Nỗi lòng của Nguyễn Du qua bài “Quỳnh Hải nguyên tiêu”-Nguyễn Cang

Chuyện văn chương cổ

logo văn học


Nỗi lòng của Nguyễn Du

qua bài “Quỳnh Hải nguyên tiêu “

Nguyễn Du

CANG

Nguyễn Cang

Nguyên tác chữ Hán:

瓊海元宵
元夜空庭月滿天
依依不改舊嬋娟
一天春興誰家落
萬里瓊州此夜圓
鴻嶺無家兄弟散
白頭多恨歲時遷
窮途憐汝遙相見
海角天涯三十年。
(阮攸)

Phiên âm Hán Việt:

Quỳnh Hải nguyên tiêu 

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên,
Y y bất cải cựu thuyền quyên.
Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc,
Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên.
Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,
Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.
Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến,
Hải giác thiên nhai tam thập niên.

 (Nguyễn Du)

Sơ lược tiểu sử Nguyễn Du:   

Nguyễn Du (阮攸, 1765-1820) sinh ra trong một danh gia vọng tộc, phú quý bậc nhất cuối đời Vua Lê chúa Trịnh. Dinh cơ nhà họ Nguyễn thật đồ sộ, người ăn kẻ ở, ngựa xe, võng lọng vào ra suốt ngày. Năm Tân Mão (1771), Nguyễn Nghiễm thôi chức tể tướng, về trí sĩ ở quê nhà, Nguyễn Du theo cha về quê. Tại bến Giang Đình, ông được chứng kiến cảnh vinh hoa của gia đình mình (sau này ông có nhắc lại trong bài thơ Giang Đình hữu cảm). Năm Bính Thân (1776) Nguyễn Nghiễm mất, lúc đó Nguyễn Du mới lên 11 tuổi. Trong hơn 10 năm ấy, Nguyễn Du sống bên cạnh cha không nhiều. Năm 1778, bà Trần Thị Tần lâm bệnh rồi mất. Nguyễn Du mồ côi cha mẹ lúc ông mưòi ba tuổi. Cuộc sống sum hợp tưởng bền lâu nào ngờ tai ương biến cố đổ ập xuống khiến gia đình họ Nguyễn tan nát. 

    Sau khi Nguyễn Nghiễm mất, gia cảnh không còn phong lưu như trước. Đời sống cùng việc học hành của Nguyễn Du không được như khi còn cha mẹ. Lúc nầy ông buộc lòng phải ra đi sống nương nhờ nhà người anh cả cùng cha khác mẹ là Quận Công Nguyễn Khản, lớn hơn ông 30 tuổi. Tuy vậy với địa vị và danh tiếng của gia tộc, Nguyễn Du vẫn là cậu Chiêu được mọi người ngưỡng mộ. Quãng thời gian này, ngoài việc học hành, những khi rỗi rãi, lễ tết, Nguyễn Du thường cùng với bạn trai phường hát Tiên Điền vượt truông vào Trường Lưu hát ví và xướng họa thơ phú. Qua những lần đi hát, Nguyễn Du thực sự có cảm tình với o Uy, o Sạ. Đã có lần do mối thâm tình này mà gây ra bất hòa với trai Trường Lưu. Những năm sau này (sau 1786), khi từ Thái Bình về sống tại quê nhà, trở lại Trường Lưu gặp lại người xưa, cảm xúc thời trai trẻ dâng lên ngập tràn, Nguyễn Du đã viết bài Văn tế Trường Lưu Nhị Nữ nổi tiếng. 

    Về sau do ảnh hưởng việc riêng trong gia đình cộng với vận nước điêu linh đã xô đẩy đời ông vào cảnh phong ba bão táp khiến ông phải lang bạt giang hồ rày đây mai đó trong cảnh nghèo khổ một thời gian dài, ông gọi là “Mười năm gió bụi” (1786-1796). Năm Canh Tý (1780), Nguyễn Khản là anh cả của Nguyễn Du đang làm Trấn thủ Sơn Tây bị khép tội mưu loạn trong Vụ án năm Canh Tý, bị bãi chức và bị giam ở nhà Châu Quận công. Lúc này Nguyễn Du được một người thân của Nguyễn Nghiễm là Đoàn Nguyễn Tuấn đón về Sơn Nam Hạ nuôi ăn học. Được mấy năm thì trong nước có loạn, chúa Trịnh Sâm âm mưu định bỏ trưởng lâp thứ làm sinh ra loạn kiêu binh khiến triều đình bất ổn, dân sinh ta thán. Quân Tam Phủ ỷ có công trong việc giúp người con trưởng là Trịnh Khải giành lại được ngôi chúa (1782) nên đâm ra lộng hành quấy phá, giết hại công thần, cướp của nhà dân, gây biết bao đau khổ. Sau sự kiện Kiêu binh nổi loạn (1782), dinh thự Nguyễn Khản tại phường Bích Câu bị đốt cháy, bản thân Nguyễn Khản cũng phải bỏ chạy về Sơn Tây lánh nạn, còn Nguyễn Du thì về nguyên quán ỏ Hà Tĩnh. 

    Năm 1783 Nguyễn Du thi hương ở trường Sơn Nam và đậu Tam Trường (Tú Tài). Cùng năm này, anh là Nguyễn Nễ (con bà Trần Thị Tần) em là Nguyễn Nhưng (con bà Hồ Thị Ngạn), cháu là Nguyễn Thiện (con Nguyễn Điều) thi đậu Tứ Trường (Cử nhân) ở trường Phụng Thiên, đồng thời Nguyễn Du cưới bà Đoàn Thị Huệ con gái Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Tiến sĩ năm Nhâm Thân (1752) đang giữ chức Ngự Sử tại triều, người xã An Hải, huyện Quỳnh Côi, Trấn Sơn Nam (nay là tỉnh Thái Bình). Năm Đinh Mùi (1787), Tây Sơn tiến quân ra Bắc lấy Bắc Hà. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, Nguyễn Du chạy theo vua song không kịp, phải chạy về trốn ở quê vợ tại Thái Bình (ở nhờ nhà anh vợ Đoàn Nguyễn Tuấn). Ông tập hợp hào mục để tính chuyện phục quốc nhưng chí không thành. Mười năm lưu lạc ăn nhờ ở đậu quê vợ là những năm tháng cô đơn cùng cực của Nguyễn Du, đói không cơm ăn, rét không áo mặc. Ông gọi quãng thời gian này là “Mười năm gió bụi”. Nỗi đau được ông ghi lại qua bài Mạn Hứng kỳ I như sau: “Suốt ba tháng xuân, ốm liên miên, nghèo đến nỗi không có tiền cắt chén thuốc. Cuộc phù sinh ba mươi năm, có thân nên sinh mối lo”.

Tam xuân tích bệnh bần vô dược,

Táp tải phù sinh hoạn hữu thân.

(Mạn hứng kỳI)

(三春積病貧無藥,

卅載浮生患有身).

Thường ngày ông làm thơ than thở cho cảnh ngộ của mình, chưa làm nên danh vọng mà lâm vào cảnh cùng khổ. Điều này khiến ông suy nghĩ nhiều về cuộc đời và thảm cảnh mà gia đình ông phải gánh chịu.  Cho nên mới 30 tuổi mà tóc đã bạc trắng, ông đã giải bày nỗi niềm của mình trong bài U cư:

Mười năm trọn quê người nấn ná

Nương quê người tóc đã điểm sương

Bài thơ được sáng tác trong trường hợp nào?

Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu được sáng tác trong năm cuối của “Mười năm gió bụị”. Cuộc sống đói khổ, bịnh hoạn kéo dài ba năm mà không  tiền mua thuốc làm ông suy sụp tinh thần, “tam sinh tích bệnh bần vô dược”. Đối với ông mùa xuân theo lẽ từ trên Trời rơi xuống phải chan đều khắp mọi nhà nhưng sao lại rơi lạc phương trời nào? Ngày 15 Tết, nhiều nhà vui đón xuân , riêng ông chỉ biết thở dài nhìn xuân từ từ đi qua một cách lặng lẽ, có chăng là ánh trăng mờ tỏ của ngày xưa thơ ấu mà thôi. Ông ngắm vầng trăng mà lòng xót thương cho dân nghèo bị cường hào ác bá quấy nhiễu, hành hạ, còn triều đình thì rối ren, ngoại xâm dòm ngó, đồng thời xót thưong cho thân phận của mình, đã ba mươi tuổi đời mà vẫn còn phiêu bạt đó đây, ăn nhờ ở đậu bên vợ. Ngày Tết tác giả nhớ nhà, nhớ cha mẹ amh em, tâm trạng thật buồn, chỉ còn vầng trăng sáng là bạn đến thăm mà thôi. “Trăng” là một biện pháp tu từ hoán dụ thay thế cho người, bạn. Trăng là giống hữu tình, chủ động tìm đến thăm ông trong lúc ông cô đơn. Càm xúc dâng trào nên ông viết lên những vần thơ trác tuyệt.

Bài thơ chữ Hán Quỳnh Hải Nguyên Tiêu mở đầu cho tập thơ Thanh Hiên Tiền Hậu Tập của tiên sinh. Bài thơ nầy không phải sáng tác trứơc mà sau các bài: Sơn Trung Mạn Hứng, Tự Thán, Khất Thực, trong tập sách kể trên.

Các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam có nhận xét: Truyện Kiều là một kiệt tác của văn học Việt Nam, đựợc viết bằng chữ Nôm nhưng xét cho cùng thì vẫn cón thua thơ chữ Hán của ông. Ngoài tập thơ đó ra ông còn sáng tác các tập thơ khác bằng chữ Hán như: Nam Trung Tạp Ngâm, Thanh Hiên Thi Tập, Bắc Hành Tạp Lục. So với các nhà thơ đời Thịnh Đường bên Trung Quốc,ông đâu có thua gì các bậc thi bá kia! Để kết luận về giá trị nghệ thuật của bài thơ nầy cũng như tài năng của Nguyễn Du, tôi xin trích lời nhận xét của nhà thơ Thảo Nguyên về bài thơ Quỳnh Hải nguyên tiêu:”Bài thơ toàn bích, có bố cục chặt chẽ, đẹp như một viên ngọc. Vớí những ý tưởng hoàn toàn mới lạ, khác hẳn với những bài thơ Đường xưa cũ, có thể nói đây là một trong những bài “thơ trăng” đẹp, lạ nhất của văn học Việt Nam”.

Chú thích từ ngữ:

Quỳnh Hải(瓊海) tức Quỳnh Châu thuộc trấn Sơn Nam xưa, nay là huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, quê vợ của Nguyễn Du. Năm 1786, sau khi Nguyễn Khản thất lộc, Nguyễn Du lánh nạn về Quỳnh Côi ở nhà anh vợ là Đoàn Nguyễn Tuấn ở xã Hải An (lúc này Lê Chiêu Thống chưa chạy sang Trung Quốc).

Không đình(空庭): sân vắng

Nguyên tiêu(元宵): rằm tháng giêng âm lịch, nguòi Tàu làm lễ cúng kiếng rộn rịp. 

Mãn:(滿): ngập, tràn, đầy

 

Thuyền quyên(嬋娟): chỉ dáng đẹp đẻ dễ thương. Nói chung chỉ người lẫn vật nhưng quen dùng chỉ người phụ nữ . Ở đây chỉ mặt trăng.

Hồng Lĩnh(鴻嶺): Núi ở Nghệ An. Nguyễn Du có chính quán ở Hà Tỉnh.

Ở một đề tài khác ta có nghĩa tương tự:

Nghĩ thương cho nhẽ kiếp thuyền quyên

Mượn bút nhân đề nhất bách thiên.

(Cung oán thi /Nguyễn Huy Lượng)

Vô gia(無家): không nhà.

Chỉ sự kiện tháng mười năm Tân Hợi (1791), anh thứ tư cùng cha khác mẹ với Nguyễn Du là Nguyễn Quýnh do chống Tây Sơn nên bị bắt và bị giết, dinh cơ họ Nguyễn ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, bị Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn.

Thử (此): ấy, như, bên, đối lại chữ bỉ. Thử đức hữu thử nhân: có đức ấy( bên) có người.

viên(圓): tròn(tt), trọn vẹn, đầy đủ; làm cho tròn, hoàn thành, làm cho hoàn chỉnh(đt).

Thử dạ viên(此夜圓): một đêm (trăng) tuyệt vời đẹp như thế nầy.

tán(散): tan,bể ra, chỉ sự chia ly, phân cách, chia lìa.

thiên(遷): dời(dời nhà đi chỗ khác), đổi quan, biến đổi.

đồ(途): đường. Cùng đồ(窮途): đường cùng, trong bài ám chỉ cuộc đời trước mắt bị tắt nghẽn)

Dịch nghĩa: 

       Quỳnh Hải đêm rằm tháng giêng

Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng sáng đầy trời.
Vầng trăng vẫn đẹp như xưa, không hề thay đổi.
Cả một bầu trờì xuân rơi xuống nơi cửa ngõ nhà ai?

Chỉ thấy trăng sáng vằng vặc như thế đang tỏa khắp nẻo Quỳnh Châu xa xôi ngoài nghìn dặm này. 
Nơi quê hương Hồng Lĩnh, chẳng còn nhà cửa, anh em ly tán . 
Đầu đã bạc, càng giận cho ngày tháng cứ trôi mau.
Cảm động biết bao, giữa lúc cùng đường, từ xa xăm ngàn dặm, bạn(trăng) vẫn tới thăm .

Đã ba mươi tuổi mà vẫn còn lưu lạc nơi chân trời góc biển.

Phân tích và những lời bình:

Hai câu đầu:

元夜空庭月滿天

依依不改舊嬋娟

Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, 

Y y bất cải cựu thuyền quyên. 

(Đêm rằm tháng giêng, sân vắng, trăng sáng đầy trời 

Vầng trăng vẫn đẹp như xưa, không hề thay đổi). 

Bài thơ nổi tiếng lấy khung cảnh rằm tháng giêng ( nguyên tiêu) Nguyễn Du muốn gởi gấm nỗi lòng của mình trong nhũng ngày loạn ly, sống nương nhờ nơi quê vợ.

Hình ảnh trăng mờ trăng khuyết trăng treo lơ lửng được thi nhân Việt Nam cũng như Trung Quốc ( điển hình là Đỗ Phủ) lấy làm đề tài để nói lên tâm sự của mình, một đề tài được các thi nhân ưa chuộng khai thác triệt để. Ở Việt Nam thì có Hàn Mặc Tử.

Với Hàn Mặc Tử thì trăng có khi chỉ là một nét lãng mạn trong khung cảnh trời Đà Lạt mộng mơ, như bóng dáng người con gái đắm đuối ẩn hiện trong sương mờ:

“Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu,

Trời mơ trong cảnh thật huyền mơ.

Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt,

Như đón từ xa một ý thơ”. 

( Đà Lạt trăng mờ/Hàn Mặc Tử)

Nói chung “trăng” trong thơ ông khó hiểu, một vài bài lãng mạn, rõ hồn rõ nét còn số còn lại thì thực sự rất khó hiểu và kinh dị:

“Ai mua trăng tôi bán trăng cho

Không bán đoàn viên, ước hẹn hò…

Bao giờ đậu trạng vinh quy đã

Anh lại đây tôi thối chữ thơ”.

(Trăng vàng trăng ngọc/ Hàn Mặc Tử)

Ở Nguyễn Du trăng được nhân cách hóa như một người bạn, người tình, khác với các thi nhân kể trên. Đêm trăng rằm tháng giêng ông ngồi trước sân vắng lặng ngắm vầng trăng sáng vằng vặc đầy trời mà lòng khắc khoải. Trăng đẹp mông lung êm dịu. Cảnh đẹp của trăng hôm nay không khác gì trăng ngày xưa. Hai chữ “ngày xưa” gợi nhớ những ngày thơ ấu sống yên vui bên cha mẹ anh em. Vầng trăng không đổi nhưng cảnh và con người đã đổi cả rồi! Bây giờ cảnh ấy không còn nữa, còn chăng là kỷ niệm mà thôi. 

Sự liên tưởng giữa trăng và cảnh cũ ngày xưa dẫn tới những biến đổi tâm lý nhân vật bằng hai câu tiếp theo trong đó nỗi lòng của tác giả được bộc lộ một cách tế nhị, kin đáo, tài tình:

Hai câu thực ( 3&4):

一天春興誰家落

萬里瓊州此夜圓

Nhất thiên xuân hứng, thuỳ gia lạc, 

Vạn lý Quỳnh Châu thử dạ viên. 

(Cả một bầu trờì xuân hứng không biết rơi xuống cửa ngõ nhà ai?

Chỉ thấy trăng sáng vằng vặc như thế đang tỏa khắp nẻo Quỳnh Châu xa xôi ngoài nghìn dặm này).

 

Ta như nghe được tiếng thở dài não nuột của ông, vì trăng tròn đêm rằm chiếu xuống muôn nơi nhưng không biết rơi vào nhà ai? Ai sẽ được hưởng mùa trăng đẹp nầy vì ánh trăng sẽ đem lại niềm vui và  hạnh phúc cho gia đình nào đó nhưng chắc chắn không phải cho gia đình ông. Theo tập quán người Việt Nam thì ngày 15 tháng giêng cũng còn là ngày tết, mọi người đoàn tựu bên nhau để hưởng cái không khí ấm cúng gia đình bên anh em cha mẹ; ai không về thăm nhà hay vì cuộc sống bôn ba, không về được là một điều bất hạnh vô cùng. Ở đây tác giả thuộc vào trừng hợp thứ hai. Biện pháp tu từ  “Thùy” gia lạc, thật tuyệt vời, đắc vị ( Rơi vào nhà ai? Là một câu hỏi tu từ ). Chỉ thấy trăng sáng vằng vặc đang tỏa khắp nẻo Quỳnh Châu xa xôi ngoài nghìn dặm.

 

Hai câu luận(5&6):

鴻嶺無家兄弟散

白頭多恨歲時遷

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán, 

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên. 

(Nơi quê hương Hồng Lĩnh, chẳng còn nhà cửa, anh em ly tán .  

Đầu đã bạc, càng giận cho ngày tháng cứ trôi mau). 

Sau sự kiện Kiêu binh nổi loạn (1782), dinh thự Nguyễn Khản tại phường Bích Câu bị đốt cháy, bản thân Nguyễn Khản cũng phải bỏ chạy về Sơn Tây lánh nạn, còn Nguyễn Du thì về nguyên quán ỏ Hà Tĩnh. 

 Những năm này, gia cảnh nhà vợ chẳng có gì khá giả. Đoàn Nguyễn Thục đã mất, con trai lớn cũng mất, mất chỗ nương tựa, Nguyễn Du đành cõng người con trai còn lại là Nguyễn Tứ về quê cha đất tổ ở Tiên Điền. Trở lại quê, nhà cửa tan hoang, anh em ly tán khắp nơi, ông đã phải thốt lên: “Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán” (trở về Hồng Lĩnh gia đình không còn, anh em lưu lạc khắp nơi)…Thật vô cùng thê thảm cho cuộc đời tang thương của tác giả. Không nhà không cửa không cơm ăn áo mặc , còn cảnh nào bi đát hơn? 

Đọc thơ Nguyễn Công Trứ ( 阮公著) bài Hàn Nho Phong Vịnh Phú, thuở hàn vi, ta thấy ông tả cảnh nghèo thật ấn tượng nghe mà mủi lòng :

Bốn vách tường mo ,

Ba gian nhà cỏ.

Đầu kèo mọt tạc vẽ sao ,

Trước cửa nhện giăng màn gió .

Phên trúc ngăn nửa bếp nửa buồng,

Ống nứa đựng đầu kê đầu đổ.

Đầu giường tre, mối dũi  quanh co,

Góc tường đất, trùn  lên lố nhố.

Bóng nắng giọi trứng gà bên vách, thằng bé tri trô.

Cảnh nghèo của Nguyễn Du chắc cũng đến thế là cùng! 

Trong lúc bế tắc tác giả cố vùng vẫy để thoát khỏi cảnh lầm than nhưng đành bất lực, khi tưổi già tới mau và thời gian cứ trôi nhanh mà không cách nào ngăn cản được. Ông giận cho mình và cho thời cuộc. Hình ảnh người trai hiên ngang muốn vượt qua nghịch cảnh nhưng không thực hiện được thì tuổi già đã kéo tới cũng được Đặng Dung bộc lộ qua bài thơ Cảm Hoài đầy khí khái mặc dù hoàn cảnh khác nhau, Nguyễn Du bất lực trước cuộc sống, còn Đặng Dung bất lực trước thù nhà chưa kịp trả :

“Quốc thù vị báo đầu tiên bạch”(Thù nước chưa báo được, mà đầu thì đã bạc rồi)

Hai câu kết(7&8):

窮途憐汝遙相見

海角天涯三十年。 

Cùng đồ liên nhữ dao tương kiến, 

Hải giác thiên nhai tam thập niên.

(Cảm động biết bao, giữa lúc cùng đường, từ xa xăm ngàn dặm, bạn(trăng) vẫn tới thăm.

Đã ba mươi tuổi đầu mà vẫn còn lưu lạc nơi góc biển chân trời).

May mắn thay trong lúc cùng đường vẫn còn một người bạn duy nhất đến thăm an ủi, người bạn nầy chính là mặt trăng! Tác giả nhân cách hóa mặt trăng như một người bạn, một người tình, biết cảm thông hoàn cảnh của tác giả nên đến chia sẻ nỗi buồn khiến ông cảm động vô cùng!

Sau cùng tác giả than thân: Ba mươi tuổi đầu mà vẫn còn lang thang nơi góc bể chân trời, mà lẽ ra giờ nầy cuộc sống của ông phải ổn dịnh, sum vầy bên vợ con trong ngôi nhà hạnh phúc.

Trong “mười năm gió bụi”, Nguyễn Du sống nghèo khổ lay lất, xa nhà, anh em ly tán. Tâm trạng xa nhà, cô đơn nầy không khác gì tâm trạng nhớ nhà của Trần Nguyên Đán (1325-1390) khi ông tuân lệnh vua đi tuần tra qua các địa phương xa kinh thành để giữ gìn an ninh:

三春啼血鵑聲斷   Tam xuân đề huyết quyên thanh đoạn,

萬里歸心桂影孤   Vạn lý qui tâm quế ảnh cô.

 (Quân trung tác/ Trần Nguyên Đán)

Tiếng chim quyên kêu ai oán suốt ba xuân nay đã dứt. Tác giả lo lắng bồn chồn vì mình vẫn còn xa nhà, xa kinh đô, không biết bao giờ trở lại. Một mùa mới bắt đầu, mà ta vẫn còn đây, đời ta sẽ ra sao? Muôn dặm lòng muốn về, nhìn trên trời cao chỉ thây vầng trăng quạnh quẽ. Trăng lẻ loi chỉ sự cô đơn cùng cực , biết ai tâm sự, còn ai chung đường về? Tâm tư u hoài, bứt rứt khôn nguôi.

Câu:”Vạn lý quy tâm quế ảnh cô” là một biện pháp tu từ ẩn dụ thật đặc sắc. Tác giả mượn hình ảnh ánh trăng treo lơ lửng để nói lên nỗi cô đơn của mình.Bút pháp nầy được các nhà thơ Trung Quốc cũng như Việt Nam sử dụng thường xuyên trong văn chương cổ điển cũng như văn chương hiện đại, một cách tài tình. Tới đây ta thử xem một nhà thơ lớn của Trung Quốc là Đỗ Phủ, bày tỏ nỗi nhớ nhà của mình như thế nảo khi bị kẹt ở Trường Anh không kịp về nhà.  

(Nhà thơ Đỗ Phủ 杜甫 (712-770) làm quan thời Thịnh Đường (756-759), lúc bị kẹt ở Trường An ( một địa danh kinh đô Đường,khi đó An Lộc Sơn làm chủ tình hình nơi nầy), ông nhìn trăng thương nhớ về Phu Châu nơi vợ con, cha già đang mòn mỏi đợi chờ:

Kim dạ Phu Châu nguyệt

Khuê trung chỉ độc khan

Dao liên tiểu nhi nữ

Vị giải ức Trường An.

(Nguyệt dạ/ Đỗ Phủ)

(Tạm dịch:

Đêm nay trăng sáng tại Phu Châu

Người trong phòng the chỉ một mình ngắm trăng

Xa xôi thương đúa con gái nhỏ

Có biết đâu nỗi nhớ từ Trường An vọng về gia đinh….

(Đêm Trăng/ Đỗ Phủ)

Bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu về mặt nghệ thuật đã đạt tới một trình độ cao. Thơ thật truyền cảm đọc lên nghe có hồn đầy xúc động. Trong bài tình và cảnh đựoc kết hợp chặt chẽ tạo thành một viên ngọc toàn bích, có bố cục khúc chiết không dư thừa lỏng lẻo không hời hợt qua loa. Từ ngữ chọn lọc, gợi hình gợi cảm, nhịp thơ 4/3 tiêu biểu thể loại thất ngôn bát cú truyền thống. Phép đối sử dụng một cách điêu luyện đúng luật (thanh, ý, từ) trong thơ Đường, tá đối  sử dụng khéo léo khiến câu thơ trở nên sinh động, mới mẻ, gây hứng thú, thuyết phục người đọc. Xét cặp đối 3&4:

Nhất thiên xuân hứng/ thuỳ gia lạc, (4/3)

Vạn lý Quỳnh Châu / thử dạ viên. (4/3)

Từ ngữ “Nhất thiên” đối với “Vạn lý”( trong đó “vạn” đối với “nhất”, “thiên” đối với “lý”).

“Thùy gia lạc” đối với “Thử dạ viên”( trong đó “thùy” đối với “thử, “gia” đối với “dạ”, và “lạc” đối với “viên”).

Trong cặp luận 5&6:

Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán, 

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên.

Tá đối: “Hồng Lĩnh” đối với “Bạch đầu”. Hồng Lĩnh là địa danh trên nguyên tắc không đối được với Bạch đầu, nhưng ở đây mượn âm “Hồng ( “chim hồng”) cho đối với “bạch đầu” là hợp lý !

Tá đối là đối tiếng bằng cách mượn âm của một tiếng khác: 

Hai mái trống tung đành chịu dột

Tám giờ chuông điểm phải nằm co.

                            (Trần Tế Xương)

Chúng ta thấy ý của từ Trống và Chuông trong câu không hề đối nhau. Nhưng nếu tách ra xét tự loại, lại đối ( “trống”, mượn âm trống của cái trống). 

Chẳng long lay đến lòng son sắt

Há hổ ngươi vì miếng bạc đen.

                    Phan Sào Nam

Thật là khéo khi ông mượn âm “long”( rồng) đối với hổ(cọp) còn gọi là đối tiếng, nên hai câu trên đối rất chỉnh… 

     Cuộc đời Nguyễn Du có nhiều thăng trầm khắc nghiệt từ lúc ấu thơ cho tới trưởng thành. Mặc dù sinh ra trong một gia đình quyền quý: cha làm quan, anh em cũng làm quan cho triều đình nhà Lê nhưng khi lớn lên gặp lúc vận nước suy tàn cha mẹ mất lúc ông vừa 13 tuổi khiến ông phải nương tựa nơi người anh cả. Sau nhiều biến đổi đau thương do binh loạn mà ông phải trôi giạt về quê vợ sống đời nghèo khổ cùng cực. Ông thường làm thơ viết văn để tỏ nỗi thất vọng mặc dầu ông đã thi đỗ tam trường nhưng không có đất dụng võ. Bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu là một tuyệt tác trong thơ văn cổ điển Việt Nam . Ý thơ hàm xúc, lời thơ bình dị mà sâu sắc được nhiều nhà nghiên cứu khen ngợi. Qua bài thơ nầy ta thấy bày ra một khía cạnh khác của đời ông. Lúc giao thời, chính trị đất nước bị rối loạn do ba thế lực: Lê mạt, chúa Trịnh và sự nổi dậy của nhà Tây Sơn, khiến đất nước rơi vào cảnh loạn ly. Người anh cả là Nguyễn Khản bị khép tội phản loạn trong vụ án năm Canh Tý 1780, nên bị bãi chúc và bị bắt giam, từ đó Nguyễn Du mất chỗ dựa, may nhờ bạn của cha là Đoản Nguyễn Tuấn đem về nuôi cho ăn học. Năm 1786 thì anh cả Nguyễn Khản bị bịnh rồi mất. Năm 1789 Đoàn Nguyễn Tuấn về hợp tác với Tây Sơn, lúc nầy Nguyễn Du về quê vợ ở Quỳnh  Côi, Thái Bình. Chính thời gian nầy ông sáng tác bài thơ trên. Một tài liệu khác cho rằng sở dĩ ông về quê vợ là vì trước đó, khi Tây Sơn tấn công Bắc Hà, chiếm Thăng Long, ông chạy theo vua Lê Chiêu Thống sang Tàu nhung không kịp bèn quay lại trốn về quê vợ lánh nạn. Sống trong cảnh nghèo ông bị nội tâm dằn vặt, đau đớn gần như tuyệt vọng trong một thời gian dài do hai vấn đề đối lập nhau hiện diện cùng một lúc trong con người của ông: hạnh phúc/khổ đau, đoàn tựu/ly tán, đựơc/mất…

    Cảnh và tình trong bài thơ hòa quyện nhau nhưng đối lập nhau, một bên là cảnh đẹp thiên nhiên, trăng sáng vằng vặc tỏa khắp thôn trang, một bên là nỗi buồn cay đắng vì xa nhà, nghèo đói, bệnh tật không thang thuốc, thì làm sao mà vui cho được nên “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”!Nỗi đau như chồng chất vì cha mẹ mất, anh em ly tán, nhà tan cửa nát không biết tỏ bày cùng ai, có chăng là vầng trăng sáng cũng là bạn tri âm như ta thấy trong bài Quỳnh Hải Nguyên Tiêu nầy!  

Dịch thơ:

     Quỳnh Hải đêm rằm tháng giêng

Trăng sáng nguyên tiêu vắng bóng người

Trăng xưa không đổi nét xinh tươi

Một trời trăng tỏ soi đầu ngõ

Muôn dặm Quỳnh Châu dạ rối bời

Hồng Lĩnh tan nhà huynh đệ tán

Bạc đầu thêm hận tháng ngày trôi

Đường cùng bạn đến vui mừng gặp

Góc bể chân trời, đã mấy mươi!

Nguyễn Cang

Trích dẫn thêm bản dịch của các thi nhân:

Bản 1/ Quách Tấn

Rằm tháng giêng trăng vàng lai láng,
Nghìn xưa không đổi dạng thuyền quyên.
Quỳnh Châu muôn dặm đoàn viên,
Một trời xuân hứng xuân riêng nhà nào?
Cảnh Hồng Lĩnh biết bao ly tán!
Bạc mái đầu ngày tháng đổi thay.
Đường cùng mừng thấy nhau đây,
Phương trời lận đận tuổi đầy ba mươi.

Quách Tấn  

Bản 2/  Nhất Uyên Phạm Trọng Chánh

Trăng sáng đầu xuân toả ngập tràn,
Bao giờ trăng chẳng nhạt thuyền quyên.
Một trời xuân hứng nhà ai lạc,
Muôn dặm Quỳnh Châu nguyệt sáng ngần.
Hồng Lĩnh không nhà huynh đệ vắng,
Bạc đầu đa hận tháng ngày nhanh.
Đường cùng trăng vẫn còn soi đến,
Góc biển chân trời, ba chục năm.

Phạm Trọng Chánh 

 Bản 3: Hương Lệ Oanh

Rằm tháng giêng trăng chiếu sáng ngời,
Thuyền quyên bóng cũ chẳng phai phôi.
Nhà ai trước cửa trăng soi sáng?
Một thuở Quỳnh Châu dạ chẳng nguôi.
Hồng Lĩnh loạn binh huynh đệ tán,
Bạc đầu thêm hận bọt bèo trôi.
Cùng đường có ánh trăng chia xẻ,
Lưu lạc ba mươi tuổi cuộc đời. 

HƯƠNG LỆ OANH VA 15/8/18 

——————-

Nguyễn Cang (7/12/16) 

Ghi chú: Bài được chỉnh sửa và viết thêm lời bình ngày 24/7/18.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.