Hai người lính…sau một lần-Truyện Phan Nhật Nam

đọc sách1

truyenngan3

HAI NGƯỜI LÍNH…. SAU MỘT LẦN

 

Image may contain: 1 person, eyeglasses and closeup

Phan Nhật Nam

7hob.com136623735666

Anh luôn ý thức được điều, mình là người Khổ Đau. Sự khổ đau có thật, từ một tình cảnh cụ thể, hiểm nghèo… Luôn chuẩn bị để đi tù, bị nhốt vào phòng tối và tồi tệ hơn… sắp đem đi… bắn. Tình cảnh đáng sợ này không do anh gây nên, nó xảy ra cùng một lần với sự sụp đổ miền Nam, khi những người lính được lệnh ném khẩu súng xuống đất, vất bỏ cái máy cò, cởi… tấm áo, chiếc quần, đôi giày… Anh làm những động tác này trước mắt lính anh, ngay tầm nhìn của những người dân thất thần lơ láo… Anh tự lột truồng dưới ánh mặt trời giữa đám đông không ngại ngùng, không bối rối, xấu hổ… Anh coi mình như đã chết từ lâu. Nhưng, bởi chưa chết với thân xác cụ thể nên anh phải sống, với tâm thức đợi chờ lần cuối cùng kia. Anh sống như là một Khổ Đau. Đây là một “thực tế không thể phủ nhận, đảo ngược được”. Hóa ra anh đã sống cùng người Cộng Sản đến mười tám năm nên nhiễm phải thói quen, chữ nghĩa của họ từ lúc nào không hay. Mười tám năm để chờ một điều không có gì phấn khởi, bằng khoảng thời gian từ lúc sinh ra đời đến ngày đi lính, cách đây ba mươi ba năm… Mười tám năm. Kinh thật!
Khi anh qua cầu An Lộc, trời đã sụp tối. Cầu An Lộc tức là chiếc cầu bê-tông thay thế cầu sắt bắc qua kinh An Phú Đông, nối tiếp con đường từ Xóm Mới lên vùng Hóc Môn, đổ ra xa lộ Đại Hàn, vòng đai Sài Gòn ở mặt Bắc. Nơi đây, suốt đoạn đường, trên từng khung sắt loang lổ của cây cầu này. Ngày ấy, khói bom, vết đạn xoáy sâu xuống mặt đất, miết hằn lên lớp sơn đỏ, uốn cong lan can vài thành cầu, vòm sắt phía bờ trái ngập nửa thân xuống nước… Người lính bò khó khăn trì chậm dưới sức nặng của ba lô, nón sắt, súng đạn… Con người di chuyển như những con sâu. Chỉ khác, con sâu bò bình yên trong đất, giữa đám lá, người lính bò nguy nan trên khối sắt còn nóng hơi. Súng nổ từ đám ô rô, bên bờ rạch đối diện, đạn chạm thành cầu nghe coong coong. Người lính hơi nhỏm lên, nhô đầu, nhìn quanh quẩn nháo nhác, ánh mắt thoáng vui mừng khi thấy đồng đội bò theo sau… Tia sáng vui mừng hé lên đồng thời với ánh sợ hãi… Chết tui rồi! Anh ngã ùm xuống nước. Chìm mất, máu đỏ loang rây rây màu nước xanh. Ba lô kẹt vào chân cầu giữ xác anh không bị cuốn đi, chỉ chiếc nón nhựa bung ra khỏi lớp nón sắt trôi bập bềnh theo dề lục bình lấp lánh nắng đầu năm trên phiến lá xanh…
Anh ra lệnh cho người thượng sĩ thường vụ kéo xác người lính vào bờ, cùng lúc khám phá thêm hai thây mới… Thân áo bà ba căng cứng, rách tơi tả, lũ còng gió bám vào những lỗ thủng nhão loét, nửa người từ thắt lưng ngâm dưới nước, phần thân người trên kẹp giữa đám dừa nước, ô rô. Nước xâm xấp xô đẩy vào ra, thây người chuyển động như động tác muốn bò lên bờ. Khi kéo xác người lính lên, người hạ sĩ quan nhìn anh, khẽ hất hàm về phía thây người chết… Thôi để nó nằm đây, kéo lên làm gì. Anh nói trống không. Tôi sợ để đây làm dơ hết nước, mà cũng thấy tội nghiệp… Ừ… ông muốn làm gì thì làm. Anh đột nhiên nôn khan khi nhìn xuống xác người lính… Thằng này hôm đi phép thăm bà già đâu trong Chợ Lớn đây mà. Chiếc máy thâu thanh bọc vải dù mang trước ngực anh ta vỡ toang. Mặt người lính tái thâm đau đau. Anh cúi đầu bỏ đi… Có cảm giác mình cũng chết một phần.
Anh bước lên mặt đường, lớp đá bị đào xới tung tóe, lỗ chỗ. Trên dải đất đá điêu tàn rời rã những xác chết không toàn thân… Con chó gục đầu cắn một đoạn xương người chạy lẩn khuất giữa vòm dừa cụt đầu cháy nám. Chẳng biết xương dân hay xương lính, lính Cộng Sản hay lính Cộng Hòa vì chỉ là đoạn xương chân, tay… Mùi thây chết ngây ngấy theo cơn gió càng đậm thêm trong sắc nắng thiêm thiếp đầu năm. Một ngày đầu năm miền Nam năm 1968. Cũng một năm Thân như năm nay. Hôm nay, anh đi từ cầu An Lộc, cầu sắt An Phú Đông lên ngã tư Đại Hàn mất năm phút Honda… Ngày năm ấy, mất năm ngày. Có thể lâu hơn… Thôi dẫu gì cũng hết chiến tranh, người Việt mua hòa bình với giá quá đắt. Trong trị giá này có máu của mỗi người.
*
…Trên đoạn đường năm phút Honda, anh sống với nỗi đau hai mươi bốn năm trước. Chỉ khác, ngày xưa anh có đồng đội, bạn hữu vây quanh chia sẻ, đấy lại là dịp đầu năm nắng vàng tươi và trời gây gây ấm. Đêm nay, anh qua đoạn đường này một mình và chiều cuối năm, tháng Mười Một âm lịch. Trời se lạnh, gió bạt mưa trái mùa ẩm ẩm rây rây.
Ba bóng người đứng nép vào nhau dưới mái tranh chòi quán đóng cửa bên cạnh đường dốc lên cầu Ba Thôn, cầu bắc qua con kinh nhỏ đầu xã Thạnh Lộc, nơi đơn vị anh thiệt hại ba sĩ quan khi điều quân vượt qua cầu tiến chiếm khu chợ. Cả ba đồng cấp đại úy, có người thuộc khóa trước và người cùng khóa sĩ quan với anh. Mỗi lần qua đây, anh luôn nhớ hình ảnh hàm râu lởm chởm của Khiêm… cằm người bị nạn nghếch nghếch khi thở hắt hơi cuối cùng.
Cũng một năm Thân như ngày này
Bao lâu xong hết phần phiền muộn
Theo dòng bóng tối ta qua đây 
Kẻ mất… người sống tiếp cơn mộng
Anh chỉ còn cách nghĩ đến những câu thơ rời rạc khi qua mối tử sinh. Ba bóng người loáng thoáng ẩn hiện… Họ là ai… Khoảng đường này không người qua lại muộn. Người thôn quê vốn ngủ sớm, cũng là cách tiết kiệm đèn dầu. Anh quay xe, ghé sát mái hiên…
“Anh chị và cháu đi đâu? Cùng lúc nhận ra, gia đình gồm bốn chứ không phải ba, trên tay người đàn ông có một gói nhỏ, đứa bé còn trong tháng, hai chân lòi ra như hai chân chó con. ”
“Dạ, chúng cháu lên ngã ba An xương.” Giọng người Bắc vùng quê, tội nghiệp, than vãn chịu đựng…
“Ngã tư An Xương xa lắm, cách đây đến hơn mười cây số…”
“Vâng, chúng cháu cũng biết. ” Người đàn ông nhướng cặp mắt mờ đục về phía anh chứng tỏ tính chắc chắn của lời nói, chấp nhận hoàn cảnh.
Làm gì được cho gia đình này. Hai vợ chồng còn trẻ, đứa con gái nhỏ dắt tay và đứa bé nằm trong đống tã…
“Thôi nhé, tôi biếu anh và cô chút tiền đi đường, ở lại đây đi, mai đi tiếp, đường còn xa lắm. ”
Cho tay vào túi quần lấy hết tiền lẻ. Đưa rất lẹ và phóng xe đi. Anh không muốn nghĩ gì và nghĩ thêm gì nữa. Những người chết trên đoạn đường này, xuôi dòng kênh rạch, nơi lườn cầu… và người sông kia, ai nhọc nhằn hơn ai… Người chết quả thực thua thiệt, nhưng người sống có được gì. Anh dừng xe giữa cầu sắt Lái Thiêu, cầu bắc ngang sông Sài Gòn, nối Gia Định, Bình Dương. Sông dâng khói lớp lớp, mờ khúc quanh chảy về hướng Bình Triệu. Ông già ăn xin quen mặt vẫn còn ngồi dựa thành cầu…
“Khổ quá ông ơi… Giờ này sao còn ngồi đây, leo lên tôi chở về trong chợ. Xin ai được nữa…”
Ông già hếch mặt cười cười. Nụ cười trẻ nhỏ vô tư, tốt bụng,
“Khổ gì ông ơi… A Di Đà Phật… Đời ông với tui đâu đã khổ… Ông dzề di… mặc tui…!”
“Thôi cũng được, nếu ông muốn. Hôm nay tôi cũng hết trơn tiền lẻ rồi, cho người ta dưới Thanh Lộc hết trọi… -Anh mệt nhọc, giận dữ bâng quơ. Cảm giác có lỗi và vô ích. ”
“Không sao, hôm nào có thì cho.” Ông lão gõ gõ chiếc lon lên sàn cầu, nhìn xuống dòng sông, ư ư câu vè, câu hát lẫn lộn.
“Chào ông… tui đi về…”
Ông già bắt chéo chân, ngồi bình yên.
“Ừ.”
Mắt vẫn không rời mặt nước thấp thoáng dưới xa qua màn mưa chập chờn ánh lửa từ lò gốm bên bờ hắt tàn đỏ.
Khi qua lồng chợ Lái Thiêu trời đổ mưa nặng hạt, anh ghé vào một hàng hiên. Đám đông người không rõ mặt, đứng chen chúc, tiếng ngắn hỗn độn càu nhàu, thở than. Chiếc loa ở nóc trạm thông tin đang loan báo về những thành quả thâu hoạch, sản xuất, tin tức chính trị, “…Nhờ đổng chí Bí Thư Tỉnh ủy tỉnh Sông Bé cùng các cấp ủy đã xuống làm việc tận cơ sở và chỉ đạo sâu, sát nên nhà máy đã sản xuất được những mặt hàng tốt, chất lượng cao, hoàn tất kế hoạch năm 1992 trước thời hạn, đạt và vượt chỉ tiêu do đảng và lãnh đạo đề xuất… Công chúa Thái Lan đã đến thành phố Hồ Chí Minh, phái đoàn Thành ủy, ủy Ban Nhân Dân Thành Phố, Mặt Trận Tổ Quốc, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Hội Đoàn Kết Thái-Việt… Các em bé thành phố đã dâng lên công chúa những bông hoa tươi thắm…” Anh nghĩ đến đoạn đường còn lại, ngõ nhỏ dưới lùm tre, lò bếp, ánh đèn dầu vàng đục và căn nhà kín cửa yên lặng. Yên lặng đến mức nghe được chân nhang cháy đỏ rũ tàn trên bàn thờ ảnh mẹ… Anh hằng nghe âm động im lặng đó, tiếng đêm chuyển dịch và trầm trầm sông trôi nơi xa… A Di Đà Phật! Đời tôi với ông đâu đã khổ… Thật đấy chứ nhỉ… Đời ông lão ăn xin đâu đã khổ… Một thân, một mình, lát nữa về lồng chợ, chỗ ngủ quen thuộc, xị rượu lãng quên… Và anh, cũng không có gì để gọi là khổ… Sung sướng nữa là đằng khác… Lo gì? Tính gì? Trí não trống không thênh thang, không nhu cầu, không hệ lụy… Dẫu là căn nhà tranh cũng kín đáo, ấm áp bội phần so với một sạp chợ bẩn thỉu, nơi ông lão ngủ nhờ và chắc chắn quá đỗi lớn lao đối với mái hiên cửa gia đình nặng con nhỏ trú đổ trên đường xa… Hai đứa nhỏ quá… Trời ơi!
Anh lấy áo khoác ni-lông trong túi xách ra. Mấy ngàn đồng lẻ vừa rồi thay đổi được gì đâu. Anh quay đầu xe trở lại, hướng cầu sắt… Chái hiên nơi chân cầu Ba Thôn trống vắng. Anh đi thêm vài phút, dưới luồng sáng đèn xe, những hình người chạy lúp xúp… Con trẻ bước theo bố ngả nghiêng.
Đứa bé gục xuống ngay trên tay lái xe Honda, người đàn ông -đúng ra đang ở tuổi thanh niên, chỉ do khốn khổ hóa nên tơi tả, khờ khạo- vòng tay ôm chặt lấy người anh, gói tay nải lèn giữa bụng.
“Ông cho cháu giữ thế này nhá… Cháu bị mù. ” Giọng nói trẻ, chân thật, vùng quê xứ Bắc.
“Anh ở đâu, người Bắc sao đến nơi này?”
“Vâng, cháu là người ngoài ý… Cháu, ý… là bộ đội!”
“Bộ đội sao đến nỗi thế… ở đâu đến đây?”
“Vâng… Nhà cháu đi từ Lộc Ninh xuống…”
“Gì? Từ đâu?”
“Dạ… Lộc Ninh, vùng kinh tế mới ở trên ý…”
…Lộc Ninh, An Lộc, cầu Cần Lê, Xa Cam,… Chơn Thành, Bến Cát, Bình Dương… Đoàn người gánh con chạy giặc năm 1972,… Chạy “hòa bình” năm 1972… và cuối cùng, chạy “giải phóng” tháng Ba, Tư năm 1975… Người Thượng, người Kỉnh, người vào Nam cạo mủ cao su trước 1945, người di cư 1954… Đoạn đường trăm cây số này người bế con, cõng cha mẹ già đi dọc theo những dặm trường thống khổ quê hương…
Bé… Bé! Dậy đi con… dậy để ông dễ lái. Người cha lay đứa con nhưng vô hiệu. Nhà cháu đi từ hôm kia, ngày nghỉ đêm đi… Cháu bế con, mẹ cháu dẫn đường, dắt cháu bé này… Tội nghiệp cháu mới tám tuổi, phải đi hai ngày đường… Vừa đi vừa ngủ gật… Không tiền đi xe, đi đến đâu ăn xin đến đó…
“Bộ đội… Sao anh phải đến tình cảnh này…?” Anh bỏ dở câu hỏi, vì chợt nhận ra đang nói đến một điều thừa…
“Cháu bị mù ngày giải phóng Đà Nẵng, khi vào đánh chiếm chỉ huy sở quân ngụy…”
“Còn ai ở đây để anh đánh đến nỗi bị thương mù mắt?”
“Chẳng ai làm cháu gì hết… Bọn ngụy chạy tất… Chỉ do cháu tự gây ra mà thôi… Ấy là nhân bắn quả B40 vào cụm máy… Máy nó phát nổ và cháy ra cái khói sáng gì đấy… Mắt cháu bị nhiễm phải nên bị mù ngay… Y sĩ ngụy cũng không chữa được.”
“Bác sĩ nào của ngụy?”
“Thì quân giải phóng bắt được tại đây, chúng nó có bao nhiêu là thuốc, phòng mổ rét đến khiếp… Cái số cháu quả không may… Thế nên rốt cuộc phải mù! ” 
“Anh mù thế mà không được trợ cấp gì sao?”
“Có ạ… Trên cho cháu nằm viện, xong chuyển ra trại an dưỡng. Cháu gặp mẹ cháu tại đấy. Sau này lãnh đạo điều gia đình cháu đi Lộc Ninh… Từ năm 1982, mười năm rồi đấy…”
“Lên Lộc Ninh làm gì?”
“Dạ, lảm kinh tế… Vùng kinh tế mới qui hoạch trồng tuyền cao su.”
“Anh mù thì làm gì được! ”
“Mẹ cháu đấy chứ, cháu chỉ ở nhà nom các con… Đến khổ, phải để cho hai đứa lớn vào rừng kiếm củi… Chúng đạp phải mìn… Mìn bọn ngụy để lại đấy mà…” Giọng anh nghẹn lại “còn hai đứa bé này mắc phải sốt rét, cháu sợ mất con nên bỏ về đây… Con bé nó đang sốt đấy ạ.”
Giọng kể bình thản trở lại, hình như có phần hân hoan vì tìm được nguyên cớ chính xác làm chết hai đứa con lớn “nghĩa là không thuộc phần trách nhiệm của anh-, và quyết định đúng đắn để bảo vệ hai đứa còn lại. Nỗi sung sướng của người thoát cảnh chết, rất bằng lòng cùng phần cơ thể bị mất đi.
Khi xuống cây xăng ở ngã tư An Xương, người lính tỏ vẻ ngần ngại. Anh hiểu ý… Đừng lo, tôi đã hứa, thế nào tôi cũng làm. Đợi một lát cho mát máy, tôi vòng lui chở vợ anh, từ đó lên đây một giờ, một vòng mất hai tiếng… Anh đừng sốt ruột.
“Không, nhà cháu không có ý ấy, chỉ thấy ông quá vất vả vì chúng cháu… Cháu không biết lấy gì đền đáp… Cháu muốn nói…
“Đừng thắc mắc, tôi không lấy tiền xe anh đâu, anh không nhớ lúc đầu tôi có biếu tiền cho anh và cô mà…”
“Ô hay, thế ông là người cho chúng cháu tiền khi đứng trú mưa đấy phỏng?” 
“Tôi đấy, không những thế tôi còn cho nhiều hơn được nữa. Đợi tôi đưa vợ con anh đến hẵng tính. ”
“Ông nói thế, chứ chúng cháu không dám đòi hỏi gì thêm.”
Người lính đến giờ này vẫn không tin sự việc đang xảy ra, đừng nói điều lớn lao hơn. Và để thêm phần chắc chắn anh hạ giọng,
“Ông ạ… Cho cháu vô lễ nhá.”
“Anh cứ nói.”
“Ông là cán bộ công tác ở cơ quan nào đây ạ?”
Anh cười trong bóng tối,
“Không phải đâu…”
Thật ra anh muốn có lời, “Tôi là người hứng trái B40 ngày nào anh vào giải phóng Đà Năng. Anh mất hai mắt và hai đứa con, nhưng tôi và nhiều người nữa mất hẳn cuộc đời. Mất hết cuộc đời…” Anh lên xe sau tiếng cười lớn,
“Bố tôi cũng là bộ đội như anh, nhưng ông chết rồi! ”
Anh nói điều thành thật.
Người đàn bà bế con đứng chờ anh trong bóng tối. Khác với người chồng bị mù, chị ta xoay trở vụng về với đứa con trên tay trong động tác leo lên ngồi sau yên xe.
“Chị sao thế, chuyền tay nải cho tôi, đặt cháu bé giữa tôi và chị, nhớ giữ cho kỹ… Té là khổ đấy.”
“Dạ… Ông chạy chậm chậm cho con… Con bị hư tay. ” Giọng Quảng Nam buồn bã phiền phiền.
“Tay chị bị hư làm sao?”
“Con… Con là… “dũng sĩ diệt Mỹ ”! ”
“Chị có nói quá không đây?”
“Con thưa thật mà… Con còn có bằng tuyên dương “Anh hùng lao động” và “Huân chương kháng chiến” lát nữa trình ông xem…”
“Tôi xem làm gì…”
Và để nhắc nhở chị ta khỏi ngủ, anh chạy chậm… Nghe và ráp nối nên câu chuyện sau…
Năm 1965, người đàn bà ngồi sau lưng anh là một bé gái mười hai tuổi. Bé nhập vào đám người sống quanh bãi rác, căn cứ Mỹ Quảng Nam, Đà Nẵng nơi lính Mỹ đổ bộ đầu tiên, bãi Nam Ô. Từ Nam Ô, quân Mỹ mở rộng vòng đai phòng thủ chung quanh Đà Nẵng, chiếm đóng các cao điểm trên dãy núi Phước Tường, những đầu mối giao thông dẫn vào thành phố, mặt Bắc phi trường. Bé hằng ngày hai tay hai chai Coca đến gạ bán cho đám lính thiết giáp bảo vệ toán công binh làm cầu Cẩm Lệ, nhánh sông Thu Bồn chảy qua Đà Nẵng vòng dưới chân núi Non Nước. Hai chai Coca thỉnh thoảng mới bán được, nhưng hằng ngày bé trở về với nhiều gói kẹo, sô-cô-la bọc giấy bóng lắm màu sắc. Lính Mỹ vốn yêu trẻ con, cô bé lại có nét mặt thanh tú, mái tóc khô se che nửa mặt không làm cô bé mất nét linh động, tinh anh. Đám lính thiết giáp, lính công binh dần quen thân với bé, họ đưa cô nhỏ lên ngồi trên khung pháo tháp chiến xa, cho vào ẩn trong các vòm kim loại -để sẵn làm cống- khi trời mưa gió… Họ gọi bé “Baby coke”. Thoạt đầu cô không hiểu sau dần quen. Bé cũng lần biết và gọi những tên nghe tức cười… Bốp, Dôn… hoặc nhiều âm như Lồ… “me lồ” v.v… Và bé cũng dần quen với những công việc không ai biết. Đổ cát vào nòng súng, nhét những gói ni-lông nhỏ đựng một thứ nước gì đấy vào những lỗ hổng của máy phát điện, máy cày, máy nổ, máy truyền tin… Tất cả do mẹ dặn sau một thời gian “điều nghiên”. Điều nghiên, chữ của chú Sáu Cơ nói với mẹ nhiều lần. Sau thời gian “điều nghiên” và thực hiện đúng những lời căn dặn trên, bé được mẹ yêu thương, chiều chuộng hơn hẳn các em. cầu làm xong, đám lính công binh đi chỗ khác, lính thiết giáp ở lại, làm nhiệm vụ hằng ngày đi bộ dọc hai bên đường theo đoàn xe… Từ nhà thường nghe những tiếng nổ lớn, lính Mỹ bắn vu vơ, xe thiết giáp sùng sục chạy xuống ruộng và trực thăng Mỹ bay lồng lộn bên bãi cát, trên đồng lúa… Bé biết tiếng nổ đó ở đâu và do ai… Bé có được mối hân hoan pha lẫn nặng lòng.
1968, cô bé đã là một cô gái cứng cáp khôn lanh để không đi bán Coca nữa, mà hành nghề rửa xe nơi bãi cát dưới chân cầu. Bé kiếm được những món tiền khá dễ dàng mà công việc cũng không lấy gì làm nặng nhọc. Mẹ còn cho phép bé lân la thân mật với những người lính trẻ. Những người lính tóc vàng, mở lớn đôi mắt xanh, thường nói với giọng đùa cợt, “I love you baby…” Cô không hiểu nghĩa lời nói nhưng chắc đó là một ý vui, nên chỉ lắc đầu cười rạng rỡ. Bé cũng biểu lộ mối cảm tình với đám lính bằng cách rửa xe thật sạch, trả lại những đồng tiền quá giá biểu, nhưng cũng biết tránh né những đụng chạm lộ liễu với ánh mắt vụt trở nên nghiêm nghị, lách thân mau mắn khỏi những ngón, bàn tay suồng sã…
Do từ những tiếp xúc, nghe ngóng, dò hỏi, cô dần biết khoảng thời gian, số lượng xe, người di chuyển vào ra qua ngã cầu Cẩm Lệ. Những tiếng nổ vì thế trở nên chính xác và hiệu quả hơn… Trên mặt đất dấu máu người rây dài đến mấy ngày sau.
“Nhưng tất cả cũng tại vì con…” Người đàn bà kết luận.
“Tại thế nào. Anh chuyển xưng hô vì một nỗi e ngại mơ hồ, phần mệt nhọc bất chợt nên câu hỏi lạnh nhạt ưống không. ”
“Do con ham quá! Thấy các chú quá khen nên hôm đó thay vì chỉ chôn một trái, con cột thêm khối bê-ta, cái kíp nổ nó bị chạm… Con bị toét bàn tay… ”
“Sau khi kíp mìn bị nổ, ai đưa cô đi cứu cấp?”
“Mỹ… Mấy người Mỹ thường ra giữa đường, rửa xe… Họ kêu trực thăng xuống, trực thăng đáp ngay trên chỗ chôn mìn, mìn nổ, chiếc tàu bay bị bung lên… Người Mỹ bắn súng đại liên chết liền… ông ta chết đè lên người cháu, nên cháu chỉ bị thương ở cánh tay… Tay cháu hư là vì lần nổ thứ hai này… bị phá lên thấu vai. ”
“Sau đó sao nữa?”
“Con nằm nhà thương Mỹ, xong chuyển qua nhà tù của ngụy…”
“Sao lại nhà thương Mỹ?”
“Vì… Vì họ không biết cháu chôn quả mìn và làm những chuyện trước đó… Ngày nào cũng có cô y tá Mỹ biết nói tiếng Việt Nam vào kể chuyện, cho bó bông, và nhiều đồ chơi… Nhưng sau đó bên Việt Nam người ta biết… Họ vào nhà thương lấy cháu đi…”
“Người Mỹ… không nói gì cô à?”
“Lúc đầu, ở nhà thương người ta không cho cháu đi, nhưng sau đó vì cô y tá bảo vì cháu là “vi-xi” nên phải trả lại cho ngụy… Bọn lính Sài Gòn đem nhốt cháu tuốt trong Biên Hòa… Trong tù cháu được vào đoàn, sau đó kết nạp Đảng do Chi bộ nhà giam Tân Hiệp chủ trì. Các dì bảo cháu là một “chị Ba Định” hoặc “dì Nguyễn Thị Riềng” của đất Quảng anh hùng.”
“Cô ở tù bao lâu?” Anh ngán ngẩm, tưởng đang kéo khối nặng trì trợm một cách vô ích.
“Đâu khoảng hai năm, năm 1973, bọn ngụy trả cháu về cho chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam… Ngày giải phóng Đà Nẵng con vào tiếp thu, xong được bố trí công tác tại trại An Dưỡng thương binh… Cháu gặp anh ấy ở đấy, trên kết hợp hôn nhân cho chúng cháu… Ban quản lý bệnh viện bảo chúng cháu là “điển hình tiên tiến” của tuổi trẻ thời đại Hồ Chí Minh… -Những chữ, cụm từ ươn tuột không vấp váp…”
“Anh và cô chỉ được chừng ấy thôi sao?” Anh nghe có nỗi hờn giận u uất, cho người và cho cả mình.
“Cháu được biểu dương, có “huân chương kháng chiến”, được mang danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ”…” Và giọng nói trở nên mạnh mẽ hào hứng “…Năm 1981, cháu được cấp ủy Quảng Nam-Đà Nẵng đề xuất làm đại biểu tuổi trẻ đi dự đại hội liên hoan thế giới ở La-ha-ba-na, nếu đừng có những mảnh vụn trái mìn làm nám ở mặt và biết nhiều chữ… cháu sẽ đọc diễn văn ở đại hội chứ không phải chị Võ Thị Thắng… Nhưng cháu được chụp hình chung với dì Ba Định và đồng chí Phi-đen- cát-ít-xì-tơ-rô. -Giọng chất ngất hân hoan. ”
“Cái hình còn không?” Anh hỏi nhạt nhẽo vì biết câu chuyện không thể chấm dứt chứ không do tò mò tìm biết.
“Còn chớ… Được sang ra làm nhiều tấm to bằng nửa cái cửa sổ treo ở Nhà Thanh Niên, trụ sở ủy Ban Nhân Dân tỉnh, Hội Liên Hiệp Phụ Nữ, Thành Đoàn và cả Nhà Văn Hóa Thiếu Nhi… Đó là tài sản chung của tập thể chứ không phải của riêng cháu… Các chú cấp cao nói như thế, và cháu cũng phải chấp hành thôi…”
“Thế cô đi Lộc Ninh từ bao giờ?” Anh muốn kết thúc câu chuyện vì đã đến điểm không còn điều hân hoan… Cách chấm dứt mau lẹ một nỗi đau.
“Sau khi con đi Cu-ba về, các chú trên chấp hành nghị quyết của lãnh đạo, theo lời dạy của bác Hồ “đâu cần thanh niên có… đâu khó có thanh niên… ” Lộc Ninh là vùng mới giải phóng lại bị càn nặng trong chiến tranh nên cần cán bộ khung làm cơ sở, nhất là để tuyên vận thanh niên. -Những từ ngữ quen thuộc tuôn ra mau chóng, người đàn bà đã quên mất cánh tay hư, trăm cây số đường dài từ Lộc Ninh và một tương lai khởi đi từ ngã tư An Xương, một nơi gia đình chị đi đến… ”
Chín giờ đêm, anh đến ngã tư An Xương lần thứ hai. Người chồng và đứa con gái ngồi chờ ở mái hiên, anh giương tròng mắt trắng đục nhìn xuyên qua màn đêm dày ngóng vợ, con.
“Mẹ… Mẹ… Mẹ đến rồi bố ơi!”
Người thanh niên đứng vụt dậy. Anh khua gậy lên mặt nhựa đường. Mình… Mình… Mẹ… Mẹ đâu…? Và khi giữ được vợ con trong tay, anh bật khóc…
“Bây giờ nhà cháu xin nói thật, nhà cháu xin lỗi ông… Cháu tưởng ông không trở lại, ông đưa mẹ cháu đi luôn… Mà… mà… cháu cũng muốn thế! Mẹ con nó quá khổ… Cháu không đành…”
Anh cười thảm hại. Tôi đưa vợ anh đi luôn để làm gì… Và đi đâu? Tôi cũng không khá hơn tình cảnh gia đình anh, còn tệ hơn nữa là đàng khác! Thật ra anh cũng đã rõ ý nghĩ của người thanh niên từ chuyến đi đầu tiên… Không có tình thương trong cuộc sống của những con người này, nếu có cũng quá đỗi hiếm hoi. Hiếm hoi như tiếng lời họ rất ít khi được nói thật và nghe cùng.
Anh lấy trong túi xắc tất cả số tiền vợ chồng người bạn vừa đưa khi chiều để dùng trong dịp lễ Giáng Sinh và đầu năm dương lịch…
“Đây nhé, tôi chỉ có từng này, anh và cô giữ cho cháu. Ngày mai dùng đi đường, cháu nhỏ không còn sức đi thêm nữa… Nhưng anh và cô đến ngã tư An Xương này làm gì?”
“Chúng cháu định đi Tây Ninh.” Người vợ sau khi đã đầy đủ chồng con, lấy lại thế chủ động, mau mắn như sẵn cố.
“Làm gì trên Tây Ninh?”
“Chúng cháu đi… ăn xin.” Người thanh niên can thiệp. Đôi mắt mù cho anh ta mối tự tin không ngượng mặt.
“Đi ăn xin thì cần gì phải lên Tây Ninh… Sao không về Sài Gòn…” Anh cũng không chờ câu trả lời, phóng vụt xe đi. Điều phiền não trong lòng đã quá đỗi lớn lao. Hình như mắt cay cay.
*
Khi anh trở lại cầu sắt Lái Thiêu, trời đã quá khuya, mưa tạnh hẳn, trời cao, mây bàng bạc, trăng hạ tuần biêng biếc. Anh dừng xe chỗ ông lão hành khất ngồi ban chiều, nhìn xuống dòng nước sâu đen… Sóng cuốn trăng trôi theo dáng sông. Ánh lửa chài đêm chập chờn đầu sông, phía Bình Dương. Nhìn trái phải, hai nhịp thành cầu im lặng ướt sương và cơn mưa vừa qua. Nghĩ được gì đây… Có con thuyền nhỏ dật dờ xô đẩy dưới chân cầu. Anh đi đến, nhìn xuống. Bước chân chạm thành cầu nghe âm u. Thuyền tối sẫm, chỉ bồng bềnh dáng người ngủ say, chân buông thõng trên sóng nước… Hóa ra lời ông già ban chiều mới thật đúng… A Di Đà Phật… Ông, tôi đâu đã khổ… Kể cả người nằm say trên dòng sông dưới kia.

Viết cho tất cả những người đã sống, chết của cả hai bên để không có gì thay đổi như dòng sông. Gửi bằng hữu gần xa.

lính Nam Bắc

Tháng 11, 1993

Phan Nhật Nam

Phụ đính vê Phan Nhật Nam

Phan Nhật Nam

Tên thật Phan Ngọc Khuê. Sinh năm 1943. Đổi thành Phan Nhật Nam 28-12-1942.
Mười bốn năm lính. Mười bốn năm cải tạo.
Đến Mỹ diện HO năm 1994.

Tác phẩm đã xuất bản trước 1975:
– Dấu Binh Lửa (Đại Ngã, Sài-Gòn 1969; Hiện Đại tái bản 1973)
– Dọc Đường Số Một (1970)
– Ải Trần Gian (1971)
– Mùa Hè Đỏ Lửa (Sáng Tạo, 1972; Hiện Đại tái bản 1972,1973)
– Dựa Lưng Nỗi Chết (Hiện Đại 1973)
– Tù Binh Và Hòa Bình (Hiện Đại 1974)

Tác phẩm xuất bản ở hải ngoại:
– Những Chuyện Cần Được Kể Lại (California 1995, bản dịch The Stories Must Be Told 2002)
– Đường Trường Xa Xăm (California 1995)
– Đêm Tận Thất Thanh (thơ 1975-1993, 1997)
– Mùa Đông Giữ Lữa (1997)
– Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (2003)
– Phận Người Vận Nước (2013)
– Chuyện Dọc Đường (Tuần báo Sống, 2013).

KhanhTruong

theo Thảo Trường

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s