám ơn trời ban tôi không giống một ai bên mẹ, những con người khắc khổ nhỏ bé. Tôi cũng không biết thưởng thức một đời sống dễ dãi không ràng buộc không trách nhiệm, tự do như chim trên trời hay bông cúc dại ngoài đồng mặc kệ mưa nắng. Tôi cũng không biết chăm sóc thân xác, nguồn tài nguyên thiên nhiên mà một đứa con gái bất tài nào cũng có thể dùng khi không còn biết làm gì khác. Tôi nhìn tôi, một cái bóng ngồn ngộn sức sống với cử chỉ vụng dại tầm thường như mọi con người khác. Một hình nhân với những bộ phận có cảm giác và một khối xám đặc sệt điều khiển một hệ thống chi thể vô hồn. Một cái máy biết cử động và truyền thông phát đi những tín hiệu nhu cầu của nó để hoàn thành chính nó. Một cái gì thật gượng gạo miễn cưỡng trong thân xác này. Dường như sự cấu tạo còn quên xót điều gì trong tôi. Một vẻ mặt có sinh khí hay cặp mắt bớt u tối hơn? một cái đầu chứa đựng những hình ảnh bình thường, hay ấp ủ những chuyện vĩ đại trổi vượt mà người khác không thể làm? Ðầu óc tôi không có chỗ cho những chuyện quá to tát. Tâm hồn tôi không có ước mơ.
Tuy nhiên, tôi cảm thấy còn thiếu những điều khác. Tôi đã từng tưởng tượng, một đứa con gái nũng nịu xà vào lòng mẹ nó kể những chuyện ngớ ngẩn vụn vặt trong ngày, chuyện một gia đình êm ấm với đôi mắt hiền lành của cha và tình thương yêu của mẹ. Ðám em tôi ngoan ngoãn và sạch sẽ. Những chuyện bình thường của một xã hội thu nhỏ, nơi có tấm lòng rộng lượng và những tâm hồn mới khai mở còn phẳng lặng ủ nhiều hình ảnh trong sáng. Không có những mưu kế tính toán hơn thiệt của một cuộc lường đảo, không có những câu chửi rủa, không lời thóa mạ đời sống hay nguyền rủa số phận, không có cả tiếng rên rỉ nặng nhọc. Mẹ tôi bực mình mỗi lần nói chuyện phải ngước mắt nhìn lên mặt tôi, sao dáng dấp ngạo nghễ mà lại cúi gầm đầu hở con. Phải có khát vọng cao mới chiếm được những gì mà người ta không có. Người ta đây gồm có cả mẹ và những con người lầm lũi ra vô cánh cửa buồng tối tăm kia. Ðời sống trong cái khung rỗng với giấc mơ cũng không cao hơn một nóc nhà và những tiện nghi vật chất vụn vặt chung quanh nó. Tôi cao lớn hơn mẹ, chiều cao tăng trưởng cùng lúc với đời sống thu nhỏ trong một cái hộp tối tăm. Mẹ bảo tôi hợp thổ khí nơi naỳ, tôi lớn hơn trung bình những đứa con gái cùng xứ sở. Xứ sở tôi, một xóm nhỏ ô hợp cũng không kém cái khu chung cư nhiều thổ dân này, có điều họ cùng ngôn ngữ và biết nhân danh một chủ nghĩa lý thuyết nào đó để làm hại lẫn nhau. Tôi đã gặp những kẻ cùng xứ với cặp mắt lấm lét nhìn đời sống mới đầy ngờ vực đố kỵ, đồng thời khao khát một danh phận vẻ vang nơi đất của ngàn cơ hội này. Ước vọng của họ là những gì có thể trông thấy hay sờ mó được, những điều làm mọi giác quan của họ sung sướng. Nơi ấy bây giờ xa cách quá, mà tôi thì không có nhiều kỷ niệm đẹp hay một ấn tượng mạnh nào để ký ức tôi có thể tìm về trú ẩn nương náu. Cũng chẳng có gì để níu giữ nhớ thương, có chăng chỉ còn một nấm mộ hoang tàn của ngoại và hình ảnh duy nhất để tôi nhớ về là chiếc miệng cười móm mém của bà khi còn sống. Còn lại tất cả chỉ là máu lửa và sự dửng dưng.
Tôi gặp nó trên hè phố lúc mới bỏ nhà ra đi. Cũng không hẳn là bỏ trốn, vì tôi không trở về một nơi không có gì níu giữ. Căn chung cư chật chội đồ đạc lổn ngổn, căn phòng ít cửa thiếu ánh sáng nơi mẹ tôi dẫn không biết bao nhiêu loại người về dừng chân, lâu khoảng vài ba tháng, hoặc vài ngày, có khi chỉ vài giờ. Một hôm tôi quyết định không trở về nữa. Sự có mặt hay vắng mặt của tôi chẳng cần thiết hay ảnh hưởng tới ai ở đó. Tôi bắt đầu sống cuộc sống của tôi, mẹ tôi vẫn sống cuộc sống của bà.
Không biết liên hệ giữa tôi và nó gọi là gì, là tình bạn hay cao hơn bạn, hay một thứ liên hệ của kẻ khác phái có trách nhiệm hay ràng buộc nào đó cho nhau. Nó không có niềm tin vào đời sống, vì cuộc sống không chấp nhận nó hay ngược lại. Nó là một hình thái chưa được hoàn thành. Nhưng với tôi không có gì quan trọng. Quan trọng là những gì nó đã lo lắng chia sẻ với tôi. Tôi cũng không đòi hỏi gì ở nó, một đứa con trai cũng bơ vơ rách rưới lang thang không nhà như tôi. Gia tài nó là một chiếc xe gắn máy nổ lớn tiếng và một thân hình cường tráng đầy sinh lực của tuổi mới lớn. Nó sống bên ngoài xã hội, tôi sống bên ngoài gia đình, điểm tương đồng này cũng đủ đưa chúng tôi đến gần nhau. Ngoài ra còn có một nhóm con nít nữa cũng thân tín không kém gì gia đình, một băng du côn dưới tuổi vị thành niên tự động tìm đến với nhau. Bọn nó là những đứa tự ý bỏ rơi gia đình, hay gia đình tự ý bỏ chúng. Chúng đã từng làm đủ chuyện mà người ta lên án, những pha gay cấn ghê rợn như trên màn ảnh mà kẻ đạo đức vẫn bảo đó là điều đồi bại vô phẩm cách. Hoặc cả những chuyện mà người ta không muốn nói trước mặt kẻ khác nhưng vẫn luôn nghĩ tới trong đầu. Nó dạy tôi bài học khoái lạc, và nhiều chuyện khác, chuyện phiêu lưu mạo hiểm trong đầu những đứa thích chống phá nổi loạn. Chúng tôi sống những ngày lang bạt khắp nơi, nó chở tôi trên chiếc motorcycle của nó với vận tốc nhanh hơn cả cuộc đời. Chúng tôi là những bợn nhơ mà đời sống thải luôn phải lẩn mình trong những xó tối. Nhưng chúng tôi cũng có lòng tự hào của một con thú hiên ngang sống với bản năng man rợ không kềm chế của tự nhiên, cũng không nằm trong những khuôn khổ hạn hẹp mà đời sống gọi là điều luân lý. Người ta bảo đó là tiến trình văn minh của một xã hội có tri thức. Chúng tôi vừa chán ghét vừa ước ao đời sống của những bộ máy đi lại chung quanh đời sống, những bộ máy được sản xuất đồng loạt với một chương trình rập khuôn nhàm chán. Họ là những kẻ sống trong giới luật trật tự, họ làm ra một trật tự để bảo vệ chính họ. Khuôn phép này đặc biệt ưu đãi đổ hồng ân trên những kẻ làm ra chúng. Chúng tôi những hạt bụi của đời sống dơ bẩn, không ai buồn lau chùi rửa sạch mặc cho chúng bám vào đời sống. Nhưng hạt bụi cũng có đam mê sự sống của nó, dù là đời sống của một hạt bụi.
Nó thường gục đầu vào lòng tôi như đứa trẻ dụi vào lòng mẹ. Nó bảo nó nhìn thấy một cái hố đen ngòm có nhiều hình thể đang dẫy dụa. Ở đó có tàn sát và chết chóc. Tôi vuốt mái tóc rối bù dơ bẩn của nó, triết lý: thà sống như con vật còn hơn không có sự sống. Nó nhìn tôi thê thảm, mình như những con vật. Ðiều con vật khác con người là nó không bao giờ tự hủy hoại chính nó, nó tranh đấu bảo vệ sự sống nó với tất cả tiềm năng. Nhưng những con người này thì lại không có cả bản năng khát sống. Một đứa đã thử nghiệm với đời sống, một tiếng nổ dòn, lằn đạn phá bung một khối óc. Nó tự bắn vào đầu như người ta dùng ngón tay búng ra một tiếng kêu trong không khí, thế là biết hết tất cả những gì khó hiểu, không một lời phân trần giải thích. Lũ cỏ dại mọc bên lề đường, một ngọn cỏ vừa ngã, thế thôi.
Tôi sợ ánh sáng. Thứ ánh sáng mặt trời đánh thức tôi dậy mỗi ngày với nỗi trống rỗng ghê rợn. Ðó là phút hãi hùng nhất của thời giờ khi tôi thức dậy nhận ra lại thêm một ngày nữa trong cuộc đời mười bảy năm của tôi. Mười bảy năm với tất cả ê chề chua xót bùng vỡ trong cơn chán chường tột cùng. Tôi sợ phút giao điểm giữa vô thức và thực tại, giữa ảo gíac và hình ảnh thật. Ðó là khi ánh sáng đóng lại vùng bóng tối vừa bỏ lại tối hôm qua, tôi đã sống thế nào ngày hôm qua, tôi không thể nhớ. Và rồi những con thiêu thân lại lao vào ngọn lửa, vào một vòng xoáy vô định rỗng tuếch. Bản năng sinh tồn vẫn còn trong người, tôi lao vào cơn lốc của những cuộc chơi quên thời gian và những chuyện mà người ta lên án, chuyện một đứa con gái không bao giờ nên làm và cũng chẳng bao giờ nên kể ra.
Tôi quyết định bỏ rơi nó hôm nó bị bắt lúc đang làm một chuyện phi pháp. Không biết nó nghĩ thế nào về tôi, người mà nó đặt nhiều tin tưởng. Nhưng tôi không thể đến gặp nó mặc dù tôi cũng muốn nói với nó một điều hứa hẹn vu vợ Tôi không can đảm nhìn thấy nó. Tôi lặng lẽ bỏ đi, nó sẽ quên tôi và như thế thì sẽ tốt hơn cho nó. Sau đó, tôi sống những ngày lang bạt trôi dạt qua nhiều nơi giao tiếp với nhiều loại người, thường là những người có máu giang hồ bạt mạng trong người, như tôi. Tôi gặp vô số những đứa con trai khác nhưng không ai tôi để ý hơn nó. Chúng chỉ là những cái đầu trống rỗng ngây ngô không sử dụng đến suy nghĩ, hành động ngông cuồng ngu si và không biết cách xử đẹp nhân danh sĩ diện của một loài bụi. Tôi không có kiên nhẫn với bọn này. Thỉnh thoảng nhớ tới nó, tôi chất vấn lương tâm sao tôi có thể tệ bạc đến vậy. Nhưng nghĩ đến nó chỉ làm tôi thấy mình cô độc hơn, một khối nặng chĩu chua xót trong lòng. Tôi không thương yêu nó, có thể đó là sự thương hại như thương hại chính mình. Tôi mang chứng bệnh tàn nhẫn trong người, di sản của một giống loài. Một lần tôi bệnh nặng nhất khi nghe tin nó bị bắn chết. Cảm giác chóang váng, nôn nao như có gì xoáy vào ruột đắng ngắt chỉ muốn mửa thốc ra ngoài một cái gì trong người, chất xám đục ngầu trên óc chẳng hạn. Ðó là tâm bệnh của người ốm lâu ngày đến giờ bộc phát, một thứ vi khuẩn độc hại nào đã ăn sâu vào đến óc đến giờ phát tác ra mọi hệ thống cơ thể. Chưa bao giờ tôi bệnh như lần ấy. Một sinh vật vừa bị tống khứ ra khỏi đời sống, mặt trời vẫn sáng và trái đất vẫn xoay những vòng xoay như thường lệ.
o O o
Ông ta hơn gấp ba tuổi tôi, người đàn ông luống tuổi có nét mặt cứng rắn, chiếc cằm cương nghị và chòm râu khiến tôi liên tưởng đến một nhân vật thời sử. Ông ta có dáng dấp khỏe mạnh đầy sinh lực. Tôi khen ông tráng kiện so với tuổi ông, ông bảo tại nhờ thiên nhiên nuôi dưỡng. Tôi bảo tại nhờ đời sống ông bình dị đơn giản nên thời gian không làm gì tác hại đến ông. Ông cười, đôi mắt sáng ngời như một tia nắng ấm. Tôi nghĩ ông ta phải là người sung túc lắm, với một trang trại thế này, với bầy ngựa và cánh đồng rộng mênh mông thế này. Nhưng ông ta không bao giờ nói đến sở hữu của mình, ngay cả những điều riêng tự Ông chỉ hay nói đến những huyền thoại tận đâu ở ngoài đời sống này, những ngụ ngôn mà tôi không hiểu lắm về một thời gian không gian khác, ý nghĩa cao vợi và mênh mang như những điều trong vũ trụ, nhưng thật lôi cuốn truyền cảm qua giọng kể từ tốn ấm áp của ông.
Tôi chọn ở lại với ông ta, vì không còn một nơi nào khác cho tôi sự bình yên hơn nơi này. Một góc chuồng ngựa cũng yên lành hơn bất cứ nơi nào tôi đã đi qua. Người ta khao rao những điều có thể làm đỏ mặt một đứa con gái thường, những điều không tốt về tôi và một người đàn ông đáng tuổi ông nội. Nhưng chúng không làm tôi bận tâm, tốt hay không chỉ có ông ta và tôi biết rõ (và một kẻ nữa biết rõ, đấng vô hình mà ông ta vẫn hằng giờ nói chuyện trong thinh lặng). Ông ta tìm thấy tôi nơi vệ đường, trên con đường xuyên bang vào một buổi chiều. Tôi ngất đi trước khi ý thức mình đang ở giữa một cánh đồng vắng vẻ. Tại sao tôi nằm bên lề đường, tôi cũng không còn nhớ. Tất cả đã lùi vào bóng tối, và tôi quyết định nhốt chúng lại trong một chiếc hộp quá khứ khóa chặt, tiêu hủy luôn cả chìa khóa theo đúng lời chỉ bảo của ông ta. Ông ta còn dạy tôi nhiều điều khác, chẳng hạn như cỡi ngựa và thuần phục một con giống sa mạc sắc tía tuyệt đẹp, con ngựa mà ông quí nhất. Con này cứng cổ bướng bỉnh không cho ai ngồi trên lưng nó bao giờ, trừ ông ta là chủ của nó. Nó là một con ngựa nòi giống Ả-Rập vóc dáng dũng mãnh như một con ngựa thần. Tôi bị nó mê hoặc ngay khi nhìn thấy nó đứng đơn độc dưới một bóng cây giữa đồng. Hình ảnh đó làm cho tôi ngây ngất. Tôi muốn vuốt ve chiếc bờm hoang dại của nó. Tôi muốm ôm đầu nó áp vào lòng mình như ôm lấy một cái gì thật gần gũi thân thiết. Mắt nó buồn rượi long lanh sáng với ánh nhìn mênh mông bí ẩn, như đang nhìn vào một cái gì đó không có thật trước mặt. Ðôi mắt giống hệt mắt ông ta lúc đăm chiêu điều gì. Nó không ưa tôi, thấy tôi lại gần nó vội quay mình đi, cất tiếng hí to rồi phóng mình vào cánh đồng mất hút. Ông ta bảo nó không ưa người lạ, không ai có thể đến gần nó được trừ ông ta. Tôi bắt đầu mơ tưởng con Arabian, như tôi đã từng mơ tưởng những điều huy hoàng của đời sống. Ông ta tập cho tôi cỡi những con khác đã thuần phục, những con này ngoan và hiền như lừa. Tôi say mê cỡi ngựa lang thang trên những cánh đồng, thiên nhiên thật dịu ngọt đằm thắm, mầu xanh làm lòng tôi mát rượi dễ chịu. Thấp thoáng trong đồng bằng những mái nhà thở khói mỏng thoảng nhẹ vào bầu trời mùa xuân. Tôi huýt sáo bản “wounds of the bird”, bài hát của P. Mauriat mà ông ta dậy tôi. Tôi yêu đời sống hồn nhiên ở nơi này.
Hôm đó có gì khác thường trong tôi xảy ra. Cảm xúc như một dòng lũ đổ về, tôi mở chiếc hộp quá khứ kể cho ông ta nghe đoạn đời tối tăm phóng túng của mình. Ông ta im lặng lắng nghe, không một câu hỏi gián đoạn hay một phản ứng nào trên nét mặt. Chưa ai kiên nhẫn nghe tôi kể chuyện khốn nạn đời mình và chịu đựng những lời cay đắng than trách, như ông đã nghe với tâm hồn mở rộng. Tôi nói về lần xúc động trong đời khi nhìn thấy máu từ chính thân thể tôi. Máu dậy thì, một vết bẩn hoen ố với chấn động tâm lý và mặc cảm của một kẻ phạm tội nào đó bị trời trừng phạt. Tôi lặng lẽ chôn dấu tích của sự biến đổi cơ thể, đau khổ như người ta vừa mất mát một điều gì. Và cùng với những ấn tượng chết chóc của chiến tranh, đầu óc tôi nhuốm bệnh. Ai có thể hiểu nỗi buồn của đứa con gái ý thức việc mang thân phận của mình như tôi lúc đó. Ai có thể chia sẻ nỗi sợ sệt hoang mang, mẹ tôi cũng không thể hiểu tôi. Nhưng ông ta hiểu, ông cầm tay tôi ủ vào đôi tay rắn chắc ấm áp của mình, xiết nhẹ.
Ông thường ôm tôi vào lòng vỗ về như dỗ một đứa trẻ. Ở trong lòng ông ta, tôi không cảm thấy mặc cảm tội lỗi hay điều gì đó bất ổn trong lòng. Tôi chỉ cảm thấy một sự bình yên tuyệt diệu, như đứa con trở về với tình thương người cha của nó. Một lần buột miệng hỏi tại sao ông lại ở một mình, thân nhân đâu, sao ông đóng khung đời sống trong một trang trại hẻo lánh. Ông ta im lặng, nhìn vào khoảng trống trong giây lát rồi bảo rằng ngày xưa ông cũng đã có một thời hạnh phúc, một hạnh phúc mỏng manh đã vuột khỏi tầm tay. Một đứa con gái khoảng bằng tuổi tôi bây giờ. Ông cũng đã trở về từ một cuộc chiến, đã mất mát nhiều, mất cả phần tâm hồn và thân xác. Tôi ngỡ ngàng. Thân thể đó không thấy gì khiếm khuyết. Nhưng tôi chợt hiểu, tật nguyền là thiếu mất một cái gì khiến cho đời sống không được bình thường hay quân bình theo lẽ tự nhiên của bản năng. Ðời sống này dường như ai cũng khuyết tật về một cái gì.
Không còn gì vui hơn ngày tôi chinh phục được con Arabian. Nếu không có sự chỉ dẫn dịu dàng khéo léo của ông, chắc gì tôi được ngồi được trên lưng nó phóng như bay trên đồng. Không thể diễn tả sung sướng khi tôi chiếm được lòng tin của nó. Nó mạnh và nhanh như một phi tên bắn vào khoảng trống. Tôi ôm chặt lưng nó, ép sát người vào bờm tóc mặc nó đưa tôi đến đâu cũng được. Tôi như bay bổng trên không. Nó là một con ngựa trong thần thoại. Tôi hãnh diện vui sướng vô cùng. Ông ta đứng nhìn theo với vẻ thán phục, với nụ cười sáng ngời thật đẹp.
Ngồi dưới gốc cây nơi con Arabian vẫn đứng dưới bóng mỗi ngày, tôi nói tôi không biết mình đang ở đâu trong đời sống. Ông bảo có những điều người ta không cần phải biết, như từ đâu đến và sẽ đi đến đâu. Chỉ nên biết hiện tại mình đang ở đây trong giờ phút này, đó là điều thật nhất cần chú ý tới nhất. Tôi hỏi ông tại sao con người có thể trở nên xấu xa, mặc dù người ta không ưa sự xấu. Ông bảo mỗi người là một thánh nhân chưa được khai triển. Lúc ông đăm chiêu nhìn mông lung vào cánh đồng, tôi thấy một tia nắng sáng ngời rọi trên mái tóc nhuốm bạc của ông, y như một vòng hào quang lóng lánh. Tôi nói ông hãy kể tôi nghe chuyện thánh kinh về một người đau khổ đã chinh phục được thế gian. Ông bắt đầu kể. Có một cánh đồng cỏ xanh rì nơi có một giòng suối tươi mát tuôn chảy, trên đồng cỏ ấy người đau khổ bệnh hoạn đến yên nghỉ và tắm mát bên giòng suối, họ khỏe mạnh và được tăng sức cho tâm hồn, rồi trái tim họ cũng biến thành những giòng suối tình thương luôn tuôn chảy vào những cánh đồng khô cằn cạn nước… Tôi chợt nhìn thấy hình ảnh tôi đi trên sa mạc hoang vắng, cánh đồng tôi đã hạn hán mất mùa bao năm, và một giòng suối tình thương từ một trái tim đang đổ tràn vào, tràn vào. Tôi ứa nước mắt xúc động bởi một cái gì rất êm ả xâm chiếm lòng. Chưa bao giờ tôi có cảm giác êm dịu thế. Ðó là lần khóc thứ hai với những giọt nước mắt hạnh phúc nhất trong đời.
o O o
Cơn đau mới đầu chỉ thỉnh thoảng nhói lên, dần nó lộ liễu bung phá dưới những tế bào da thịt trong người. Tôi không nói với ông, tôi chỉ kiếu mệt về phòng nằm nghỉ. Có thể chỉ là cái đau bất thường của chu kỳ đàn bà, hy vọng rồi nó sẽ qua. Nhưng cơn đau vẫn tiếp tục và tôi biết mình bệnh nặng không thể dấu ông ta với những lý do bịa đặt được nữa. Ông đưa tôi đi khám bác sĩ. Người ta thử máu làm mọi thứ giảo nghiệm lẫn chiếu quang tuyến nhưng không hề cho tôi biết kết quả. Tôi xuống cân mau chóng và người dễ mệt mỏi, tay chân bủn rủn thường ngã vật ra bất tỉnh. Ông ta bắt tôi nằm trên giường nghỉ ngơi, nhưng tôi thèm ra đồng phóng mình trên lưng ngựa. Ông không cho phép tôi ra ngoài nữa. Ông ta chăm sóc tôi như một y tá đầy kinh nghiệm, như một người cha bao dung tôi không bao giờ có, như một người mẹ dịu dàng biết rõ tâm lý của đứa con gái dại khờ, ông bảo rằng tôi sẽ khỏi. Rồi ông còn nói về một tương lai mà ông đã xếp đặt cho tôi, một đời sống mới mà chắc chắn một đứa con gái nào cũng mơ ước. Nhưng tôi hiểu điều gì đang xảy đến, dù ông có nói thế nào đi nữa, có cố gắng đem cho tôi một hy vọng hay an ủi. Những lúc nằm im trong yên tịnh lắng đọng, tôi không thể tưởng tượng có ngày tôi lại nằm im thế này. Tại sao tôi lại ra thế này, và những gì đã qua trong cuộc đời vung phá của tôi. Tôi là kẻ chống đối nổi loạn, tôi không thể ngồi yên lấy một lúc, điều gì đã thay đổi con người tôi#? Một phép lạ kỳ diệu hay một sự hàng phục? Tôi không còn có thể chống phá nữa, sự bình thản này khiến tôi có thể nhìn sâu vào lòng mình, nơi tôi vừa khám phá ra được một điều.
o O o
Mùa đông đến, những thân cây trơ trọi rụng đầy lá úa ngoài sân, tóc tôi cũng rụng dần từng đợt quá mỏng không đủ cột một bím tóc như ngày nào rong chơi ngoài đồng. Tôi nói với ông ta, tôi sẽ không trở lại nhà thương nữa. Những lần chạy chemotherapy làm tóc tôi rã ra từng cụm lả tả trong những ngón tay run rẩy hốt hoảng, tôi sợ những luồng điện châm vào người như ngọn roi quất tới tấp vào từng tế bào cảm giác còn lại của tôi. Ông lặng lẽ không nói gì, cầm tay tôi xoa nhẹ. Tôi mân mê chiếc mũ cói ông tặng hôm làm bạn được với con Arabian, chiếc mũ rộng lỏng lẻo trên đầu lơ thơ vài lọn tóc mỏng. Tôi bảo ông hãy cất hết những chiếc gương.
Buổi chiều có mầu nắng héo vàng quái lạ xiên vào căn phòng ẩm hơi lạnh, thoi thóp những hình ảnh mờ ảo lung lay. Ông ta đặt bình hoa có nhánh hoa duy nhất lẻ loi trên chiếc bàn đầu giường. Hình dáng một đầu chim với chiếc mào kỳ dị. Chưa bao giờ tôi thấy loại hoa lạ lùng này. Một đài hoa xanh thẫm có những vệt đỏ như những vết máu bầm nơi mép, bật trồi ra những cánh tím phơn phớt cam, như chiếc triều thiên của một loài chim phượng, giống chim đã mất tích lạ hiếm trong huyền thoại. Ông ta bảo đấy là chim vườn địa đàng, một thứ kỳ hoa mọc trên đất của những giống hoa vườn tầm thường. Nhánh “bird of paradise” cô đơn trong căn phòng đượm vẻ u ám của bệnh hoạn, một vẻ đẹp lạc lõng khác thường chợt làm tôi muốn chảy nước mắt. Vẻ đẹp quá cách biệt xa vời, không thể cảm nhận với một mỹ quan tầm thường. Con mắt thịt làm sao có thể hiểu được thế nào là cái đẹp ở một cõi khác.
Dường như ngoài trời đã mưa nhẹ, những hạt mưa lất phất lấm tấm đọng trong vòm lá ủ đầy bóng tối hắt cơn lạnh vào phòng. Hình ảnh buổi chiều mưa rơi nhỏ nhẹ và cánh hoa địa đàng hình dáng lạ thường như một luồng điện sáng lòa đầu óc tôi đầy bóng tối, như ngọn roi quất vào trái tim khô rạn của tôi, tôi chợt bàng hoàng tỉnh táo. Một cánh chim trắng chợt bay vụt qua khung cửa, bỏ lại khung cửa bơ vơ với bầu trời trống vắng hụt hẫng. Tiếng đàn vĩ cầm từ một phòng bên cạnh chợt réo lên rên rỉ cùng với tiếng mưa rơi tấm tắc như một bản giao hưởng luân vũ của linh hồn. Và chợt mọi hình ảnh phai nhạt trong trí nhớ hoặc đằm thắm say mê bỗng ào ạt hiện về trước mặt. Từ những khao khát được sống cho đến những hành động phung phá vụng dại đam mê chợt trở về đầy đủ. Ðó là dĩ vãng nát nhầu của tôi, đó là tôi bất toàn trong một đời sống không vẹn toàn. Tôi chợt cảm thấy có một cái gì thật gần gũi phảng phất quanh đây, tiếng đập thổn thức của tim, rạo rực một hình ảnh và cảm xúc thật êm dịu. Tôi bỗng thấy cái vô lượng bao dung trong đời sống, trong cả những điều xảy ra cho mình. Tôi lại ngất đi với hình ảnh cánh bird-of-paradise cất cánh bay lên, bay lên cao vào vòm trời có nhiều ánh sao nhẩy múa điệu luân vũ của ánh sáng, và một mùi hương ngào ngạt…
*
Cuối đông, cánh đồng khô trắng dưới những cơn mưa, vòm trời sa thấp nặng nề như một khối chì. Tôi nói với ông có thể tôi sắp đi xa. Ông ta nhìn tôi với cái nhìn xót xa lẫn một chút bối rối trong ánh mắt. Rồi ông xoa nhẹ chiếc đầu trụi tóc của tôi, bảo rằng tôi nhanh chân đi trước ông một đoạn đường. Cuộc đời là một cuộc chạy đua về cùng một đích, tôi là một nài giỏi nên đến nơi trước. Tôi gật đầu nói rằng tôi hiểu. Phải, đó là một cuộc chạy đua đến một điểm đã chờ đợi. Ai rồi cũng sẽ phải ra đi một mình như đã đến đây một mình. Sự vĩnh cửu ở một chốn khác, tất cả rồi cũng sẽ trở về với sự thật đó. Tất cả đã đem tôi trở về, để cho tôi hiểu thế nào là rung động, thế nào là tình thương.
Hai hôm sau ngày ông ta làm phép rửa, tôi bắt đầu lịm đi trong những cơn mê man, cảm giác chập chờn giữa những liều thuốc dịu đau. Trong cơn mê, tôi thấy tôi đi lạc vào một vùng ánh sáng, vùng ánh sáng của thiên thần thánh linh đổ trên đầu tôi y như những gì ông ta diễn tả hôm làm phép rửa. Tôi thấy cả một vùng hoa tím sáng ngời, loài hoa dị thường nhưng không còn vẻ cô đơn lạc lõng. Tóc tôi mọc xanh mướt trở lại, tôi thấy tôi đi trên con đường có những bụi trúc mọc xanh um, tôi thấy bà ngoại tôi đứng chờ tôi ở ngưỡng cửa cười nụ cười móm mém với củ khoai cầm trên tay dành phần cho tôi, và tôi thấy cả nó với chiếc scooter kêu ầm ĩ. Tôi tỉnh dậy lòng nhẹ nhàng thanh thản, cơn đau biến mất và ông ta lại đến bên tôi kể những chuyện ngoài cánh đồng về con Arabian thế nào ngày hôm nay. Mỗi ngày, tôi ngồi trên ghế đu nửa tiếng đồng hồ bên hiên ngoài nhìn nắng và thu nhận tất cả hình ảnh trong vòm sáng đó. Con ngựa tía vẫn đứng yên một mình dưới bóng cây, lặng lẽ tư lự như một nhà hiền triết. Trước khi cơn đau làm tôi run rẩy co rúm người, ông ta lại chích một mũi thuốc vào cánh tay, rồi bồng tôi đặt vào giường không quên đặt nhẹ lên trán một nụ hôn chúc tôi giấc ngủ bình yên. Và cũng như mọi lần, trước khi thiếp đi, tôi lại nghe rõ tiếng phần phật của một đôi cánh đập vào nhau, đôi cánh trắng của thiên thần hay chim bồ câu, có lẽ đến đón tôi vào một nơi chốn bình yên.
Tôi ngả người trên gối, nhắm mắt, và chờ đợi.

[tháng 4, 1992 – Trích từ tập truyện Miền Lặng, Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, Garland TX, 2002]7 Comments6 Shares

Về tác giả

Sinh năm 1962, đến Hoa-Kỳ từ 1975, là một chuyên viên điện toán định cư tại tiểu bang Texas và mất ngày 21-9-2009 tại Dallas, TX.
Thành viên sáng lập và chủ biên của Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng, tạp chí văn học điện tử đầu tiên của Việt Nam – số đầu tiên phát hành ngày 17-7-1995 theo dạng một mail list, sau đó chuyển sang hình thức một trang web tại http:// saomai. org/ ~vhnt, và 
http://demthu.lonestar.org.Độc giả hội viên lên đến 350 người, trong số đó khoảng 70% là giới chuyên gia và 30% là sinh viên.
Phạm Chi Lan cũng đã xuất bản nhiều tác-phẩm và tuyển tập của các tác giả cộng tác với mạng lưới và các Tuyển Tập Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng (1995, 1996). Ngoài ra, nhà văn cộng tác với các tạp-chí khác như Văn, Hợp Lưu,…

Tác-phẩm đã xuất-bản:
– Miền Lặng (tập truyện ngắn, VHNTLM, Garland TX, 2002)

theo Thảo Trường



Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.