Đời “người tù cải tạo “*(kẻ thua cuộc),học làm người XHCN

Chuyện xưa tích cũ

đọc sách1

truyện ngắn

Đời “người tù cải tạo,học làm người XHCN”

Image may contain: 1 person, closeup

Thế Uyên

cải tạo5

Tôi bắt đầu quen với Quang vào tháng thứ năm hay sáu chi đó của cuộc đời cải tạo tại trại Trảng Lớn, Tây Ninh.
Vào thời kỳ đó đám cải tạo bọn tôi đã thiếu chất xanh một cách trầm trọng. Mỗi bữa mỗi người chỉ còn được phát có một chén ăn cơm nước luộc bí hoặc su su, và nạn phù đã bắt đầu xuất hiện trong trại. Mỗi sáng đều có những sĩ quan cải tạo được dìu lên trạm xá – chỉ đến tình trạng đi không được, mới được trạm xá phát cho những viên Vitamine hiếm hoi cứu mạng. Ban chỉ huy trại, năm đó hoàn toàn là quân đội chính quy miền Bắc nắm giữ, đã khuyến cáo các cải tạo tự mình trồng lấy rau xanh, không nên trông cậy ở khẩu phần chính thức mỗi ngày một co lại vì phải bù quá nhiều tiền cho việc mua củi.
Bạn bè tôi túa ra chiếm những khoảng trống có thể trồng rau trong hàng rào kẽm gai của trại. Tôi và Văn, một bạn thân vóc dáng nhỏ thó nhưng đẹp trai và tháo vát khỏi chê, thì cứ lè phè như thường lệ. Không tham gia vào công cuộc giành đất khai hoang. Nguồn chất tươi của hai đứa tôi trông cậy vào tài lanh lẹn của Văn. Mỗi khi được gọi đi lao động trên trung đoàn, dù là tháo vỉ sắt sân bay hay dọn những căn nhà đã cháy trong cuộc chiến cuối cùng của năm 75, chỉ thoáng một cái là Văn đã nhìn ra chỗ nào cần phải cải thiện rồi. Tôi đứng ra làm bình phong cho Văn biến đi đâu chừng nửa giờ, là dư khi trở về Văn đã kiếm ở đâu đó ít cọng khoai lang, rau rền hay đôi khi cả trùm bao nữa. Và có lần Vãn dám chui kẽm gai vào khu khác, bới trộm được ba bốn củ khoai lang còn nhỏ xíu.
Tối hôm đó tôi sang lán của Văn để cùng rửa khoai. Nói là cùng cho oai chứ tôi thì ngồi coi, tán chuyện gẫu. Văn vốn là một chuyên viên kinh tế tốt nghiệp Tây phương, có những ngón tay tài hoa khéo léo, đâu cho tôi đụng đến. E tôi làm gẫy khoai, sẽ bớt chất ngọt chất tươi đi. Đến tối Văn cho khoai vào lon gô, nhóm lửa nấu thật chăm chút như nấu món yến sào trong cung vua chúa. Và khi khoai chín, hai đứa trịnh trọng mang lon gô ra một khoảng xi măng sạch sẽ sát hàng rào kẽm gai, và dưới ánh trăng tỏ đêm đó, hai đứa chia nhau từng củ nóng bỏng, vừa nhai vừa húp nước luộc khoai cho thêm phần sinh tố.

tù cải tạo1
Trong đời lính chiến của tôi, chẳng an nhàn gì cho lắm và đã từng có lúc khát quá múc nước sông đỏ ngầu uống mà thấy ngọt dễ sợ. Và đói thì cũng có lúc đói mờ mắt. Nhưng chưa bao giờ biết thế nào là một cơ thể thiếu chất xanh cho đến khi làm thân cải tạo. Người cứ như khô đi, hốc hác, khó chịu làm sao. Nhưng vẫn ở mức độ cũng còn chịu đựng được nếu chứng bệnh phù không tới. Và dĩ nhiên là tôi bị trước Văn. May mắn gặp một người bạn tốt cho mấy viên B1 nên chưa đến nỗi đi lết bết. Làm sao tránh nổi cảnh đó khi chất xanh đã hiếm hoi, gạo thổi cơm lại là thứ gạo để quá lâu trong kho đã mốc meo.
Tôi quyết định rủ Văn đi một đường khai hoang trồng lấy rau. Mới đầu Văn còn không chịu. Nhưng với thời gian, những phiên lao động ngoài trại mỗi ngày một ít đi, tài tháo vát của Văn không còn đất dụng võ. Nhưng anh chỉ quyết định theo tôi trồng lấy rau khi một buổi tối, hai đứa thèm chất xanh quá rồi, đang ngồi bàn tán sát một luống rau muống của bạn bè, Văn bỗng dưng bảo tôi làm bình phong để hắn chĩa rau. Tôi ngần ngại một chút rồi cũng nghe theo. Văn chĩa được chừng một lon gô rau muống để hai đứa chia nhau ăn trưa ngày hôm sau. Nhưng đến đó là giới hạn chót bởi vì cải tạo cũng có luật bất thành văn của cải tạo: Chĩa tài sản của trại thì được, chĩa của anh em thì tôi kỵ.
Sáng hôm sau hai đứa ra khu đất trống của trại bây giờ đã biến thành cả trăm luống rau đủ loại. Không còn tới một thước đất cho hai đứa cắm dùi. Sau cùng tôi với Văn đành cuốc ven con lộ cho bằng ra thành một luống nhỏ. Làm hai ngày mới xong vì đá, sỏi rác rưởi đủ loại lổn nhổn. Khi luống đã thành, cọng rau muống già xin đã đủ, đã cắm xuống xong xuôi thì hai đứa mới ngẩn ngơ trước một sự kiện hiển nhiên. Đất xấu như thế, nước thì không nhiều, nếu không có phân bón thì giấc mơ được ăn rau, ăn khoai của bọn tôi còn lâu mới tới. Tôi quyết định múc phân người từ cầu tiêu công cộng ngay đó, Văn phản đối kịch liệt. Nhưng nhu cầu thực tế sau cùng vẫn thắng: Văn bằng lòng cho tôi tưới phân người với điều kiện là chỉ tưới vào lúc không có mặt đương sự.

cải tạo34

Từ đó mỗi buổi trưa nắng chói chang là tôi hành nghề làm vườn một mình. Trại lúc đó thường vắng, không ai tranh giành những gầu nước quí giá ở đáy cái giếng gần đó. Tôi dùng một cái gầu thẳng làm bằng một cây sắt xuyên qua chiếc mũ nhựa lót trong các mũ sắt, thọc thẳng vào cầu tiêu gần đó. Rồi khệ nệ đưa gầu đầy phân tươi rói ấy ra tận luống rau ven lộ, đổ ụp xuống. Phải đi đi lại lại như vậy khoảng ba, bốn lần mới xong mục bón ruộng. Sau đó là múc nước tưới lên cho sạch sẽ, đúng như yêu cầu của Văn.
Gỉải quyết xong vấn đề rau tươi rồi, mỗi chiều tôi lại càng thảnh thơi hơn. Trong chốn tù đầy này, mỗi người có một cách để giữ thăng bằng cho tâm hồn. Văn chọn cách là tin theo bất cứ một tin đồn cà chớn nào cho biết rằng lũ sĩ quan bọn tôi sắp được tha về. Khi thì mười ngày nữa, khi thì chính xác là mồng 3 tháng sau. Tôi hay trách Văn là tại sao lại đi tin những tin tức tầm hào như vậy. Mới đầu thì hắn nín thinh, nhưng rồi tới một tốì hắn la lại tôi: “Tại sao ông lúc nào cũng thích lôi người ta vào cõi thực như vậy. Ông cứ để cho tôi tối đi ngủ mơ rằng tuần sau, tháng tới được về. Có thế tôi mới dễ ngủ và sống được chứ!” Lần này đến lượt tôi nín thinh vì Văn có cái lý của hắn, cái lý của nhiều đồng đội khác nữa: Khi lâm hoàn cảnh khôn cùng, ta cứ việc mơ mọi giấc mơ không tưởng để quên thực tế trước mắt. Chính những người theo trường phái mơ màng này nhiều năm về sau đã tin chắc là Mỹ sẽ mang trực thăng đến tận trại “bốc” thẳng cải tạo đến Hoa Kỳ. Hay là khi đã được tha về sống đói rách vất vả với vợ con thì tin ở giấc mơ cứ việc điền đơn đi Úc là có xe bus đêm khuya ghé tận cửa nhà đưa thẳng ra bãi sau của Vũng Tàu, bước thẳng lên đoàn tàu há mồm đang đợi sẵn.
Tôi không thể nào hoang tưởng như thế được. Tôi biết đảng Cộng sản Việt Nam còn nhốt bọn tôi nhiều năm tháng nữa. Tôi tìm cách tái lập quân bình nội tâm bằng cách khác. Tôi vẫn giữ trong người từ lúc còn rất trẻ cái thú thích cảnh thiên nhiên và các vẻ đẹp dưới bất cứ hình thức nào. Ban ngày tôi lang thang đi thăm từng nơi có hoa trong trại, hoa bìm bìm tím phủ đầy mái láng của một đội bạn gần vườn rau, hoa tóc tiên hồng ven vỉa hè của láng khác, và đã có lúc tình cờ nhìn thấy hoa cỏ nở trên vũng nước nằm trong hàng rào kẽm gai, tôi đã ngồi xuống ngắm nghía và mơ mộng cả giờ.
Nhưng thích thú nhất là vào những buổi chiều không mưa, tôi cùng vài người bạn leo lên bồn chứa nước, ngồi ngắm những đám khói đốt đồng ở vùng biên giới tít mù phía xa. Ngồi lơ lửng trên cao như thế, nhìn mặt nhau biết cả, khỏi lo có ăng-ten, thiếu gì lúc bọn tôi bàn tán ước mơ có dịp chạy như bay trên những đồng cỏ xa ấy, phóng qua biên giới, đi về bất cứ đâu, miễn là ra khỏi Việt Nam. Nhưng chỗ ưa thích nhất của tôi vẫn là một gốc cây cưa cụt không xa cầu tiêu công cộng nằm chính giữa vườn rau rộng của trại. Tôi ngồi đó, trịnh trọng nhồi thuốc rê vào ống điếu, châm lên rồi vừa hút khói khét lẹt vừa thưởng thức cảnh núi Bà Đen gần kề.
Cảnh núi chẳng chiều nào giống chiều nào là một niềm an ủi lớn cho tôi. Núi có đó, vẻ đẹp của núi có đó, có từ nhiều triệu năm trước khi có tôi ra đời và còn tồn tại nhiều triệu năm nữa sau khi hình hài tôi đã trở về với cỏ với đất này. Một buổi chiều tôi đang mơ màng như thế bỗng dưng tôi để ý tới một cải tạo viên đang lúi húi làm vườn ngay luống đất kế cận. Anh trắng trẻo đẹp trai. Nhưng điều làm tôi chú ý là anh cắm những cọng rau muống già xuống theo một đường thẳng hoàn mỹ. Khoảng cách giữa mỗi cọng, giữa mỗi hàng thật chính xác như hình kỷ hà kẻ trên mặt giấy. Nhưng sự kiện quan trọng hơn nữa làm tôi chú ý là khuôn mặt bình thản, yên tĩnh của anh.
Từ lâu lắm rồi tôi không được nhìn thấy một vẻ mặt bình tâm như thế sau hàng rào kẽm gai giầy đặc này. Anh đã có trong anh một cái gì để soi sáng bình an lên nét mặt như vậy? Tôi liền làm quen, biết anh tên là Quang, sống ở một khu không xa tôi lắm. Anh bảo anh đã biết tôi từ lâu vì anh thường theo dõi những buổi nói chuyện trong đêm giữa tôi và Tùng, một nguời bạn nằm gần anh. Tôi chỉ quen Tùng kể từ khi nhập trại và tình thân tăng rất nhanh vì Tùng có hai ưu điểm: Lúc nào cũng kiếm ra cà phê để pha và là người Quảng Nam, quê mẹ của tôi, một vùng quê mà suốt đời chưa bao giờ tôi có dịp đặt chân tới. Có thể vì những ngụm cà phê pha cơm cháy, có thể vì nghe người khác kể chuyện quê hương và cuộc đời cũng là một điều thú vị, tôi thường gợi cho Tùng kể lể cuộc đời khiêm tốn của đương sự từ lúc nhỏ tới hiện nay. Có lần tôi yêu cầu Tùng kể cho nghe tất cả những món quà của miền Quảng Nam xa lạ ấy, ăn ở đâu, vào những lúc nào thì ngon nhất.
Quang bảo những lúc ấy anh thường nằm yên nghe kể với nhiều thích thú. Nghe kỹ như thế về cuộc đời một kẻ khác, cũng là một thứ phiêu lưu. Tôi khám phá ra rất nhanh Quang là một con người tốt, một thứ người có thể kết bạn một lần cho xuốt cả cuộc đời. Chỉ có điều hai đứa khác nhau nhiều điểm quá. Quang không bao giờ hút thuốc, không bao giờ uống rượu và cũng không thèm cà phê tối ngày như tôi. Anh là con một mục sư đã từng phục vụ gần cả cuộc đời nơi miền Cao Bắc Lạng và rồi tại cao nguyên miền Nam. Anh cắt nghĩa thái độ điềm tĩnh, vẻ mặt bình an của anh đại khái như sau: Đời cải tạo này chẳng qua là một thử thách Chúa đã an bài cho anh phải trải qua. Vậy cứ vâng ý Chúa mà sống…
Anh có một niềm tin lạ lùng như thế ở Chúa của anh. Và dĩ nhiên anh ráng cư xử như lời Chúa dậy, lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ mọi người và chia sẻ cái gì anh có với bạn bè – nhất là cho tôi. Anh mang theo tương đối được nhiều tiền nên gửi cán bộ mua chính thức và mua lén được nhiều thực phẩm bên ngoài hơn. Và có lần tôi ghé sang anh, ngoài hai cục đường thẻ anh còn đưa tôi một bịch ni-lông nhỏ thuốc lào. Anh bảo anh gửi mua thuốc lào cốt để cho tôi mà thôi. Quang là người như thế đó, nhưng hai đứa không thể nào thật thân nhau được bởi vì anh quá nghiêm túc, trong khi tôi thích nói về hoa lá cỏ cây và đàn bà. Bởi thế tôi biết nói gì hơn là im lặng nghe khi anh cắt nghĩa trước đây anh được học bổng đi Mỹ lấy bằng BA là do Chúa định. Khi trở về bị động viên thì anh bảo Chúa thử thách. Ngồi gần anh lắm lúc tôi có cảm tưởng anh buông thả hoàn toàn mọi sự, cả thân xác lẫn cuộc đời vào một dòng sông định mệnh bí hiểm nào đó.

cải tạo3
Tôi hiểu sự bình an của anh phát xuất từ một căn bản như thế đó. Tôi hiểu, nhưng tôi không sao bắt chước được. Sinh vào một gia đình nghèo, đông anh em, tôi phải phấn đấu để được học, từng bước từng lớp từng năm. Cái gì tôi đã có trong trần gian này, đều do sự cố gắng của tôi mà có. Thân lập thân như người xưa nói, tôi chưa bao giờ nương tựa buông thả mình vào bất cứ ai, thần linh nào. Ngay bây giờ cũng vậy, sự an tĩnh của tôi trong những hàng rào lẽm gai dầy đặc này, cũng là do tôi tự thực hiện lấy cho mình.
Đến cuối năm đó tôi có tên trong danh sách những người chuyển trại đợt mới. Lần này cán bộ không có dấu diếm; với các cải tạo thì sự kiện đó có nghĩa lần chuyển trại này không đi vào nơi hắc ám như đi đảo Phú Quốc hay ngồi toa bít bùng chuyển ra miền Bắc vừa xa lắc vừa đầy hận thù. Các toán bếp được phép thức khuya để nấu cơm nắm sẵn cho cả ngày mai. Đến 9 giờ đêm điện vẫn cứ tắt, toán bếp được phép thắp đuốc để làm việc cho xong. Dân làm bếp mà được thức có nghĩa là cả trại được phép thức theo luôn. Từng nhóm nhỏ bạn thân từ trước hay mới thân từ lúc đi cải tạo tụ hợp nhau để giã từ. Những người được ở lại trại xuất những của cải trần gian quí báu của mình ra, nghĩa là cà phê, thuốc lá, đường và kẹo để tô chức tiệc tiễn hành. Không một ai trong cả cái trại hơn một ngàn sĩ quan này có thể biết được trong cuộc đời này còn có hi vọng gì gặp lại nhau nữa hay là không.

tù cải tạo

Tôi được một nhóm bạn trong có một bác sĩ mời dự tiệc tiễn hành tổ chức trên một nắp lô cốt đã xập nghiêng. Tôi thân với anh bác sĩ vì anh là người đầu tiên, chưa có lệnh của trại, đã tự ý reo trồng một cây cà chua trong cái lon. Khi cây còn đang tăng trưởng, tôi hay thường ghé lại ngắm nghía với anh. Dĩ nhiên khi cây cho ba trái đầu tiên, anh đã trịnh trọng tặng tôi một trái và thích thú nhìn tôi nhe răng cắn ngập ăn luôn cái vèo – trái cà chua trong chậu kiểng này bé bằng một phần ba trái trứng thôi. Bác sĩ thì ở đâu cũng được vị nể và do đó anh đãi tôi và những bạn sắp lên đường những ngụm cà phê thứ thật, nóng hổi, thơm thuần túy mùi cà phê. Câu truyện lan man đến khuya, tôi chỉ đủ thì giờ về láng thu xếp túi đeo lưng và những đồ tế nhuyễn của riêng tây đa số là lon gô ca cóng, là đã đến giờ lên sân tiểu đoàn. Giờ tập họp là 3 giờ sáng, bởi thế tôi không có dịp nào để phóng qua khu Quang, giã từ người bạn theo đạo Tin Lành, kẻ phó mặc cuộc đời mình trong tay Chúa này.
Trong đêm gần về sáng ấy, trưởng trại, một thượng úy của quân đội miền Bắc, đã nói thẳng với bọn tôi là chuyến đi sẽ đưa chúng tôi đến một nơi lao động được, và có lao động rồi thì mới có hi vọng về với vợ con. Tôi biết viên sĩ quan này nói thật nên chẳng ngạc nhiên chẳng buồn khi nhìn thấy chiếc xe đầu đoàn quẹo nơi ngã ba ngoài thành phố, đi thẳng lên phía bắc. Một người bạn đứng cạnh tôi đã chiến đấu ở vùng này, hiểu địa thế, nên đã nói ngay: “Chúng ta đi Katum là cái chắc! Trong chiến khu D!”
Một chuyến đi vất vả, xóc tối đa, nhưng bọn tôi hài lòng vì càng rời xa vùng có dân cư, kỷ luật càng nới lỏng. Bọn tôi tha hồ đứng lên ngồi xuống, leo cả lên thành xe ngắm cảnh mà không bị hai vệ binh cầm AK đi cùng quát mắng. Khi xe dừng ở một cái trảng giữa rừng, tôi đã cố tình đứng vào cuối hàng để bị khám đồ gần chót. Tôi có dấu trong hành trang một con dao làm bằng đai thùng, phải khám sau để còn rút kinh nghiệm tìm cách dấu. Sở hữu một con dao, dù là dao tự chế, là một tội. Nhưng tôi tìm cách giữ vì dao cần vô cùng cho sinh hoạt của tôi đã đành mà còn hữu ích trong việc giao tế với bạn bè. Tôi đã nhận thấy các vệ binh kiểm tra đồ không một ai lật chiếc poncho lót lên nên tôi đã nhẹ nhàng dấu dao xuống dưới, lẫn vào đám cỏ dầy – tôi không biết rằng nội qui ở cái trại giữa rừng lại không cấm cải tạo có dao. Còn hai người nữa mới đến lượt thì đã nghe thấy rừng hú lên báo hiệu cơn mưa to đang tới. Anh vệ binh cũng sợ mưa như ai nên bảo tôi: “Cho anh xếp đồ vào trại luôn. Mưa rồi?” Tôi vui mừng vì giữ được con dao, nhưng trả giá là chưa vào đến cổng trại, đã bị mưa ướt nhẹp.
Trong cổng trại đầy người ấy bỗng có kẻ reo lên mừng rỡ bắt tay tôi. Đó là Hà, một học trò cũ, đi lính sau, cấp bậc thiếu úy nên đã được đưa đến trại Katum ngay từ những ngày đầu thành lập. Hắn la lên thúc giục: “Thầy phóng vô ngay đi không tụi họ giành hết chõng. Xứ này không nằm đất được đâu. Bùn không à!Tôi phóng vô ngay, nghĩa là bì bõm tối đa trong bùn để tới được láng đã được chỉ định. Tôi quăng túi đeo lưng và hành trang xuống đất ướt giữ chỗ, phóng ngay ra ngoài mưa về phía láng của các thiếu úy trẻ đang cho chõng. Dưới làn mưa ào ạt với tiếng hú của cây rừng, tôi nhìn thấy một chiếc chõng làm bằng tre và sậy nằm tít phía xa.
Tôi phóng tới cùng với một người nữa. Hai người một chõng, chưa bao giờ tôi xuất toàn lực như lúc này để rán chạy cho nhanh. Đến gần đích, tôi nhào người về phía trước ráng đập tay vào thành chõng, hô lên: “Tôi xí nhất! ” Đám thiếu úy trẻ đứng dưới mái hiên vỗ tay hoan nghênh kẻ về nhất. Tôi quay lại ngó anh bạn cùng chạy mặt mũi đang buồn hiu đầy nước mưa như tôi, nói nhẹ nhàng: “Tôi rất tiếc nghe!”, trước khi đội cái chõng lên đầu mang về láng.
Tôi ngủ thật ngon đêm đó. Sáng hôm sau mới đi lòng vòng quanh láng một chút, đã khám phá ra cái trại này đúng là trại thô sơ trong rừng. Tất cả nhà cửa đều mái lợp tranh, vách cũng bằng tranh. Nhìn đâu cũng thấy không trảng tranh thì cây rừng. Không còn một ngọn núi nào cho tôi ngắm mỗi buổi chiều nữa. Tôi thoáng nản lòng, vào lục túi đeo lưng kiếm phần cơm sấy cuối cùng. Ở Trảng Lớn, đói đến mấy tôi cũng cương quyết không đụng tới phần cơm do người vợ trẻ tôi thương yêu vô cùng đã gửi lên qua bưu điện, cố để giành cho trường hợp khẩn cấp. Và bây giờ đây, giữa rừng hoang xa lạ đầy mưa lầy lội này, tinh thần xuống thấp… Tôi mang lon gô ra khu bếp, kiếm được một chỗ chen vô thì mới khám phá ra mình không có củi để đun nước sôi. Tôi đang ngẩn ngơ nhìn lon gô trơ trụi chưa biết tính sao thì người ngồi bên cạnh đã chia đôi mớ củi đang cháy sẵn trong bếp anh, cho vào bếp tôi. Tôi chưa kịp nói cám ơn thì đã nhận ra đó là Quang. Tôi mừng rỡ vô cùng. Tôi đâu ngờ anh cũng chuyển trại tới nơi này như tôi.
Ở đâu cũng vậy lúc nào cũng thế tôi không bỏ được cái tính hay nói đùa chọc ghẹo bạn bè: “Này bạn, Chúa đã an bài bạn đến đây đó hả?” Quang nở nụ cười hiền quen thuộc trước vẻ vui mừng thành thực của tôi. Anh chỉ nói: “Chúa cho tôi cả những người bạn, những người đồng hành trong cuộc đời này…” Sau khi chỉ lán của mình cho tôi biết, anh đi trước, không quên ấn vào tay tôi một mẩu cá khô nướng còn nóng hổi. Khi nước đã sôi, tôi cho vào cơm sấy, mang tất cả ra nhà chòi trước láng ngồi. Dân cũ của trại này, toàn là thiếu úy, đã đủ lãng mạn để cùng nhau bỏ công làm vài nhà chòi dễ thương ngay bên ngoài. Những nghênh phong các toàn bằng tre sậy và cỏ tranh. Tôi leo lên ghế còn nguyên vỏ cây, chậm răi ăn bát cơm sấy điểm với cá khô nướng. Tôi hạnh phúc và ý thức rằng thứ hạnh phúc được ăn cơm trắng nóng no bụng như thế này chắc sẽ khó còn trở lại trong cõi rừng già này.
Và quả thực mọi sự diễn ra đúng như vậy. Mỗi sáng các cải tạo chỉ được phát một tô cháo đặc với muối cục, trưa một chén cơm đầy, tối một chén nữa. Thức ăn chỉ gồm rau muống, rau lang luộc và cá khô. Không khá gì hơn trại Trảng Lớn, nhưng nguy hiểm hơn ở điểm ở trại cũ thỉnh thoảng bọn tôi mới phải lao động nặng, trong khi ở đây phải làm nghề vô rừng chặt tre đốn gỗ. Lao động nặng như thế mà khẩu phần chỉ là 1,100 calorie một ngày – con số này do chính bộ đội phụ trách y tế trại công bố công khai. Hậu quả là cải tạo viên mới tới suy sụp rất nhanh, nhất là tôi, vốn thể chất chưa bao giờ khỏe mạnh lại tuổi cũng đã cao.

trại viên trại cải tạo
Miếng ăn, nói cho đúng hơn, là cơm, trở thành quan trọng số một, là vấn đề sống còn cho tất cả. Trại để các cải tạo tự quản, lãnh gạo về thì tự mình nấu lấy và chia lấy với nhau. Khỏi nói ban bếp chia cơm công bằng tối đa. Cứ mỗi mâm bốn người là một chậu nhôm nhỏ cơm. Khi chia cơm, có ban đại diện từng đội kiểm soát đàng hoàng. Khi bưng chậu cơm về đến bàn ăn, lại có màn phân chia nữa. Một người lấy muỗng ăn cơm xuống cho chắc trước khi lấy dao hay một thanh tre cắt làm bốn phần. Sau khi bốn người cùng mâm đồng ý là chia như vậy tạm được, lúc đó mới tới màn chót. Một người quay mặt ra phía sau, một người lấy đũa chọc đại vào một phần, hô lên: “Phần này của ai?” Người quay mặt đọc một tên nào thì chậu cơm quay về phía người đó làm chuẩn, những người khác theo vòng quay đồng hồ mà lấy tiếp. Nhiều mâm có những anh bạn khó tính, đòi hỏi quay số kỹ hơn, bốn lần chỉ bốn lần hô.
Cơ thể suy nhược dần đến độ một lần tôi nhận đi lấy tre. Chặt xong số tre qui định, vào thời kỳ mới nhập trại thì thôi dư sức vác lên vai mang về trại. Bây giờ đói quá, tôi phải chia làm hai bó. Cứ vác một bó đi một quãng để đó, quay lại vác bó thứ hai. Quang trẻ và khỏe hơn tôi nhưng không phải là không chới với. Bởi thế một tối hai đứa gặp nhau bàn tính – ở trại này được một điểm đền bù là vệ binh mặc kệ bọn tôi lang thang, bởi vì có ngon trốn trại thì có may băng rừng già của cả hai nước Việt Mên hay Lào, thành công tới Thái Lan rất là thấp.
Hai đứa nghiêm chỉnh thảo luận để rồi sau cùng thỏa thuận trao đổi cháy cho nhau. Mỗi khối mỗi bữa nấu một chảo cơm, nhưng chỉ chia cơm đồng đều. Không chia cháy được vì sẽ bể vụn ra hết, cải tạo hợp nhau qui định là mỗi đội được ăn cháy một lần. Như vậy phần cháy chia đến tay mọi người sẽ to hơn, “chất lượng” hơn. Nhưng số đội thì đông nên cả tuần mới đến phiên được ăn cháy một lần. Tôi với Quang thỏa hiệp là ai đến phiên được thêm cháy, sẽ bẻ đôi chia cho người kia. Như vậy lượng tuy ít đi nhưng được ăn nhiều lần hơn.
Thỏa hiệp này được thực hiện liền và được giữ cho đến ngày cải tạo được thân nhân lên thăm nuôi. Thật không gì thú vị bằng mồ hôi mồ kê nhễ nhại lết về đến trại, sau khi nộp cây tre mây lá cho ban mộc, vào láng thấy trên đầu giường đã có một miếng cháy để sẵn. Tôi cầm lên thật cẩn thận -dĩ nhiên vài hột cơm vãi ra trên gối được nhặt cho vô miệng liền- ra đầu thềm ngồi cắn từng miếng, thưởng thức từng chút vị bùi của cháy. Thật nhiều năm về sau này ra hải ngoại, lang thang liên lục địa, ăn đủ các món ăn khác nhau, tôi vẫn tự hỏi không biết có món nào cung cấp số lượng “ngon” nhiều hơn những miếng cháy đó không.
Thành thật mà nói những miếng cháy tôi chậy sang để lên đầu giường Quang thường nhỏ hơn miếng Quang chuyển sang cho tôi. Lâu lâu một lần, miếng cháy chia cho tôi to đến độ tôi biết Quang đã không ăn chút nào, nhường cho tôi cả. Chỉ vì tôi già hơn, đuối sức hơn anh.
Sức lực xuống, tinh thần tôi xuống theo. Tôi vẫn gắng gượng mỗi sáng tập thể dục, đi rừng thấy hoa vẫn ngồi ngắm, nhưng tinh thần xuống vẫn cứ là xuống. Trong khi Quang vẫn giữ được vẻ bình an cố hữu. Da dẻ anh vẫn mịn màng, râu ria lúc nào cũng cạo nhẵn, quần áo chỉnh tề. Tôi không cần phải hỏi, vì có hỏi thì chắc anh vẫn trả lời là nhờ có Chúa… Còn tôi, kẻ vô thần, chẳng có Jesus, Phật, Allah hay thánh thần đông tây kim cổ nào phù hộ nên lại bắt đầu bị phù.
Cả ngàn sĩ quan cải tạo có ai khá hơn ai bao nhiêu. Tôi biết là còn có người mang theo nhiều viên Vitamine quí giá, nhưng tôi không quen biết, làm sao xin. Sau cùng tôi đành chấp nhận sử dụng tới vật cuối cùng có giá trị thương mại nơi rừng già này, là cái bật lửa Zippo. Cái bật lửa đã cũ này, với chùm chìa khóa không còn mở được bất cứ cái gì nữa, là hai vật lúc nào tôi cũng mang theo trên người.
Tôi đành trao cái bật lửa cho Hà, nhờ hắn bán hay đổi cho bộ đội, lấy đường. Dĩ nhiên trước khi trao, tôi bật nó lần chót châm vào điếu thuốc rê, nhìn đốm lửa vàng lóe lên trong làn khói thuốc mà như tưởng thấy khuôn mặt của người vợ yêu kiều không biết bao giờ mới được gặp.
Hà mang về cho tôi được 30 cục đường thẻ. Hắn bảo bộ đội chê bật lửa đã trầy sát nhiều, nên không chịu đưa hơn. Tôi tặng Hà hai cục, còn lại chia đều mỗi ngày hai cục để chữa phù. Tôi không đụng chạm tới muối, cá khô nữa. Sáng một nửa tán đường ăn với tô cháo đặc, trưa một nửa tán nữa cho bát cơm duy nhất, chiều cũng vậy. Còn một nửa tán thứ tư, tôi dùng cho ca nước trùm bao nóng hổi sau khi đi rừng trở về. Lúc uống ly trùm bao đường này thường là giây phút thú vị lớn trong ngày. Tối ngồi trên chõng tre sậy, nhấm nháp từng ngụm nóng bỏng, ngắm trảng tranh dập dềnh dưới gió, dưới mưa, ngoài khung cửa. Và vào một buổi chiều như thế tôi đã đi đến quyết định tìm cách đặt tâm hồn và thân xác, cả cuộc đời mình vào Chúa của Quang. Tôi cần nơi nương tựa, tôi không còn đủ sức đi tiếp hiên ngang bằng tự sức mình như xưa nữa.
Quang lắng nghe quyết định của tôi rồi đề nghị kể từ nay sẽ giảng đạo cho tôi nghe. Hai đứa thỏa thuận là mỗi tối sẽ gặp nhau ở hội trường. Lúc đó đang vẫn còn là mùa mưa. Hội trường làm nhô một phần ra trảng tranh, hai đứa chọn khúc cây làm ghế ở gần chót. Nơi đó, ban đêm, hoàn toàn vắng người. Đom đóm rừng nhiều không biết bao nhiều ngàn con, lập lòe trong trảng tranh chạy dài tớỉ bìa rừng phía xa. Trong khung cảnh đó, mỗi tố Quang nhỏ nhẹ kể Thánh Kinh cho tôi nghe. Tôi thả tâm hổn tôi trôi nổi trong dòng cố sự của miền Trung Đông cách đây hai ngàn năm. Tôi nghe những truyện, những điển tích ly kỳ ấy, không hề phê bình, chỉ thỉnh thoảng hỏi thêm một vài chi tiết, ý nghĩa.
Tôi vẫn sáng sáng dậy đúng tiếng kẻng, phóng ra ngoài sân tập thể dục một mình. Tôi vẫn lết bết vào rừng với con dao chặt cây làm bằng một thanh vỉ sắt lót sân bay, ráng hoàn tất chỉ tiêu trại trao về cây cột, về sà ngang, về cỏ tranh lợp mái, về mây rừng dùng để cột tất cả mọi sự thay đinh – nơi chốn này kim khí là một thứ vật chất khó kiếm ra nhất. Tối đến tôi vẫn đến ngồi cuối hội trường đợi Quang, và lại lắng nghe giọng đều đều của anh nói về Kinh Thánh, trong khi đàn đom dóm rừng vẫn lập lòe trong trảng tranh. Có đêm trời quang mây tạnh, bầu trời có sao, nhưng tôi thấy sao cũng lẫn vào đốm sáng của đom đóm. Tôi như ngồi trong một phi thuyền vũ trụ bay lãng đãng trong không gian vô cùng.
Đến đêm thứ mười, khi Quang đang nói tôi bỗng cảm thấy như có ai đang rình mò. Tôi nghiêng đầu thật khẽ kiểm soát phía sau thì thấy một ăng- ten đang ngồi thu lu dưới đất sau một hàng ghế phía sau. Tôi hích nhẹ Quang rồi yêu cầu anh nói to hơn kẻo tôi nghe không rõ. Quang hiểu ngay, nói tiếp nhưng lớn và rõ ràng một đoạn trong Kinh Thánh. Bọn tôi cần phải cho ăng-ten biết rõ bao nhiêu đêm nay hai đứa tôi ra đây chỉ cốt nói truyện đạo, không hề nói tới truyện trốn trại hay chống đối lại Đảng và nhà nước.
Nhưng đã bị bao vây nghi ngờ như thế thì phải ngưng thôi. Sáng hôm sau là ngày chủ nhật, được nghỉ, tôi sang kiếm Quang sau bữa ăn trưa. Hai đứa ngồi cạnh nhau trên thềm hiên đất, dưới mái tranh ngắm sân đất bắt đầu khô được vàỉ khoảng dưới nắng. Tôi cho Quang biết tôi chẳng thấy một niềm tin nào hết đến với tôi. Quang im lặng một chút rồi nhỏ nhẹ: “Tại anh nghe tất cả những điều tôi kể với cái tai của một người nghe truyện văn học và thần thoại… ” Tôi bảo tôi biết làm sao hơn. Tôi không thể vẫn là tôi, còn là tôi, như thế. Tôi hỏi ngược lại Quang là xưa kia làm sao anh có được Niềm Tin. Anh ngẫm nghĩ rồi mới trả lời: “Niềm tin tự đến với tôi, như một ơn thiên sủng”.
Tôi thở dài trở về khu mình, đi chậm rãi men theo những khoảng đất đã khô. Ơn Thiên Sủng? Tôi không biết nó là cái gì, nhưng chắc chắn là không ai ban cho tôi cái ơn này, dù tôi đã mở rộng tâm hổn thể xác tôi mà cầu xin trong mười đêm liền vừa qua. Bao nhiêu ngàn ngàn con đom đóm thắp sáng những đêm đó, nếu chúng có một linh hồn riêng, hẳn chúng có thể chứng nhận cho sự thành tâm của tôi. Nhưng thôi, Chúa Ki Tô đã không đến với tôi, tôi sẽ đi tiếp con đường đời còn lại một mình, bằng sức mình, như xưa. Nếu không may bị cây đè chết, đau ốm mà chết, thân xác này ra góc rừng kia làm mồi cho đàn mối, cũng đành, cũng là xong.
Chế độ ngưng ăn muối đã thành công. Mặt tôi đã bớt sưng rồi trở lại bình thường, sức khỏe tôi dần dần khá hơn. Hai mươi tám tán đường thẻ cái bật lửa Zippo tôi đã mua bằng tiền tôi ấy, đã cứu tôi qua cơn ngặt nghèo. Hai tuần sau ban chỉ huy trại tập họp toàn thể cải tạo trên hội trường, cho biết chế độ cho thăm nuôi sắp bắt đầu. Liên trại vùng Katum thời đó do quản đội chính quy ngoài Bắc quản lý nên cách xử sự khá tử tế, không khắt khe tệ hại như công an về sau này. Họ trao cho mọi khối cải tạo tự bình bầu lấy những đợt thăm nuôi, căn cứ trên tiêu chuẩn giỏi lao động hay là không. Quang, lao động giỏi, được bầu vào đợt thăm nuôi thứ nhất nơi khối anh. Còn tôi, quả thực tôi ngạc nhiên khi được đồng đội bầu vào đợt thứ 7 – tôi cứ tưởng lết bết như tôi thì phải vào đợt hai mươi về sau.
Vào ngày của đợt thăm nuôi thứ nhất, tôi ngồi ngắm đồ thăm nuôi của anh bạn cùng lán mang từ trại tiếp tân vào. Nhìn thực phẩm bầy đầy một chõng là đủ mê rồi, dù chẳng phải là của mình. Dĩ nhiên anh bạn chủ chõng tháo một bịch đường ra, cho đám bạn đang ngồi ngó chung quanh mỗi người một cục. Đây là thứ đường cục hình hạt đậu dầy cộp và vàng tươi, thơm mùi mía mới ép. Dĩ nhiên là anh không quên bấu cho mỗi người một nhúm thuốc lào trong một bịch to như giấc mơ của những người ghiền thuốc như tôi. Hơn nữa, anh còn bằng lòng cho tôi khẩu phần cơm bữa chiều. Với quà đầy đủ, tối nay anh nấu mì và nhiều thứ nữa đãi những bạn cùng mâm và các bạn thân của anh.
Tôi gậm nhấm chưa hết nửa tán đường thì Hà qua bảo Quang đã từ trại tiếp tân trở về. Tôi sang. Quang đang lúi húi xếp đặt lại số quà cáp mới nhận được. Thấy tôi, anh cười chỉ xuống cuối chõng. Anh đã chia sẵn cho tôi mỗi thứ một chút, trong đó có nửa ký đường thẻ – thứ thực phẩm sống còn của cải tạo viên nơi rừng núi khắp hai miền Nam Bắc. Đêm hôm đó một nhóm bạn chưa được thăm nuôi tổ chức nấu chè. Mỗi người góp hai tán đường và một chén cơm. Chè cơm nguội được nấu trong một thùng đạn đại liên do một tay đầu bếp được anh em tín nhiệm, mang ra thơm lừng để trên chiếc bàn tre sậy trong phòng ăn. Một ngọn đèn dầu làm bằng hũ tương chao được thắp lên soi sáng. Tôi ăn ngon vô cùng tô chè cơm nguội này, và khi hít một hơi thuốc lào sau đó, thấy cuộc đời là hạnh phúc. Các bạn tôi cũng vậy, cười, nói đùa, hát nho nhỏ cho nhau nghe tới khuya.
Rồi tôi cũng đến lượt được thăm nuôi. Được ăn no hơn, đủ thuốc lào thuốc rê hút, cuộc sống dễ chịu hẳn lên. Sau này, khi bị chuyển trại đến trại do công an quản lý, đầy khắt khe dữ dằn kiềm chế ngày đêm, tôi vẫn nhớ tiếc thời kỳ Katum này. Và dĩ nhiên tôi không thể quên mười đêm ngồi giữa đàn đom đóm và ngàn sao với Quang. Tôi đã đi tìm Niềm Tin, tôi muốn… nhưng làm sao được, không có một ơn Thiên Sủng nào giành cho tôi hết. Tôi đi tiếp con dường của mình bằng sức mình, với vợ và với các con. Không còn gì khác nữa.
Nếp sống của tôi bắt đầu đổi khác. Tôi có một nhóm bạn mới để mỗi tối quây quần quanh ngọn đèn dầu, uống cà phê nói đủ mọi thứ truyện của cuộc đời. Vui hơn nhiều. Nhưng tôi vẫn duy trì tình bằng hữu với Quang. Thỉnh thoảng tôi vẫn sang khu anh, ngồi nhìn anh ngồi chẻ tre làm lạt. Vợ anh đã mang lên cho anh một con dao thật bén, và do khéo tay, anh được trao luôn việc ra tre ra mây cho cả khối. Lối nói chuyện của anh vẫn như xưa mà thôi, nhẹ nhàng với những sinh hoạt hằng ngày. Không bao giờ anh nhắc tới chuyện đạo với tôi nữa. Có lần anh đưa cho tôi mượn một số Reader’s Digest cũ. Tôi nằm dài ra chõng của anh, mở ra mà hối tiếc sao xưa kia không chịu khó học thêm Anh văn. Tôi coi hình và mơ màng rất lâu trước hình quảng cáo của một hãng hàng không Mỹ. Cô tiếp viên với nụ cười xinh đẹp đang bưng một khay đồ ăn đưa cho khách. Lúc đó nếu có ai bảo tôi rằng khung cảnh đẹp như mơ, đẹp quá tầm của bất cứ giấc mơ nào của cải tạo ấy, sẽ có tôi ở bên trong sau này, nhiều lần, chắc tôi sẽ khó mà tin.

*
Vài tháng sau tôi bị chuyển về một trại do công an quản lý gần Sài Gòn hơn. Lần này, không có Quang. Rồi tôi được tha về Sài Gòn. Một năm rồi hai năm đi qua vẫn chưa thấy Quang đâu. Mãi đến năm thứ năm hay sáu gì đó mới thây anh xuất hiện nơi mái hiên nhà tôi. Anh vẫn vậy, bất biến. Một lần nữa tôi lại chọc bạn bè, hỏi anh có phải Chúa thử thách sáu năm thấy đã đủ nên cho về chăng. Lần này, anh trả lời với giọng đùa cợt kiểu tôi. Anh bảo nhóm Tin Lành của anh ở Katum ngày nào có năm người thì hai đã trốn trại, hai được tha về. Còn có một mình anh thôi. Vợ anh liền đi mượn thân nhân hai cây vàng, kiếm chỗ đưa, chuộc được anh về. Tôi ngừng hỏi thêm bởi vì biết chắc có hỏi thì anh sẽ trả lời đại khái rằng chính Chúa đã hướng dẫn cho vợ anh làm như thế.
Nhà anh ở tầng trên cùng của cư xá Thanh Đa, tít mù phía bắc thành phố. Khoảng cách là xa hay gần, trong cuộc đời thực, không phải đo bằng km hay mile mà bằng phương tiện con người di chuyển. Nếu tôi tới nhà anh bằng xe hơi hay xe gắn máy, thì nhà anh gần lắm. Nhưng tôi chỉ có một chiếc xe đạp cũ, vừa đi vừa tuột xích, yên xộc xệch, nay thủng mai lỗ rò, thì anh ở quá xa tôi. Một vài chuyến viếng thăm sau đó làm tôi hiểu nếp sống của anh. Gia đình anh, do thân nhân trong nước ngoài nước đều vững, không bị áp lực của nồi gạo như bên phía tôi. Bởi thế anh chỉ đi dậy Anh văn và giành đa số thì giờ cho việc tụ họp các tín đồ Tin Lành để cùng hành đạo, nay nhà này mai nhà khác – hồi đó đảng Cộng Sản Việt Nam chưa chịu trả các nhà thờ Tin Lành lại cho các tín đồ. Tôi có lần bảo sao anh không làm mục sư luôn đi, bởi vì hơn ai hết, anh sẽ là một mục sư tốt. Anh chỉ cười, vẫn nụ cười bình an ấy.
Gia cảnh bên tôi trở thành quẫn bách vài năm sau đó. Vì đã nộp hồ sơ đi Mỹ đoàn tụ gia đình, tôi đã từ chức giáo sư môn Văn ở một trường ngoại biên, vợ tôi không kiếm ra việc làm mới. Ba đứa con trai lớn phải xông ra đi làm công nhân hết công trường xây cât này đến xí nghiệp quốc doanh khác. Ở trên trại, trong sách vở kinh điển, người Cộng sản hay nhấn mạnh: Phong kiến bốc lột nhân dân một thì tư bản bốc lột trăm lần nhiều hơn. Bây giờ tôi chua chát học thêm một bài học mới: Nơi nào có đảng cs thì đảng sẽ bóc lột nhân dân ngàn lần nhiều hơn và tinh vi hơn. Ba đứa con trai làm công nhân như thế mà tiền lương của chúng mang về không đủ đong gạo ăn no. Bởi thế có những buổi sáng vợ tôi ngậm ngùi cho biết nàng không còn tiền đong gạo thổi cơm chiều cho mấy đứa con, chứ đừng nói gì tới việc cơm ăn sáng mai và trưa mai tại công trường cho chúng nữa.
Vợ tôi không còn ai để vay. Cô bác chú dì của nàng, thậm chí cả em ruột đều còn sống ở cùng một thành phố, nhưng không ai chịu cho vay gạo nữa. Tôi bèn lấy cái bị cói, đạp chiếc xe tàng ra đi. Nếu tôi đói, tôi chịu được, khỏi cần nhờ vả ai. Nhưng các con tôi đói, vợ tôi đói thì lại khác. Làm một người đàn ông, làm một con trống, dù thất thế cùng đường đến đâu chăng nữa, cũng phải ráng lên thôi. Tự ái cá nhân phải bỏ ra ngoài. Rồi đến một thời kỳ những bạn ở gần đã nhờ vả cả rồi, tôi nhớ đến Quang. Tôi đạp xe dưới trời nắng chói chang sang cư xá Thanh Đa, khát không dám uống vì số tiền trong túi phải để giành để phòng vá xe. Và khi bước chân vào phòng khách nhà Quang thì hai tay tôi dính bê bết dầu đen bẩn vì phải láp lại xích quá nhiều lần. Mồ hôi dĩ nhiên đầy mặt và lưng áo.
Quang vẫn như ngày nào trên cõi núi rừng. Nghĩa là anh săn sóc tôi chu đáo. Vặn quạt thêm cho mát, đưa khăn cho tôi lau tay, mời tôi uống nước ngọt, ăn trái cây. Tôi tiếp nhận những săn sóc ấy với thái độ biết ơn và khiêm tốn. Ba năm cải tạo không dài gì nhưng đã dậy cho tôi một bài học lớn. Tôi trở thành khiêm cung hơn với cuộc đời, bớt gồ ghề đi trong giao tế hằng ngày. Tôi biết sống hơn, thương người hơn đã đành và cũng biết để cho người thương mình – điều mà trước kia tôi vì kiêu ngạo ít khi chịu chấp nhận. Vợ anh phụ bán hàng ngoài chợ cho bà cô chưa về. Hai đứa con gái thay mẹ nấu ăn, bầy bàn trải khăn với ly tách đầy đủ. Và khi tất cả đã ngồi vào bàn, anh chắp tay cầu nguyện và cám ơn Chúa “đã cho hàng ngày dùng đủ”. Nghi lễ này tôi quá quen thuộc nhưng mỗi lần nghe giọng anh chân thành thốt lên những lời kinh ấy, tôi vẫn thấy phảng phất một yên tĩnh đâu đây.
Sau bữa cơm tôi cáo từ ra về. Anh yêu cầu tôi đợi một chút để vào phòng lấy ra một bao thư trao cho tôi. Anh không đưa ra một cách bình thường, mà đặt thư vào hai tay mở ngửa, đưa lên cho tôi, đầy trịnh trọng. Tôi cầm lấy cám ơn, như đã từng cám ơn khi anh kiếm cho tôi những cọng rau muống già làm giống cho luống rau cằn cỗi ven lộ ở Trảng Lớn, như đã cám ơn những tán đường những miếng cháy anh đã chia cho tôi ở Katum. Khi đã qua cầu, ngừng chân nghỉ quán nước ven đường, tôi mới mở bao thư ra coi. Anh đã đưa số tiền mười lần lớn hơn lòng mong chờ của tôi. Trong lần gặp sau, tôi hỏi anh sao có thể chia cho tôi nhiều như vậy, anh đã cho biết anh thuộc một giáo hội có lệ là mỗi gia đình giáo dân, dù giàu hay nghèo, dù kiếm được nhiều hay ít, đều mỗi tháng cất riêng ra 10% lợi tức, coi như tiền đã cúng dường cho Chúa. Người gia chủ chỉ còn là người quản lý số tiền ấy thôi để giúp những người lâm cảnh ốm đau, ngặt nghèo bất kể thuộc tôn giáo nào trên thế gian.
Tôi nhớ cho đến ngày được cùng gia đình bước chân lên máy bay đi Bangkok, tôi còn phải tới cầu cứu anh hai hay ba lần nữa. Anh chẳng bao giờ biết khi nào thì tôi tới chơi thân hữu, khi nào thì cần tiền. Bởi thế những thư, những gói tiền bọc giấy học trò hay giấy báo ấy, khi nhiều khi ít. Nhưng bao giờ anh cũng dùng cả hai tay dâng lên tặng tôi. Có thể anh dược gia đình giáo dục, có thể tôn giáo anh đã rèn luyện cho anh cố được một cử chỉ như vậy. Nhưng dù do nguyên nhân nào thì anh cũng vẫn dịu dàng dạy cho tôi một bài học mà tôi áp dụng mãi về sau này. Phải biết chia sẻ cái gì mình có, dù ít, cho kẻ khốn cùng hơn đã đành, mà còn phải biết cách cho nữa. Một người đi cầu xin, nhờ vả, tự thâm tâm họ đã đau buồn lắm rồi…

*
Gia đình tôi sống với nhiều vui tươi ở Hoa Kỳ. Cả nhà quyết định để năm năm đầu ưu tiên cho việc học, đi làm chỉ là thứ yếu. Dù có lợi tức khiêm tốn, cả nhà chưa bao giờ từ chối một thư cầu cứu nào từ quê nhà bên kia biển. Có nhiều cho nhiều, có ít cho ít và mỗi năm gần Tết cố gắng gửi tiền lì xì, dù lắm khi chỉ là 10 dollar cho mỗi gia đình. Từ vợ chồng tôi lẫn các con đều hiểu rằng ít khi cuộc đời giành cho mình cái thú vị là được đáp ơn những người trước kia đã giúp mình. Bởi thế, cách trả ơn ngưởỉ đời hay nhất là giúp những người khác đang lâm cảnh khốn cùng.
Dĩ nhiên vừa tới Mỹ tôi đã đã viết thư cho Quang, và từ đó cứ mỗi năm mỗi viết. Mãi đến năm thứ hai tôi mới nhận được thư trả lời của Quang cho biết gia đình anh vẫn bình thường, vẫn tôi tớ cho Chúa, nhưng cũng đã nạp đơn xin đoàn tụ với người anh đã là mục sư tại Hoa Kỳ từ nhiều năm. Tôi viết thư trả lời, khuyên anh nên chi tiền cho những chỗ cần thiết – như chị đã chi ngày xưa để cho anh được tha về. Tôi nghĩ anh nên đi sang Hoa Kỳ sớm cho chị được nghỉ ngơi, các cháu có tương lai tốt nghiệp đại học. Và anh, anh nên thụ phong mục sư ở Mỹ. Rồi sau đó nếu anh muốn trở về Việt Nam phục vụ, anh có cả một hội thánh lớn mạnh yểm trợ để phục vụ dân nghèo khốn khổ ở Việt Nam.
Anh không trả lời thư ấy của tôi. Nhưng không phải vì thế mỗi năm khi vào mùa đông, các con tôi treo đèn ngoài mặt tiền, trên cây trong vườn mùa Giáng Sinh, tôi không viết cho anh những lời chúc mừng thành thật nhất. Rồi với thời gian qua nữa, chuông điện thoại reo và tôi nghe tiếng nói vui vẻ của anh phát xuất từ miền Nam Cali. Anh cho biết anh đã tới Hoa Kỳ, đã thụ phong mục sư và dĩ nhiên đang phục vụ cho Chúa.

*
Rồi như những truyện, những tuồng cổ Đông Phương bao giờ cũng có hậu, như những phim Mỹ thường tận cùng bằng một happy ending, một ngày mùa hè năm vừa rồi tôi nhận được điện thoại của anh báo anh sẽ tới thăm gia đình tôi vào buổi chiều. Anh lên miền Bắc họp các mục sư của hội thánh, bởi thế tạt qua thăm tôi.
Anh không đủ thời giờ ở lại ăn một bữa cơm để tôi được nghe lại một lần nữa giọng anh nho nhỏ cám ơn Chúa “đã cho hằng ngày dùng đủ” như những ngày đã xa trong quá khứ. Khi tiễn anh ra xe đậu ven bờ cỏ, đứng cạnh luống hoa tôi trồng đang mãn khai trong khí hè ấm áp, anh bổng dưng hỏi tôi đến tuổi này rồi, tóc đã bạc, tôi có nghĩ đến truyện trở lại đạo, với Chúa không. Và y hệt những ngày xưa cũ, tôi lại nói đùa chọc anh: “Tôi nghĩ là không cần thiết. Một con người ngoài đạo, nhưng sống theo đúng mười điều răn của Chúa, thì lên đến cổng Thiên Đường, đâu có sợ bị đuổi xuống chỉ vì thiếu I.D. Card của một hội thánh dưới cõi trần gian…”

đón tù cải tạo

THẾ UYÊN

* Tựa đề do người cùng cảnh ngô,TC đặt

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s