Sau ngày ma chết-Truyện của Như Không Quang Trung Dinh

đọc2

truyện ngắn

SAU NGÀY MA CHẾT

Quang Trung Dinh

Như Không.

( Khoảng đầu thế kỷ XX, người VN có câu ” Cọp Khánh Hòa ma Bình Thuận để nói về những vùng đất này )

No automatic alt text available.

Sau chiến tranh, chú Hai Điển về lại quê xưa. Bố mẹ đã mất, người thân thích chẳng còn được mấy. Căn nhà gạch nhỏ nằm ở làng chài ven biển Bình Thuận người chú họ giữ dùm cho chú bỏ hoang đã lâu, cỏ cao bò đến mé thềm, cánh rừng thông sau nhà ngày đêm rì rào gió thổi. Chung quanh vắng lặng ghê hồn, giữa trưa chú nằm trên võng gác tay lên trán nghe cái tĩnh lặng của vùng quê gần biển nghe u u trong đầu rồi ngủ thiếp đi. Đến khi tỉnh giấc cũng vẫn cái vắng lặng như thế, vẫn hàng thông rì rào, vẫn tiếng sóng biển vỗ nhẹ ngoài xa và vẫn không một bóng người. Cái cảm giác trống trải, nhẹ tênh tênh vì không còn cần phải nghe tiếng còi tập họp trong quân ngũ như ngày trước làm chú lười biếng một cách dễ chịu. Có khi chú vẫn nằm yên nhớ lại những ngày đã qua. Ba tám tuổi đầu trơ thân cụ, chú chẳng còn ai ngoài ông chú họ với vài người anh em con chú bác. Có ai đâu để mà phải vội vã, phải lo lắng ? Trong chiến tranh chú là hạ sĩ quan Quân vận, mặc dù không trực tiếp cầm súng đánh nhau nhưng những lần chở tiếp tế ra chiến trường, chú chẳng xa lạ gì với chết chóc thương tích. Nhờ trời đất thương mà qua hơn mười năm chiến tranh trong đời chú Hai Điển chẳng bị sứt mẻ gì, duy chỉ có một lần tiếp tế cho một đơn vị Dù đang đánh nhau ở Bình Tuy, đoàn xe GMC mà chú có nhiệm vụ áp tải bị phục kích. Chiếc xe chạy ngay trước xe chú trúng mìn bốc cháy và lật nghiêng trên đường. Người tài xế chết ngay tại chỗ, người lính ngồi bên bị thương nhẹ bò ra, khập khiễng chạy núp dười một gò dất, giương súng bắn bừa vào những rặng cây lúp xúp ven đường. Súng bắt đầu nổ như bắp rang. Những bóng người mặc kaki màu cứt ngựa trong các rặng cây phía xa xuất hiện vừa chạy vừa bắn vào đoàn xe.
Chú hét lớn trong cái máy truyền tin :
“ Đù mẹ dính rồi . Bắn ! “
Chú vừa bung cánh cửa chiếc GMC nhảy xuống thì một quả B40 đã ầm một phát, chiếc ca bin xe tan tành. Cú chớp nháng lửa và sức nổ làm chú bắn xuống vệ đướng bất tỉnh. Khi mở mắt ra đã thấy mình nằm trong Quân Y viện. Thấy mình nằm trên giường, băng bó lung tung, dây nhợ lòng thòng gắn trên tay, chai truyền dịch lủng lẳng phía trên. Khi tỉnh hẳn, chú nhận ra một Trung Úy bác sĩ Quân y đứng kế bên. Ông Trung Úy mĩm cười:
“ Tỉnh rồi hả ? “
Chú cố gắng nhớ lại những gì đã xảy ra.
“ Tôi có sao không, ông thầy ? “
“ Chưa nhằm nhòi gì đâu. Bị sức nổ mạnh nên bị choáng. Phổi bị ép nặng mất khá nhiều máu ”
Lúc đó chú mới nhận ra có những chỗ băng bó trên thân mình nhưng tay chân còn nguyên.
“ … Còn tụi tôi sao rồi ? “
“ Tôi đâu có biết. Trực thăng đưa chú mày tới đây mà ? “
…Sau này khi đơn vị cử người tới thăm chú mới hay. Đoàn công voa được cứu nhờ đại đội hộ tống toàn thứ lính dữ dằn. Họ phản ứng như chớp, ngay tiếng nổ đầu tiên họ đã nhảy xuống xe, dàn hàng ngang bắn dữ dội về phía bên kia. Hai chiếc trực thăng hộ tống đảo tới đảo lui, mấy cây đại liên M 60 bắn xối xả xuống yểm trợ. Trận đánh kéo dài không lâu vì lực lượng phục kích chỉ là dân địa phương không quen chiến trận.
“ Rồi sao nữa ? “. Chú hỏi người hạ sĩ quan đại diện đơn vị đến thăm.
“ Thì sao đâu ! Chúng nó rút bỏ lại 8 xác. Mình cháy 3 xe, mười mấy em bị thương, sáu thằng chết. Hai bên Quân vận của mình, mấy em kia bên rằn ri hộ tống. Ông và thằng T. vô viện “
Hai Điển chép miệng:
“ Đù mẹ… Đánh đấm như con c… mà cũng phục kích ! “
Đợt đó chú nghỉ 29 ngày tái khám gần nửa năm. Lính xa nhà, khi không được ăn no lãnh lương, trắng da dài tóc sướng gần chết. Chú về thăm nhà và đó là lần cuối chú gặp cha mẹ mình. Hồi đó chiến tranh còn dữ dội lắm, sau này chú được biết một trận đánh lớn đã xảy ra gần nơi cha mẹ chú ở. Một buổi chiều khi từ trên rẫy trong mé núi xa trở về, cha mẹ chú bị một trái pháo “ mồ côi “ bắn trúng. Cả hai người cùng qua đời một ngày, cũng chẳng biết pháo của bên nào. Thôi thì sống chết có số, khi chú về thì đám tang đã xong. Năm đó chú đã ngoài ba mươi. Chú còn nhớ ngày chú đến chào bà con hàng xóm để cảm ơn và lại ra đi, có một con bé đâu khoảng mười mấy tuổi nấp sau áo mẹ cứ nhìn chú chằm chằm. Bà mẹ nó bùi ngùi nói với chú khi chú đến chào trước khi lên đường:
“ Thôi chú ráng giữ mình. Mai một hòa bình rồi về quê mà ở. Đây người xứ mình, ai cũng thân thuộc hết. Chúc chú đi mạnh giỏi “
Con bé đen thui núp sau áo mẹ cũng lí nhí bắt chước :
“ Chúc chú đi mạnh giỏi “
…Mười năm sau hòa bình thật. Và con bé đen thui hồi trước giờ này đã là một thiếu nữ đang thập thò đứng xa xa hỏi chú khi chú vẫn còn đang nằm lơ mơ trên võng :
“ Chiều rồi mà sao chú còn ngủ ? Ngủ vậy tối ngủ không được đâu ! “
Chú ngồi dậy nheo mắt nhìn :
“ Qua lớn hơn em không nhiêu đâu ! Kêu bằng anh đi ! “
Cô gái đỏ mặt:
“ Kêu…gì kỳ. Thôi dậy đi. …Để vô nấu cơm cho. Có mớ cá tươi mới đi biển về mang qua đây nè “
Cô cứ cái kiểu nói trổng trổng như vậy nhiều tháng, khi thì con cá bó rau mang qua cho chú, khi thì nấu dùm nồi cơm, lúc lại cầm cái chổi quét nhà, giặt sạch cái mớ quần áo bẩn chú vứt lung tung trong nhà. Cho đến một chiều vắng dưới hàng thông rào rạt trên bờ biển chú nắm tay cô.
“ Thôi… mình về ở với nhau nghe ? “
Cô không nói không rằng, cứ cúi đầu nhưng chú có cảm giác bàn tay nhỏ bé mà chú đang nắm cũng đang nắm chặt lấy bàn tay của mình.
Họ về sống với nhau như vậy. Một đám cưới nhỏ, ông chú họ làm chủ hôn. Ba mươi mấy lít rượu gạo nhà nấu, đồ biển tôm cá ê hề.Mọi người đều vui vẻ hỉ hả. Năm đó chú trạc gần bốn mươi, cô Châu vợ chú kém hơn mười mấy tuổi. Hòa bình rồi, chú đang sức vóc, lại cũng đang theo nghề cá của mấy anh em trong họ, cũng không rượu chè bài bạc gì lại hiền lành ít nói, ai mà không ưng gả con cho ?
Anh Công An khu vực mấy bữa sau ghé thăm nhà chú vào lúc chặp tối khi chú vừa đi biển về. Anh bước vào nhà cất tiếng :
“ Chào chú Hai. Khỏe không chú ? “
“ Ừ thì cũng khỏe. Thì cũng ráng khỏe mà nuôi vợ nuôi con chớ ? ”
Giọng chú nghe có vẻ gì thoang thoáng chua cay.
“ Giờ hòa bình rồi. Dù trước đây chú là thành phần ngụy quân ngụy quyền nhưng bây giờ thì chú ráng sống tử tế làm ăn để dân mình còn xây dựng xã hội chủ nghĩa nữa. “
Chú nóng mắt :
“ Sống sao là tử tế hả ? Tôi cũng vô hợp tác xã, đi biển về cũng đóng thuế ai có phần nấy đầy đủ, tử tế là sao ? “
Lần đầu tiên cô Châu vợ chú mới lờ mờ thấy chú cũng không mấy “ hiền lành “ như cô nghĩ:
Anh Công An có vẻ hơi bất ngờ :
“ Thì tôi nhắc nhở chú vậy thôi. Địa phương này hồi nào giờ an ninh không bị tai tiếng gì. Nhắc chú vì trách nhiệm chung thôi “
“ Chú khỏi cần nhắc. Tôi dân xứ này tôi biết. Tử tế lắm, đàng hoàng lắm. Nghèo chết bỏ chớ không nói bậy làm bậy. Khỏi cần nói nhiều. Nghe ! “ 
Anh CA đứng dậy, vẻ không bằng lòng ra mặt :
“ Thôi được. Tôi về. Mong được vậy là tốt rồi “
Đêm đó chú thức khuya hơn mọi ngày. Chú ngồi trầm ngâm bên ly rượu uống vô hồi kỳ trận. và cũng là lần đầu tiên cô Châu vợ chú mới biết hình như còn có một người đàn ông khác trong chú. Khi đêm đã khuya, cô vén mùng chui ra nhắc:
“ Thôi vô ngủ đi anh. Nói mích lòng họ làm gì ! “
“ Ừ thì đi ngủ “. Chú nói dịu dàng.
“ Nghe cái bọn nhóc này nói là phát ghét.”
Rồi chú bỗng buột miệng chửi thề:
“ Mẹ…phải chi… “
Chú bỏ dở câu nhưng cô cũng lờ mờ hiểu cái “ phải chi “ mà chú nói.

***

ngư dân Ninh Thuận

Cuộc sống cứ thế êm đềm trôi qua mười mấy năm. Chú đi biển với đám anh em có khi cả gần tháng mới về. Da dẻ càng lúc càng đen sạm nhưng khỏe mạnh, rắn chắc như cái cột đồng. Chú chấp nhận và bằng lòng với cuộc sống hiện tại dù mắt thấy tai nghe bao nhiêu điều ngang trái. Thôi cứ kệ mẹ nó, còn sống yên ổn là tốt rồi, ai sao mặc kệ. Con đường quốc lộ trước mặt bao nhiêu năm hiu hắt nay xe cộ chạy kìn kìn, đường tráng nhựa thẳng băng chạy êm ru. Thi thoảng xe dừng lại, hành khách kéo nhau xuống vô làng chài, ai nấy đều ăn mặc đẹp đẽ, nói năng cũng dễ thương. Chú thấy lòng dịu lại, tự nhủ thôi thế là tốt lắm rồi, những ngày chinh chiến và những ký ức còn nóng hổi trong chú cũng dần dần phai nhạt. Bà vợ chú, cô Châu đen nhẻm ngày nào cũng phát tướng trông mập hẳn ra. Bà sinh cho chú được đứa con gái xinh xắn đặt tên là Hồi. Hồi là quay về, ý chú như thế. Quay về là không đi nữa, không chết chóc đánh đấm gì nữa. Con bé ngoan ngoãn, biết quý cha thương mẹ, da dẻ trắng bóc không giống mẹ ngày xưa. Nó lớn lên hồi nào không biết, cho đến ngày mà một thằng cũng con nhà làng chài đến chơi thăm nó.
Thằng nhóc mới lớn râu ria lún phún đứng rụt rè bên cánh cổng lúc chú vừa đi biển về cúi đầu chào chú lễ phép:
“ Con chào bác. Bác cho con tới thăm em Hồi “
Chú nhìn chăm chăm thằng nhỏ rồi bỗng nhiên phát cười ha hả làm nó hoảng hồn.
“ Mày tới thăm em Hồi ? Ủa, chớ tao đẻ mày hồi nào mà mày gọi nó là em vậy ? “
Thằng nhỏ xanh mặt lúng túng :
“ Dạ con hồi trước học chung lớp với Hồi. “
Chú nheo mắt tùm tĩm:
“ Mày con cái nhà ai vậy ? “
“ Dạ con ở xóm trên. Con học chung lớp với Hồi hồi lớp bảy. Cha con là ông Ba Nu có ghe cá trên đó “
Chú gật gù:
“ Vậy hả ? Ừ, tao có nhậu với ổng mấy lần. Thôi vô chơi đi con “
Vô nhà, chú nháy mắt với vợ :
“ Nè bà, có cậu nào tới thăm con gái của bà nè “
Bà ngớ ra một lúc mới hiểu ý chồng nhưng làm nghiêm:
“ Cậu vô chơi. Con tôi cũng rảnh được chút “ 
Nhiều lần như vậy rồi thằng Bốn bạn của Hồi được coi như người trong nhà. Nó ở lại ăn cơm với gia đình chú, lúc biếu chú chai rượu nhà nấu, lúc vài gói thuốc. Nhiều bữa hai đứa ở tịt ngoài vườn cả tiếng đồng hồ nói chuyện, hai vợ chồng chú cũng mặc. Dân miền biển dễ tính, tin người, với lại gia đình thằng Bốn chú cũng không lạ gì. Cha nó hồi trước trốn quân dịch, ở tịt ngoài biển cả tháng, ai biết đâu mà bắt lính ? Nhiều lần ngồi nhậu với nhau chuyện trò làm ăn, ông Ba Nu cũng ít nói. Ai hỏi thì trả lời, chẳng mích lòng ai. Cho đến ngày vợ chồng ông Ba Nu tới thăm, mặc đồ tử tế áo bỏ vô quần, xin phép ông bà Hai Điển nói chuyện sắp nhỏ. Chú Hai mời ngồi rồi to tiếng gọi con:
“ Con Hồi đâu rồi ? Ra tao biểu coi “
Con nhỏ khép nép đi ra, mặt đỏ gay đỏ gắt. Chú cười thầm trong bụng : “ Té ra sắp xếp trước hết rồi, làm bộ qua mặt thằng già này đây ! “
Chú quát con nhỏ :
“ Mày đứng yên đó nghe, Để tao tính chuyện với bác Ba đây nghe “
Con nhỏ xanh mặt đứng yên thin thít.
“ Thưa anh Hai, thằng nhỏ Bốn nhà tôi thương cháu Hồi. Nay vợ chồng tụi tôi tới thăm anh chị, cũng xin được biết ý kiến anh chị ra sao để chúng tôi còn tính “
Trời đất ! Tính gì nữa mà tính ? Nên chú nói luôn:
“ Tôi hồi trước đi nhiều, sống chết cũng nhiều, biết nhiều rồi. Thôi thì sắp nhỏ thương nhau, gia đình gốc gác chúng tôi cũng biết. Chúng tôi cũng coi thằng Bốn như con cháu trong nhà. Vậy anh chị tính ngày nào thì mình bàn bạc với nhau thêm sao cho nó phải đạo với ông bà là tốt rồi.” 
Hai ông già ngồi uống rượu với nhau, hai bà lúi cúi trong bếp với con Hồi. Hôm đó sau khi tỉnh rượu, lúc ông Ba Nu về rồi, chú Hai mới thấy lòng buồn thấm thía. Thoáng cái mà mấy mươi năm. Bây giờ tuổi già bóng xế, có đứa con gái duy nhất rồi cũng sẽ theo chồng. Tuổi già rồi sẽ cô quạnh biết bao nhiêu ! Nhưng cái lẽ đời nó như thế, làm sao mà khác được ?

***

…” Tụi nhỏ “ về ở với nhau được mấy năm. Ông Hai Điển có đứa cháu ngoại thiệt dễ thương y như mẹ nó hồi trước. Từ nhỏ bé San quấn ông ngoại còn hơn cha mẹ nó, suốt ngày lũm chủm theo ông. Ông quý con nhỏ như vàng như ngọc, tối ngày ẵm bồng, cha mẹ nó la tới nó là ông trợn mắt:
“ Mấy đứa bây làm gì la nó hoài vậy ? Nó con nít con nôi biết gì ? “
Riết rồi con Hồi với chồng nó mặc kệ hai ông cháu với nhau. Thằng Bốn đi biển về lụi cụi bếp núc phụ con Hồi. Nó hiền lành như cục đất, vợ cằn nhằn mấy cũng chỉ ừ à không thèm chấp. Bà Châu phụ con gái mở cái cửa hàng nho nhỏ bán hàng xén, thêm mấy món linh tinh trong nghề cá mà ông Hai Điển cứ mỗi tháng một lần lại lên tỉnh mua về. Lâu lâu lại có lần những người bạn cũ lính tráng ngày xưa của ông Hai Điển ghé thăm. Họ ngồi uống rượu nói chuyện với nhau thâu đêm.Những lần như thế ông Hai lại biết thêm về những chuyện bên ngoài cái làng nhỏ bé của ông. Rằng trên Tây Nguyên nhà nước làm ăn Bô Xít gì gì đó lỗ trào máu họng, người thiểu số mất nhà mất đất kêu thấu trời xanh. Rằng ngoài Hà Tĩnh có nhà máy thép Phọt Mô Xa xả thải làm biển ô nhiễm cá chết trắng bờ không còn một mống. Những lần như thế ông Hai Điển lại ngồi thừ người nhiều ngày, ban đêm thức khuya ngồi uống rượu một mình. Kiểu này lấn quấn chúng lại mò ra tận đây, xây nhà máy nhà móc gì đó thì chết cả lũ.
Ông lo không thừa. Mấy tháng sau mấy ông nhà nước về vận động dân chúng di dời nơi khác để lấy đất xây nhà máy nhiệt điện. Dân biển nghèo khổ, chẳng nhà to cửa rộng gì, đi chỗ khác cũng dễ. Đất đai chưa có người ở gần biển thì mênh mông không thiếu. Đi thì đi mà không đi cũng không được. Nhưng trong lòng ông vẫn có gì đó không yên. Như rất nhiều người khác, ông mơ hồ cảm nhận có gì đó rất không ổn. Cái trực giác của người lớn tuổi, từng trải sống chết như ông linh cảm được mối nguy hiểm. Cái gia đình nhỏ bé của ông lại tay xách nách mang díu dắt đi nơi khác. Xe cộ tấp nập chạy tới chạy lui, xe chuyên dụng nổ máy tối ngày cẩu những thanh sắt bề thế ra xóm chài yên tĩnh bao đời nay để xây nhà máy. Bà Châu vợ ông dạo này yếu nhiều chỉ nằm một chổ. Ông Hai với thằng Bốn lụi cụi làm đủ thứ chuyện di dời về chổ ở mới. Gần hai năm sau, nhà máy chính thức vận hành. Dân miền biển hiếm khi thấy một dịp trọng đại như vậy. Nhiều đoàn xe hơi bóng lộn chở mấy ông to tới trong dịp khai trương có cờ xí, biểu ngữ màu đỏ chói mắt. Cuộc sống đã thay đổi nhiều và trực giác của ông Hai đã không đánh lừa ông. Những ngày sau đó ra biển, ông Hai tái mặt khi nhìn thấy những dòng nước đen kịt xả thẳng ra biển. Cái nhà máy điện với những ống khói cao nghệu cuồn cuộn tuôn lên trời những đám khói dầy đặc như mây bão. Thôi rồi ! Ông kêu trời. Trời đâu mà nghe ? Ngoài biển cái ống xả khổng lồ ngày đêm xả nước thải đen ngòm. Vùng nước đen loang rộng ra, mọi lần chỉ dong thuyền ra biển vài tiếng đồng hồ là có cá. Bây giờ vệt đen loang ra mãi ngoài xa, cá tôm chạy mất đất, những xác cá tôm chết vờ vật trên mặt biển ai dám ăn ? Trên bờ ngày đêm khói xả mù trời đất, những ngày không có gió, trời đất âm u là luồng khói độc hại đó cứ sà sà mặt đất không tan. Cái luồng khói quỷ quái xộc vào từng nhà, chỗ nào cũng đầy tro bụi. Ông Hai đau xót, bất lực nhìn đứa cháu ngoại bé bỏng thở hồng hộc như cá mắc cạn, bà ngoại nó thì dạo này nằm liệt giường. Chạy đi đâu bây giờ đây ? Thiên tai không bằng nhân tai. Đã nhiều tháng nay tàu cá nằm bờ. Đi gần thì không có cá. Đi xa thì tàu lạ đâm chìm. Đất Bình Thuận khô cằn sỏi đá, làm ruộng không được làm rẫy không xong rồi lấy gì ăn ? Mấy ông bà già bàn nhau vác đơn đi kiện. Vô ích. Con kiến mà kiện củ khoai, cái nhà máy điện vẫn ngang nhiên nằm đó như thách thức. Cái xóm chài nhỏ bé ngày nào co cụm lại như có giặc.
Bà Châu qua đời sau nhiều tháng. Yếu như bà “ đi “ sớm là phải. Chịu sao thấu ? Ông Hai nuốt nước mắt tiễn vợ. Bà Châu nằm trên một cái gò đất cao, ngày mở cửa mả ông ngồi bên mộ vợ rất lâu. Ông thầm thì với bà, rằng thôi thì mình đi sớm cũng an thân, còn tôi với lũ nhỏ chưa biết tính đường nào. Tôi già chừng này tuổi, chết sống cũng chẳng sá gì, chỉ thương sắp nhỏ không còn đường sống. Cứ thế, chiều chiều ông lại ra với bà cho bà đỡ buồn. Khi chai rượu mang theo gần cạn thì trời đã nhá nhem tối. Ông thất thểu quay về, đối mắt vằn đỏ. Không biết vì rượu hay vì những uất ức trong lòng.

***

Cuộc sống của cái làng chài nhỏ bé ngày càng khốn khổ. Không chỉ riêng nơi đó, ven biển Bình Thuận không còn nơi nào có cá. Ngư dân trên toàn vùng ngày ngày thất thểu ra biển, nhìn vùng nước ô nhiễm đen kịt bốc mùi choáng óc mà đau đớn thở dài. Kiện cáo bao nhiêu cũng không xong mà áo cơm thì đuổi từng ngày. Đã có những gia đình cho con nghỉ học, giáo viên bỏ trường về xuôi vì không chịu nổi mùi khói và không khí đen nghẹt hàng ngày. Chợ búa chỉ còn loe hoe mấy mống.
Ông Hai nghiến răng nhìn cảnh đói khổ trước mắt. Vợ chồng thằng Bốn con rể ông bữa đói bữa no. Con bé Đan không còn chổ chơi đùa như trước, càng ngày càng teo tóp lại vì không thở nổi. tối ngày ru rú trong căn nhà cửa đóng kín mít vì sợ khói. Chẳng thà trời sập chết hết một lần, sống kiểu này làm sao mà sống ? Ông Hai cũng chẳng khá hơn gì, nhiều đêm trắng mắt ngồi trên giường. Hai lá phổi bị sức ép của quả đạn trong thời chiến tranh giờ làm tình làm tội ông làm ông không thở nổi, ngồi ngáp ngáp chút không khí đầy bụi kim loại nặng. Một bữa con Hồi đi đâu về thấy cha nó ngồi thu lu trên ghế như một bóng ma. Nó cất tiếng chào cha rồi cà rỡn cho ông vui:
“ Trời đất ! Cha đen thui, ngồi không nhúc nhích gì làm con tưởng ma ! “
Không dè ông Hai gầm lên, đôi mắt đỏ vằn như có máu:
“ Thì ma rồi chớ còn gì nữa mà tưởng ! Chớ tao với vợ chồng con cái mày giờ không phải là ma thì là cái gì ? “
Trong giọng của ông có cái gì đó rất u uất, rất căm phẫn, rất đau đớn. Khi ông Hai dằn chai rượu xuống bàn, đứa con gái ông vội vã chui tọt ra sau bếp. 
Một bữa ông kêu thằng Bốn lại nói chuyện với nó:
“ Cha tính kỹ rồi con à, kiểu này không thể nào sống ở đây nữa. Cha nghèo không có gì để lo cho tụi con mà con bé Đan thì còn quá nhỏ, nó mà còn ở đây nữa chỉ có chết. Cha có người bạn thân hồi chiến tranh, giờ ở Sài Gòn làm ăn khá giả có cái tiệm cơ khí lớn, thầy thợ cũng nhiều. Cha gửi con xuống ở học nghề, trước mắt kiếm cái phòng nhỏ thuê ở tạm, ráng kiếm cái nghề rồi đưa vợ con mày vào. Phần Cha thì mồ mả cha mẹ ở đây, mẹ con Hồi cũng nằm đây, Cha bỏ đi sao đành ? Thôi thì con cứ yên tâm vào trong đó, đời tụi bây còn dài, tao kiếm chổ khác cho vợ con mày ở tạm, ráng làm sao ra nghề sớm lo cho vợ con vào Sai Gòn mà ở “
Rồi ông lụi hụi mở cái tủ gỗ bụi bám đen kịt lôi ra một cái bọc vải xanh nhỏ, đưa cho thằng Bốn mươi chỉ vàng:
“ Cả đời tao tích cóp được bấy nhiêu đây tao đưa hết cho mày. Cha thương con như con đẻ, tao giữ lại hai chỉ để lo nhà cửa cho vợ con mày ở tạm. “
Ông siết chặt vai nó, thằng con rể của ông cứ rưng rưng, gục đầu vào vai ông mà khóc. Sáng hôm sau nó bắt chuyến xe sớm nhất vô Sai Gòn. Có vẻ như nó cũng đang nóng ruột tìm con đường sống cho vợ con nó.

***
Con Hồi mang con vô thăm chồng nó được hai lần thì cái điều kinh khủng nhất trong đời ông Hai Điển lại giáng xuống đầu ông. Lần thứ ba hai mẹ con nó đi Sài Gòn thì gặp tai nạn. Mấy ngày sau người trên chính quyền xã xuống báo tin cho ông Hai biết là mẹ con con Hồi chết thảm trên chuyến xe xuôi Nam. Một chiếc xe chở hàng khác chạy ngược chiều đâm thẳng vào chuyến xe chở khách, người tài xế xe khách đảo tay lái để tránh cú va chạm tích tắc đó thì chiếc xe lật nghiêng, cày nát mặt đường tóe lửa rồi bốc cháy ngùn ngụt. Chiếc xe bị nạn trên đoạn đường vắng không ai làm gì để tiếp cứu kịp. Khi những người dân địa phương ùa nhau ra thì chiếc xe khách chỉ còn là một đống sắt méo mó không ra hình thù gì nghi ngút khói. Tất cả hành khách đều tử nạn, thân xác cháy đen tan nát không còn nhận ra bất cứ một ai. Thân nhân biết tin dữ tìm tới cũng chịu thua, chiếc xe đò cồng kềnh sắt thép còn tan chảy huống hồ con người ! Rồi cứ mỗi người lại hốt một nắm tro đen kịt mang về chôn cất, coi như đã tìm được người thân cho họ đỡ tủi
Khi nghe tin, ông Hai đứng như trời trồng. Ông như đã tan biến khỏi mặt đất, không còn cảm giác gì, không còn hít thở, không nghe không thấy gì hết. Ông cứ như thế mấy ngày cho đến khi thằng Bốn bỏ việc mang nhúm tro của vợ con nó về. Hai người đàn ông một già một trẻ ngây ngây dại dại lên gò đất nơi bà Châu nằm đào một cái huyệt nhỏ chôn mớ tro đặt trong một cái bình. Tất cả chỉ còn có vậy. Những ngày kế tiếp cả ông Hai lẫn thằng con rể cũng cứ ngây ngây dại dại như vậy. Họ có ăn uống gì không họ cũng không biết. Ai biểu đi thì đi ai biểu ngồi thì ngồi, họ hoàn toàn trong trạng thái vô thức như người mộng du. Hàng xóm tới chia buồn nói gì họ cũng chẳng nghe. Những người chòm xóm đau xót cho tình cảnh của ông, đi ra đi vô không ai dám nói lớn tiếng. Cái điều ghê gớm nhất trong một đời người đã xảy ra, không thể nào thay đổi được nữa. Hai người đàn ông dở sống dở chết vật vờ trong căn nhà ảm đạm tối đen vì thiếu ánh sáng, vì luồng khói độc hại cứ theo gió biển ùa vào. Một đêm sau khi thắp mấy cây nhang cho vợ con trên bàn thờ, thằng Bốn thình lình quỳ sụp dưới chân ông nức nở :
“ Cha nhận cho con lạy này. Con lạy Cha thương con, con lạy cha đã thu vén cho vợ chồng con và cháu. Nhưng vợ con con vắn số…”
Nó nức lên khóc, đầu dập bình bình trên nền gạch:
“ Con lạy Cha con đi, con không thể nào sống ở đây nữa. Con chịu không nổi Cha ơi, mới ngày nào đây vậy mà giờ này…” 
Nó nghẹn ngào khóc không nói ra lời được nữa.
Ông Hai Điển trân trân ngồi trên ghế, nước mắt chảy ròng ròng ướt mặt. Ông thương nó đứt ruột. Thương cả ông nữa. Làm sao bây giờ ?
Sáng hôm sau khi ông thức dậy thì thằng Bốn đã ra đi. Trên chiếc bàn còn lại chiếc túi màu xanh đựng mấy chỉ vàng và mảnh giấy nhỏ:
“ Lạy Cha con đi. Số vàng Cha cho vợ chồng con con dè sẻn để dành không dám ăn tiêu gì, chỉ để mong lo cho vợ con sau này. Gấn năm trời con mướn nhà ở cũng có hao hụt chút đỉnh. Nay con gửi lại cho Cha dưỡng già. Con cúi đầu chào Cha. Mong Cha giữ sức khỏe “
Ông Hai cầm mấy chỉ vàng mà nước mắt cứ rớt xuống ướt áo rồi ông cúi gập người ho rũ rượi.
Người bạn thân mà ông gửi cho thằng Bốn học nghề có nhắn tin cho ông biết thằng Bốn có lên chào ông, cúi đầu lễ phép cảm ơn rồi đi biệt. Nghe nói nó bỏ qua Miên qua Lào gì đó không rõ.
Nhiều ngày sau, người trong xóm thấy ông Hai Điển lên thăm mộ vợ và con cháu ông trên gò vào một buổi chiều. Rồi ông trở về, ghé thăm ông bà sui uống chén rượu và đưa cho ông Ba Nu một cái túi màu xanh nhỏ. Rồi ông ra biển, lấy một chiếc ghe chèo nhỏ cũ nát chèo tuốt ra biển xa, chèo mãi, chèo mãi cho đến khi mặt trời lặn hẳn xuống.
Không ai còn nhìn thấy ông trở về.
Căn nhà gạch nhỏ mấy mươi năm trước bỏ hoang bây giờ lại bị bỏ hoang thêm lần nữa. Mà lần này chắc sẽ không còn ai quay lại.

thuyền cô quạnh

***

Cái đống sắt của chiếc xe bị nạn méo mó cháy đen thui được đưa vào một nhà máy tái chế,.Chiếc xác xe có máu có thịt của con cháu ông Hai Điển với những người khác đã cháy khô lại được nung chảy ra rồi cán thành những lá thép. Một bữa có chiếc xe ghé lại chở những tấm thép đó về Bình Thuận nơi con bé Đan và mẹ nó đã sống. Người ta cắt những tấm thép đó ra để làm một cánh cổng mới, phía trước có một trạm bảo vệ của nhà máy nhiệt điện. Vào buổi tối, những anh bảo vệ không ai dám gác một mình. Vì có nhiều đêm trời không gió không mưa gì, cũng chẳng ai đụng chạm gì tới mà cánh cổng sắt cứ kêu ken két rền rĩ không ngớt
Nghe y như tiếng người nghiến răng.

NHƯ KHÔNG QUANG TRUNG DINH
Tháng 11/2018

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s