Ngày nào anh trở lại?/Hà nhật quân tái lai-Tản mạn Phạm Xuân Hy

image-1

Ngày nào anh trở lại

Hà nhật quân tái lai

cô đơn biển vắng

Bài hát Hà nhật quân tái lai, 1936

HÀ NHẬT QUÂN TÁI LAI

何 日 君 再 來

« Hà Nhật Quân Tái Lai –Bao giờ anh trở lại »

Là tên một bài hát nổi tiếng bằng chữ Hán, mà tôi thường vô ý thức nghêu ngao hát « nhái » mấy câu tiếng Việt, lúc còn là một cậu học trò trường làng, mười một mười hai tuổi, cách đây mấy chục năm :

Em lấy chồng sao em không nói,

Để anh theo anh ghẹo em hòai

Cũng như nhiều đứa trẻ cùng trang lứa với tôi lúc bấy giờ, chúng tôi vẫn thường đem lời hát này ra để trêu đùa những cô gái cùng xóm với mình.Âm điệu của câu hát này này cho đến bây giờ, tuổi đời tôi đã ra ngoài thất thập cổ lai hy rồi, vẫn như còn, lãng đãng sống trong trí nhớ của tôi, kèm theo với một kỷ niệm đẹp thời thơ ấu của một chú nhóc con, ôm mộng mị, mê say cái nhan sắc của một bậc liền chị hàng xóm, lớn hơn mình năm sáu tuổi.

Tôi còn dám cả lòng mạo muội mượn lời hát đó để “tỏ tình” một cách láo lếu. Nhưng tôi may mắn đã không bị ăn một cái tát tai nào, mà ngược lại, trở thành người thân quen được sang chơi hàng ngày với chị.Tôi đem những những truyện xã hội như Nửa Chừng Xuân, Gánh Hàng Hoa, Đọan Tuyệt, Những Đồng Tiền Xiết Máu, đổi cho chị lấy những truyện võ hiệp, trinh thám, như Bồng Lai Hiệp Khách, Giao Trì Hiệp Nữ, Đoan Hùng, Lệ Hằng, Người Nhạn Trắng …Tình cảm giữa tôi và chị mỗi ngày một thêm thắm thiết, thân ái hơn.Tôi tìm được nơi chị nguồn an ủi những khi tôi cô đơn, bị bè bạn họ hàng hắt hủi bỏ rơi.

Tôi đem những bài học ở nhà trường ra thuật lại với chị để nhờ chị chỉ bảo.

Chị kể cho tôi nghe về gia đình chị.Về những ngày phải chạy đi tản cư ở những vùng quê.Hết làng này qua làng khác.Cha chị bị người ta bắt mang đi mất tich.Nghe nói ông bị người ta nghi ngờ là có quen biết với những người ở đường Quan Thánh Hà Nội.

Mẹ góa con côi, hai mẹ con chị phải cực khổ, vất vả lắm mới tìm được đường “rinh tê vào tề”.

Ngày chị bỏ làng tôi hồi cư về Hà Nội.”Tình yêu” thơ dại của tôi chưa biết khóc, nhưng trong lòng tôi thì buồn vô hạn.

Tôi hỏi :

-Bao giờ chị trở lại ?

Tôi không ngờ rẳng, đó lại chính là nghĩa của câu hỏi của chữ nho : “Hà Nhật Quân Tái Lai 何日君再 – Bao giờ anh trở lại”, lại là đầu đề của bài hát mà tôi đã dùng để “tỏ tình” với chị hôm nào.

Chị im lặng.Kéo tôi vào lòng, vỗ về an ủi :

-Chị đi vài tháng thì chị lại về.

Lần đầu tiên tôi cảm thấy hơi ấm từ cơ thể của một người khác phái lan sang người tôi.Tôi vừa bối rối.Vừa lúng túng.Tôi không phân biệt nổi cảm giác đó ra làm sao.Nhưng im lặng.Một thứ cảm giác không tên làm tôi không muốn rời xa chị.Phải chi lúc đó tôi cũng biết làm thơ và tài hoa như thi sĩ Hòang Cầm, thì có lẽ tôi cũng có một bài thơ đấy nhỉ.

Rồi hiệp định Genève, đất nước chia đôi.Tôi theo mẹ vào Nam.Trải qua nhiều thăng trầm dâu biển, với biết bao vật đổi sao dời.Lời hứa hẹn vài tháng của chị đã trở thành biền biệt. Mãi mãi. Hòang hạc nhất khứ bất phục phản. Nhưng người đi để lại hình bóng.Tôi không có cơ hội nào gặp lại người chị láng giếng năm xưa ấy nữa. Còn hình bóng chị thì mãi mãi vẫn là một tiên nữ hiền lành, khi ẩn khi hiện trong cái thế giới thơ ấu mang nhiều bất hạnh của tôi.

Những lúc nhớ về chân trời cũ, tôi chỉ âm thầm hát một mình :

“Cô láng giềng ơi ! Không biết cô còn nhớ đến tôi …”.

Và nếu quả như “tam sinh hữu hạnh”, tôi xin nguyện làm viên đá mốc rêu nằm bên dốc cầu chờ chị khi tái sinh đi qua đó.

1-Sự ra đời, và nỗi gian truân của “Hà Nhât Quân Tái Lai”

« Hà Nhật Quân Tái Lai –Bao giờ mình trở lại », là một bản tình ca Trung Hoa nổi tiếng, được nhiều người ưa thích và ca hát, được các vũ trường đua nhau diễn tấu vào cuối thập niên 30 của thế kỷ trước.Ca khúc này chẳng những được phổ biến rộng rãi khắp đại lục, mà còn được truyền bá sang các nước đông Nam Á, được dịch ra các thứ tiếng, Nhật Bản, Tân Gia Ba, Việt Nam…Tuy thế nổi tiếng và được quần chúng yêu thích như vậy, ca khúc này cũng phải chịu một định mệnh nhiều đắng cay oan nghiệt, cho cả tác giả, lẫn một số ca sĩ của nó,vì sự gian trá và những tính tóan chính trị, vô nghệ thuật.

Ca khúc từng bị Trung Cộng xếp vào lọai nhạc dâm đãng đồi trụy, là ca khúc chiêu hồn của đế quốc Nhật Bản phản động, là lọai “nhạc vàng” ủy mị,tức “hòang sắc đích ca khúc”, và bị cấm hát, cấm lưu hành, bị bỏ vào “lãnh cung”.

Tác giả của nó, cũng phải chịu hai chục năm tù tội, oan khuất.Người hát bài ca này là ca ca sĩ khả ái Đặng Lệ Quân bị cấm túc, không cho đặt chân lên đại lục.

Nguyên tác giả của bản tình ca này là nhạc sĩ Lưu Tuyết Am ngẫu hứng sáng tác theo điệu tango vào năm 1936, trong một buổi đại hội liên hoan tốt nghiệp lần thứ 4 của những sinh viển trường “Thượng Hải Quốc Lập Âm Nhạc Chuyên Khoa Học Hiệu”.

Mới đầu, ca khúc chưa có lời.

Đến năm 1937, trước khi xẩy ra sự kiện Lưu Câu Kiều vào ngày 7 tháng 7, là ngày quân Nhật phát động tòan diện cuộc xâm lăng Trung Quốc, công ty Nghệ Hoa Điện Ảnh ở Thượng Hải được công ty sản xuất kem đánh răng là Tam Tinh tài trợ, dự tính quay phim “Tam Tinh Bán Nguyệt –Nửa vành trăng khuyết ba sao giữa trời”, do nữ tài tử Chu Tuyền chủ diễn, và đạo diến là Phương Bái Lâm. Họ Phương liền xin nhạc sĩ Lưu Tuyết Am cho phép lấy bản tango “Hà Nhật Quân Tái Lai” đang thịnh hành, dùng làm nhạc đệm cho phim “Tam Tinh Bán Nguyệt”.Nhưng bản nhạc chưa có lời, đạo diễn họ Phương lại phải nhờ nhà sọan kịch của phim này là Hòang Gia Mô (ký tên là Bối Lâm) viết lời.

Bài ca diễn tả lời ca của một thiếu nữ hát tiễn biệt tình nhân trước ngày ra mặt trận.Nói lên sự bi hoan ly biệt, biểu đạt một nhân sinh quan, cho cuộc đời là ngắn ngủi, hãy kịp thời vui sống và hưởng lạc đi.

Đương nhiên nó là thiếu tính tích cực.Nhưng nếu đem cả nội dung của phim và lời ca phân tích, người ta chẳng tìm thấy tí ti gì là “nhạc vàng”, là “đồi trụy”, hay “phản động” cả.Đó chỉ sự biểu hiện một thứ tình cảm tư sản thường tình.Yêu nhau mà xa nhau thi buồn.Đời người ngắn ngủi, hãy mau vui đi.

Cổ kim thi nhân cũng đã chẳng từng đề cấp đến hay sao. Lý Bạch, trong bài Tương Tiến Tửu, đã từng viết:

Quân bất kiến Hòang Hà chi thủy thiên thượng lai

Bôn lưu đáo hải bất phục hồi.

Mới đầu, “Hà Nhật Quan Tái Lai” chỉ thuần túy là một khúc nhạc đệm cho điện ảnh.Hòan tòan không mang một ý đồ chính trị nào khác.

Năm 1937, người đầu tiên hát bài này là nữ tài tử chủ diễn phim “Tam Tinh Bán Nguyệt”,Chu Tuyền.Nhờ tiết tấu êm ái dịu dàng, dễ lọt vào tai thính giả.Thêm nữa, lời nhạc lãng mạng, ngọt ngào nên bản nhạc được lưu truyền một cách nhanh chóng.Từ đầu thôn cuối ngõ , người ta đua nhau hát một cách đắc ý.

Đến năm 1939, ca khúc “Hà Nhật Quân Tái Lai” lại được dùng nhạc đệm khi quay phim “Cô Đảo Thiên Đường 孤島天堂 ”, một phim thuộc lọai kháng chiến chống Nhật, do nữ tài tử Lê Lợi Lợi hát, để khuyến khích thanh niên lên đường tòng quân.

Đến năm 1941, lúc này cuộc xâm lăng Trung Quốc quân Nhật đã được bốn năm.Một số thành thị, một số địa khu đã bị chiếm đóng nằm dưới sự quản lý hành chánh của quân đội Nhật.Để chứng tỏ ở những khu vực bị chiếm đóng này, dân chúng vẫn được yên vui thanh bình, tâm lý chiến của Nhật đã tung ca khúc “Hà Nhật Quân Tái Lai” do một ca sĩ khả ái người Nhật , hóa danh là Lý Hương Lan(nguyên tên Nhật là Sơn Khẩu Thục Tử 山口淑子 ,bị Trung Hoa nghi ngờ là điệp viên)hát hàng ngày trên đài phát tháng. Lý Hương Lan mau chóng chiếm được cảm tình và sự ưu ái của dân chúng.

Ngòai bản Hoa văn, “Hà Nhật Quân Tái Lai” còn được Lý Hương Lan dịch ra Nhật văn để thâu vào đĩa nhựa.Bản Nhật văn này cũng được Lý Hương Lan hát và phổ biến đến các doanh trại của quân đội Nhật.Tất nhiên cũng được họ hoan nghênh nhiệt liệt.

Trong thời kỳ kháng chiến, chính phủ của Tưởng Giới Thạch dời đô đến Trùng Khánh, nhưng tại những vùng bị Nhật chiếm đóng “Hà Nhật Quân Tái Lai” được phổ biến rất rộng rãi.Những người dân tại vùng Nhật chiếm đóng, đua nhau hát “Hà Nhật Quân Tái Lai” để tỏ niềm khát vọng khu trừ được quân Nhật.

Thế là “Hà Nhật Quân Tái Lai”, từ một ca khúc bình thường, biến thành một ca khúc yêu nước, và vượt trội hẳn những ca khúc mang tính chất tuyên truyền chính trị khác và tồn tại đến ngày nay.

Tuy thế, trong già nửa thế kỷ tồn tại ấy, “Hà Nhật Quân Tái Lai” phải chịu một vận mệnh đầy oan khuất, bị cấm đóan, bị trù dập, đả kích.

Cũng trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, người Nhật phát hiện ra rằng “Hà Nhật Quân Tái Lai” được xử dùng làm nhạc đệm trong một phim chống Nhật.Lập tức nhà đương cục Nhật ra lệnh cấm, không cho hát bài này nữa.Họ lấy lý do là chữ “ quân 君” –(có nghĩa là anh, là mình) đọc thành chữ “quân 軍”, tức “quốc quân 國軍” (có nghĩa là quân của Quốc Dân Cách Mạng, kháng chiến).

Ít lâu sau thì cả bản Nhật văn cũng bị cơ quan kiểm tra của Nhật cấm.Họ cho là vì âm điệu của bài hát có tinh chất lê thê ủy mị, sẽ làm cho binh sĩ Nhật mất kỷ luật, nản lòng chiến đấu.Người Nhật còn nghi ngờ rằng, dân chúng Trung Hoa sống trong vùng Nhật chiếm đóng, thông qua bài hát này muốn bầy tỏ sự trông chờ quốc quân Trung Quốc đến giải phóng họ.

Đến cuối thời kỳ kháng chiến, ở Nam Kinh, Thượng Hải, quân đội Nhật biết rằng họ sắp thua trận.Nhưng thua thì thua, họ nẩy ra ý định thay đổi nhan đề của bài hát, sửa chữ “Hà 何” ra chữ “Hạ賀”, “Quân 君” trở thành “Quân軍”, và “Hà Nhật Quân Tái Lai-何日君再來-Bao giờ anh trở lại » biến thành « Hạ Nhật Quân Tái Lai-賀日君再來-Mừng quân Nhật trở lại », và cho phát thanh đêm ngày trên đài, như một lời ước hẹn trở lại của người Nhật.

Việc thay đổi lời ca như thế, ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến tâm lý quần chúng, nên những nhân viên tình báo của phe kháng chiến trong lòng địch bèn thông tin cho Trùng Khánh, thủ phủ của kháng chiến biết.Tưởng Giới Thạch bèn đích thân ra lệnh cấm hát bài ca này.Đồng thời những dĩa nhựa “Hà Nhật Quân Tái Lai”của công ty sản xuất chưa bán ra cũng bị tịch thâu để tiêu hủy.Các đài phát thanh thuộc phe kháng chiến cũng không còn hát “Hà Nhật Quân Tái Lai” nữa.“Hà Nhật Quân Tái Lai” đang từ điểm cực thịnh bị rơi xuống hố thẳm. Bị coi là nhục quốc thể.Bị cấm hát, im lìm, không còn được ai nhắc đến nữa.

Sau khi Nhật bại trận, năm 1952, khi Lý Hương Liên trở về Nhật Bản, mới lại đem “Hà Nhật Quân Tái Lai” ra hát lại và thâu vào đĩa nhựa, cả Nhật văn lẫn Hoa văn.

Năm 1966, hãng phim “Thiệu Thị Công Ty” tức công ty Shaw Brothers, từng sản xuất các phim nổi tiếng chiếu ở SaiGòn trước 1975, như “Độc Thủ Đại Hiệp”, “Long Hổ Quyết Đấu”… không biết Đài Loan có lệnh cấm bài “Hà Nhật Quân Tái Lai”, và cũng không biết Lưu Tuyết Am lúc đó đang bị Trung Cộng phê đấu, hành hạ, vì là tác giả của bài hát này, Thiệu Thị Công Ty cho quay một bộ phim mang tên “Hà Nhật Quân Tái Lai” cùng với tên bài hát, nhưng may mắn không bị cấm.Ngay cả phim “Lam Dữ Hắc” của Lâm Đại cũng dùng “Hà Nhật Quân Tái Lai” làm nhạc đệm mà cũng không bị nhà cầm quyền Đài Loan để ý xử lý.

Đến năm 1980, “Hà Nhật Quân Tái Lai” mới hòan tòan được Đài Loan tháo giây cởi trói, cho phép hát lại.Lúc đó, ca sĩ Đặng Lệ Quân đem bài hát này chỉnh biên lại, nhờ thế, “Hà Nhật Tân Tái Lai” được rời khỏi “lãnh cung” ra với quần chúng.
Hà Nhật Quân Tái Lai – Đặng Lệ Quân ( Teresa Teng )

Hà Nhật Quan Tái Lai du nhập Việt Nam vào năm nào?

tôi không hề đặt câu hỏi về xuất xứ của câu hát này, và bài “Hà Nhật Quân Tái Lai” đã được du nhập vào Việt Nam như thế nào, vào năm nào.Đây là một câu hỏi, chúng tôi không có tai liệu để trả lời.Cũng may, một ông bạn già vong niên, trong lúc trà dư tửu hậu ở quán thịt dê, đã cho tôi biết là ông đã từng được nghe bài “Hà Nhật Quân Tái Lai” vào đầu thập niên 1940, khi đó ông còn trẻ, lúc ông mới bước chân vào ngưỡng cửa Thành Chung.

Thời bấy giờ, “Hà Nhậtt Quân Tái Lai” là bài hát khá thịnh hành trong các vũ trường, hộp đêm.Ông còn nhớ được, tuy không chắc chắn đầy đủ, lời tiếng Việt của bài hát đại để này như sau :

Bao Giờ Anh Trở Lại

Đi để lại hình bóng

Gợi nhớ thương dào dạt trong lòng,

Em nhắn nhủ thời gian

Đem đến trả tình quân

Ai biết chăng êm đềm gió thu

Ai biết cho lòng em âu sầu

Như lá thu vàng vừa rơi

Lướt trên hồ đằng xa

Còn mong sẽ có một tương lai nữa nhỉ

Giữ duyên khỏi phai

Mai kiếp phong trần lôi kéo đời

Em nhắn nhủ tình quân

Đi lại một kỳ tới xuân

Dĩ nhiên, chắc chắn đây không phải là lời dịch của bài “Hà Nhật Quân Tái Lai”, nhưng ý và lời Việt của bài hát này cũng mang đầy tính lãng mãng như lời của nguyên bản.Lời ca cứ như quấn quýt quện vào nhau, không rời.Nói lên được sự quyến luyến triền miên của người con gái trước lúc chia tay từ giã người tình.Đúng là :

”Nhất cú ly ca nhất độ sầu-一句离歌一度愁”

Đây là một bài viết mua vui, viết để đáp lại câu hỏi của người bạn già tóc trắng, cùng một số bằng hữu của ông, muốn tìm hiểu về lai lịch của bài “Hà Nhật Quân Tái Lai”. Và cũng để tạ cái tình ông đã “khởi động” cho tôi sống lại một kỷ niệm về một câu hát của tuổi thơ ấu năm xưa.

CHÚ THÍCH

Dương Quan 陽 關

Là tên một cửa quan một cửa quan, nằm cách thành phố Đôn Hòang tỉnh Cam Túc, hơn bẩy mươi cây số về phía tây.Mới đầu, cửa quan này được cất dưới triều đại của Hán Võ Đế.Nhân vì Dương Quân nằm ở phía nam của Ngọc Môn Quan, nhân thế mà thành tên Dương Quan (ngày xưa vùng đất phía nam của núi thì gọi là dương 陽).Vì thế, Dương Quan và Ngoc Môn Quan được xưng là Nhị Quan

Dương Quan được coi là yết hầu của đường giao thông cổ xưa đến Tây Vực, Đồng thời,« Dương Quan » cũng là tên gọi của một ca khúc, gọi tắt từ tên « Dương Quan Tam Điệp »,bắt nguồn từ bài thơ được phổ nhạc của Vương Duy là « 送元二使安西 –Tống Nguyên Nhị SứAn Tây» 

Phạm Xuân Hy

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s