Vũ Hoàng Chương và 4 bài thơ dịch-

logo thơ

Vũ Hoàng Chương và 4 bài thơ dịch

Huỳnh Duy Lộc
Nhà phê bình Đặng Tiến đã viết trong bài “Hoài niệm Vũ Hoàng Chương”: “Ngày 6 tháng 9 dương lịch là ngày giỗ Vũ Hoàng Chương, mất tại TP.HCM năm 1976, sau mấy tháng bị chính quyền bắt giam vào khám Chí Hoà. Anh bị trọng bệnh, đưa về nhà một thời gian ngắn thì qua đời vì ho suyển, thọ 62 tuổi.

Vũ Hoàng Chương1


Vũ Hoàng Chương sinh tại thành phố Nam Định năm 1915 (giấy tờ ghi năm 1916) trong một gia đình khoa bảng giàu có; tác giả của khoảng 20 tác phẩm, chủ yếu là thơ, rồi đến kịch thơ, hồi ký, bài nói chuyện. Vũ Hoàng Chương là nhà thơ lớn của đất nước, bắt đầu từ phong trào Thơ Mới, với các tập “Thơ Say” (1940), “Mây” (1943), qua những truân chuyên của dân tộc với “Thơ Lửa” (1948), “Hoa Đăng” (1959), “Lửa Từ Bi” (1963), và những biến chuyển trong thi ca hiện đại. Vũ Hoàng Chương là một tác giả lớn lao và quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà, chiếm một địa vị riêng biệt trong các trào lưu thi ca.
Giữa những trầm luân của đất nước, tác phẩm của anh chưa được tìm hiểu toàn bộ và đánh giá đúng mức, ở miền Bắc cũng như miền Nam, trước 1975, và trong nước cũng như ngoài nước những năm gần đây.
Trong nước, từ chính sách đổi mới, 1986, đã có lối nhìn thoáng rộng hơn đối với phong trào Thơ Mới 1932-1945 và Vũ Hoàng Chương, ở một chừng mực giới hạn, cũng được đọc lại một cách công bình hơn… Nhưng nói chung những thành kiến còn đè nặng trên sự nghiệp văn học của Vũ Hoàng Chương, có thể từ bài viết của Chế Lan Viên (tháng 4.1960) phê phán tập thơ “Hoa Đăng”, bất công và độc ác. Có thể nói, bài này, ở chừng mực nào đó đã đưa đến thảm kịch Vũ Hoàng Chương năm 1976. Bài của Xuân Diệu ân cần với Vũ Hoàng Chương, trong mục Tiếng Thơ trên báo Văn Nghệ số 6/1948 không thấy in lại trong sách (NXB Văn Nghệ, 1954). Thỉnh thoảng lắm mới có người nhắc đến tình cũ nghĩa xưa như Tô Hoài trong “Tự truyện”, hay mới đây trong “Chiều chiều”. Còn lại là những phê phán gay gắt, kể cả Lê Đình Kỵ, là người tương đối cởi mở với thơ tiền chiến, cũng đánh giá Vũ Hoàng Chương là “ bi quan, bế tắc, buông thả, tự hủy, truỵ lạc “…. Chỉ ghi nhận những lời mới đây (2.1989) của Hà Minh Đức, đương kim Viện trưởng Viện Văn học, xem Vũ Hoàng Chương là ” cây bút có tài năng nhưng nằm trong dòng nước đục ( .. .) chẳng có gì để nói thêm về những câu thơ như một con thuyền bập bềnh trôi trên dòng nước đục
“.

Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương

Vũ Hoàng Chương & Mai Thảo


Dù sao, thời gian cũng sẽ gạn đục khơi trong.
“Biết ai là đục biết ai trong…”
Năm 1969, Vũ Hoàng Chương lên 55 tuổi, tự hào mình thọ hơn Khổng Minh 1 tuổi, có bài thơ:
“Chữ thọ vừa ăn đứt Ngọa Long
Bến nằm dư biết đục hay trong . . .
(. . . ) Chỉ thương kiếp đá ai bày trận
Để ngấn vàng gieo chợt rối vòng . . .”
Một ánh trăng giữa bát trận đồ. Trong cảnh đá chạy cát bay, đôi tiếng thị phi hoặc lời ca tụng có nghĩa lý gì?”
(Hoài niệm Vũ Hoàng Chương, Đặng Tiến, ngày 6 tháng 9 năm 1999)

Vũ Hoàng Chương không chỉ “thương kiếp đá ai bày trận” mà còn thương cho kiếp người qua những cảnh vật và người trong 4 bài thơ cổ mà ông đã dịch để nói lên tâm sự riêng của mình: “Độc Tiểu Thanh ký” (dịch Nguyễn Du), “Hoàng Hạc Lâu” (dịch Thôi Hiệu), “Quá Hải Vân Quan” (dịch Trần Bích San), “Tương tiến tửu” (dịch Lý Bạch). 
Bản dịch bài thơ “Độc Tiểu Thanh ký” của Nguyễn Du thể hiện nỗi xót xa trước số phận oan khiên mà thơ và người làm thơ phải chịu đến mức bị đốt bỏ thành tro bay:

Độc Tiểu Thanh ký
Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,
Độc điếu song tiền nhất chỉ thư.
Chi phấn hữu thần liên tử hậu,
Văn chương vô mệnh luỵ phần dư.
Cổ kim hận sự thiên nan vấn,
Phong vận kỳ oan ngã tự cư.
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? (Nguyễn Du)

Trước song giấy mực viếng nàng,
Hồ Tây vườn cũ – gò hoang bây giờ.
Xưa nay trời vẫn làm ngơ,
Mối oan thêm một người thơ buộc mình.
Hoa tàn lệ rỏ hương thanh;
Văn chương phận mỏng chưa đành tro bay!
Rồi ba trăm năm sau đây
Còn ai khóc Tố Như này nữa chăng? (tháng 12 năm 1968)

Bản dịch bài thơ mời rượu “Tương tiến tửu” của Lý Bạch thể hiện nỗi u hoài trong kiếp sống phù du, “sớm như tơ, xanh màu tóc ấy, chiều đã như tuyết”, xưa nay các bậc thánh hiền đều không còn tiếng tăm, chỉ có kẻ uống rượu mới để lại tên tuổi nên hãy cùng nhau uống rượu để “cho ngàn trước ngàn sau tan buồn”:

Nước sông Hoàng cuồn cuộn ra khơi?
Một ra biển, chẳng về trời,
Nhà cao gương sáng thương ai bạc đầu!
Sớm như tơ, xanh màu tóc ấy
Chiều đã như tuyết đấy… biết không?
Thì vui sao chẳng đến cùng?
Việc đời dễ được như lòng mấy khi…
Đừng để chén vàng kia trơ đáy
Cùng vầng trăng đây đấy ngẩn ngơ.
Trời sinh tài, chẳng để hư,
Ngàn vàng để trắng tay ư? lại về
Hãy mổ thịt trâu dê mà khoái,
Gặp nhau đây là phải say sưa,
Uống, xin đừng một giọt thừa.
Ba trăm chén, hãy cho vừa một hơi.
Ý ta muốn chén mời chẳng gác,
Chớ ngừng tay hai bác Đan, Sầm!
Vì nhau một khúc ca ngâm, 
Lắng tai, nào bạn tri âm đó hề!
Của trước mắt đủ gì quý báu, 
Cho ngọc ngà! Cho dẫu trống chuông!
Nguyện say một giấc ra tuồng,
Mình ta tỉnh, bốn phương cuồng, nhảm chưa?
Đều thế cả từ xưa hiền thánh
Cũng giờ đây nằm lạnh thời gian.
Tiếng tăm còn để trần hoàn
Chỉ riêng có gã say tràn cung mây.
Trần Vương trước, tiệc vây Bình Lạc
Rượu ngàn chum thả sức vui đùa.
Chủ nhân nào! Đã nhớ chưa?
Nói chi tiền ít mà thưa dặt dìu!
Ngựa hoa đấy, áo cừu cũng đấy, 
Gọi trả đem đổi lấy rượu mau!
Ta cùng ngươi lại cùng nhau
Uống cho ngàn trước ngàn sau tan buồn.

Bản dịch bài thơ “Hoàng Hạc Lâu” của Thôi Hiệu thể hiện nỗi cô đơn của một kẻ lạc loài ở đất khách quê người, nhìn màu mây trắng vạn vạn đời mà cảm nhận sự phù du của mọi vật trên trần thế:

Hoàng hạc lâu

Hoàng Hạc lâu
Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,
Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.
Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản,
Bạch vân thiên tải không du du.
Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,
Phương thảo thê thê Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu. (Thôi Hiệu)

Xưa hạc vàng bay vút bóng người,
Nay lầu Hoàng Hạc chút thơm rơi.
Vàng tung cánh hạc đi đi mãi,
Trắng một màu mây vạn vạn đời.
Cây bến Hán Dương còn nắng chiếu
Cỏ bờ Anh Vũ chẳng ai chơi.
Gần xa, chiều xuống, đâu quê quán?
Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi!

Bản dịch bài thơ “Quá Hải Vân quan” của Trần Bích San thể hiện tâm thế của kẻ lãng tử đi qua đèo Hải Vân, thấy mình giống như một cánh chim trời phiêu bồng nhìn mọi vật của càn khôn thật bé nhỏ:

Quá Hải Vân quan
Tam niên tam thướng Hải Vân đài,
Nhất điểu thân khinh độc vãng hồi.
Thảo thụ bán không đê nhật nguyệt,
Càn khôn chích nhãn tiểu trần ai!
Văn phi sơn thuỷ vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.
Mạc đạo Tần quan chinh lộ hiểm,
Mã đầu hoa tận đới yên khai! (Trần Bích San)

Ba năm vượt ải đã ba lần
Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân
Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé
Lên cao nhật nguyệt tưởng đâu gần
Gió sương như búa tài thêm chuốt
Hồ bể làm nghiên bút mới thần
Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở
Cười ai kêu hiểm lối sang Tần.

Vũ Hoàng Chương & Bùi Giáng

             Ảnh: Nhà thơ Vũ Hoàng Chương, với nhà thơ Bùi Giáng 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s