Nhân vụ vỡ đập thuỷ điện Xepian-Xe Nam Noy của Lào(đang trong tiến trình thành thuộc địa của Tàu)

docbao1

Lào vẫn im lặng hai tuần sau tai họa vỡ đập thủy điện Xepian-Xe Nam Noy

RFI
mediaNgười dân Lào rời khu vực bị ngập lụt do vỡ đập thủy điện Xepian-Xe Nam Noy ở tỉnh Attapeu, Lào, ngày 26/07/2018.REUTERS/Soe Zeya Tun

Hơn hai tuần sau vụ vỡ đập thủy điện ở đông nam nước Lào, Vientiane vẫn chưa công bố thiệt hại nhân mạng. Chính phủ Lào khẳng định có 30 người chết nhưng dân làng cho biết thiệt hại nặng hơn nhiều, có thể trên 150 người. Vì sao nhà nước bưng bít thông tin ?

Từ Bangkok, thông tín viên Arnaud Dubus phân tích :

« Từ hàng chục năm nay, chính phủ Lào đặt hết hy vọng vào sản xuất thủy điện nhờ vào các đập xây trên sông Mêkông và các chi lưu. Mục tiêu của đất nước cộng sản nghèo với 7 triệu dân là làm mọi cách để trở thành « bình điện của Đông Nam Á » theo một khẩu hiệu tuyên truyền chính thức. Nói cách khác, Lào muốn cung cấp điện cho tất cả các quốc gia láng giềng, đặc biệt là Thái Lan, nhờ vào khoảng 100 đập đã hoặc đang được xây dựng.

Tuy nhiên, vụ đập Xepian-Xe Nam Noy bị vỡ hồi cuối tháng 7 là hậu quả bi thảm của đường lối phát triển với guồng máy nhân sự kém cỏi. Nếu tai nạn xảy ra ở một trong những đập xây trên dòng sông chính Mêkông, thiệt lại sẽ vô cùng to lớn.

Mặc dù vụ vỡ đập gây nhiều thiệt hại nhân mạng, chính phủ Lào từ chối nhìn nhận trách nhiệm của mình mà đổ lỗi cho công ty đối tác Hàn Quốc.

Cũng trong chiều hướng che dấu thông tin, Vientiane cấm phóng viên báo chí đưa tin về hệ quả tai nạn. Thái độ không minh bạch, không nhìn nhận sự thật, thể hiện mối lo sợ của chính phủ Lào e rằng chiến lược thủy điện bị xem xét lại. Một chiến lược mang lại lợi nhuận cho thành phần có đặc quyền tại nước Lào nhưng rất tai hại cho dân làng ».

Lào : Hơn 1.100 người mất tích trong vụ vỡ đập thủy điện

mediaMột khu vực bị chìm trong nước và bùn ở tỉnh Attapeu, do đập thủy điện Xe-Namnoy vỡ. Ảnh chụp ngày 25/07/2018.MIME PHOUMSAVANH/via REUTERS

Chính quyền Lào cho biết số người mất tích trong vụ đập thủy điện bị vỡ đã lên đến trên 1.100 người. Đội ngũ cứu hộ ngày 28/07/2018 vẫn đang chiến đấu với bùn và nước lũ để tìm kiếm những người sống sót.

Phó bí thư tỉnh Attapeu, bà Meenaporn Chaichompoo, khẳng định : « Chúng tôi vẫn đang tìm kiếm 1.126 người bị mất tích. Công việc rất phức tạp, ở nhiều vùng tàu, xe không thể vào được, và thiếu thốn trang bị tại chỗ ».

Con số cụ thể về số người thiệt mạng vẫn chưa rõ, do tính chất phức tạp của công tác cứu hộ tại vùng đất hiểm trở, và chính quyền tỏ ra thiếu minh bạch trước thảm họa chưa từng thấy. Ban đầu chính quyền Lào loan báo có 27 người chết, nhưng sau đó địa phương khẳng định chỉ có 6 và không giải thích gì thêm.

Sau khi đập Xe-Namnoy bị sụp đổ, một khu vực hàng mấy chục cây số đã bị tràn ngập bùn. Nước rút đi quá chậm khiến một số làng bị cô lập vì lớp bùn dày bao phủ. Một tình nguyện viên cho AFP biết chưa bao giờ thấy tình trạng tệ hại như vậy, nhất là Lào rất thiếu trang thiết bị cứu hộ.

Thảm họa vỡ đập gây lo ngại về tính vững chắc của nhiều đập thủy điện khác tại Lào. Đa số đập do các công ty nước ngoài xây dựng, chính quyền Lào không đủ chuyên môn và năng lực để phát hiện những khiếm khuyết. Hàn Quốc, một trong những nước có liên quan đến đập thủy điện vừa bị vỡ, hôm 27/07 loan báo viện trợ khẩn cấp một triệu đô la cho Lào, phân nửa bằng tiền và phân nửa bằng hiện vật.

Lào : Vỡ đập thủy điện khiến nhiều người chết, hàng trăm người mất tích

mediaBản đồ tỉnh Attapeu, phía đông nam Lào(Internet)

Nhiều người chết và hàng trăm người còn bị xem là mất tích hôm nay, 24/07/2018, tại Lào, một ngày sau khi một đập thủy điện đang xây dựng bị vỡ, xả ra năm tỷ mét khối nước, theo hãng tin chính thức của nước này.

Đập thủy điện Xe-Pian Xe-Namnoy , nằm tại tỉnh Attapeu, miền đông nam Lào, cách không xa biên giới với Việt Nam, đã bị sập vào tối qua, phá hủy nhiều ngôi nhà. Đây là dự án của một liên doanh Thái Lan- Hàn Quốc – Lào, với kinh phí lên tới hơn 1 tỷ đôla, được xây dựng từ năm 2013. Với công suất dự trù là 410 megawatt, đập này theo dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất điện từ năm 2019. Theo giải thích của công ty đặc trách việc xây dựng đập, nguyên nhân của tai nạn là do mưa liên tục khiến lượng nước tích tụ quá nhiều.

Hàng chục đập thủy điện đang được xây dựng tại Lào, đa số là với vốn đầu tư của Trung Quốc, với phần lớn nguồn thủy điện này được xuất sang các nước láng giềng, nhất là sang Thái Lan. Từ nhiều năm qua, các tổ chức bảo vệ môi trường vẫn rất lo ngại về tham vọng sản xuất thủy điện của Lào, đặc biệt là về tác động của các đập trên sông Mêkông đối với động thực vật, các cộng đồng dân cư và kinh tế địa phương phụ thuộc vào con sông này.

Gây lo ngại nhiều hơn cả là đập Xayaburi, do một tập đoàn của Thái Lan đang xây dựng, với kinh phí lên tới 3,5 tỷ đôla và công suất dự kiến 1.285 megawatt. Công trình này đang gây chia rẽ giữa các nước vùng sông Mekong.

Mêkông : Ủy Hội MRC dần thừa nhận hậu quả đáng sợ của thủy điện?

mediaĐập thủy điện trên thượng nguồn khiến phù sa ít về đến đồng bằng Cửu Long, là một nguyên nhân gây sụt lở, nước mặn thâm nhập. Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long – MêkôngDR

Hội nghị thượng đỉnh hợp tác tiểu vùng Mêkông mở rộng (GMS) lần thứ 6 tại Hà Nội vừa khai mạc ngày 29/03/2018, sẽ diễn ra đến ngày 31/3. Chính phủ Việt Nam coi đây là một sự kiện ngoại giao « quan trọng hàng đầu », cho phép mở rộng hợp tác giữa các nước trong tiểu vùng. Mêkông, « dòng sông mẹ » của dân cư Đông Nam Á lục địa, được hy vọng trở thành cầu nối cho hợp tác và phát triển bền vững của khu vực. Tuy nhiên, kế hoạch xây hơn 100 đập thủy điện trên dòng sông trong đó có 11 đập trên dòng chính, cộng với các đập khổng lồ đã có tại Trung Quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước, nguồn cá, nguồn phù sa… đe dọa tương lai của hạ lưu.

Một số nghiên cứu mới đây tái khẳng định viễn cảnh đen tối này. Phát triển thủy điện trên Mêkông có thể mang lại chút ít lợi nhuận, nhưng tổn hại là khôn lường. Tiếng nói của các nhà khoa học, giới bảo vệ môi trường, sau một thời gian bị gạt sang lề, dường như đang dần được giới cầm quyền lắng nghe.

RFI xin giới thiệu trước hết các nhận định của nhà báo Tom Fawthrop, người gắn bó từ 30 năm nay với vùng Đông Nam Á. Trong bài viết, được đăng tải trên trang mạng của viện tư vấn Lowy, nhà báo Anh nhấn mạnh đến nghiên cứu « tiên phong » của một ê-kíp quốc tế, đặt cơ sở tại Trung tâm nghiên cứu về quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường (NREM), ở Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai, Thái Lan.

Đánh giá quá cao lợi nhuận do thủy điện

Hồi 2011, Ủy Hội Sông Mêkông – cơ quan tư vấn liên chính phủ của bốn nước hạ nguồn Mêkông, gồm Việt Nam, Lào, Cam Bốt và Thái Lan – đã đưa ra con số lợi nhuận hơn 30 tỉ đô la, thu được từ các đập thủy điện, với 11 con đập được xây dựng. Theo nghiên cứu của nhóm Đại học ở Chiang Rai, Thái Lan, thiệt hại tổng hợp do mất nguồn cá, phù sa, và các tác động xã hội khác, là « cao hơn nhiều so với lợi nhuận từ thủy điện ».

Các dự án đập trên dòng Mêkông (màu đen là đã xây xong)Ảnh: International Rivers

Trong khi đó nghiên cứu về « Đánh giá hệ quả kinh tế của các dự án đập thủy điện tại vùng hạ lưu sông Mêkông», được ê-kíp NREM (Đại học Mae Fah Luang, Chiang Rai, Thái Lan) tiến hành hồi năm ngoái, cập nhập đầu năm nay, cho thấy thiệt hại tổng thể về kinh tế cho 50 năm tới, nếu toàn bộ 11 dự án đập hoàn tất và đi vào hoạt động, là hơn 7 tỉ đô la (tức âm 7 tỉ đô la so với dự kiến lãi hơn 30 tỉ). Nhà kinh tế Anh David Wood, một trong các thành viên của nhóm nghiên cứu, phê phán các nghiên cứu tiền khả thi của Ủy Hội Sông Mêkông (MRC – MekongRiver Commission), là đã dựa trên « nhiều giả thuyết sai lầm » và đã « đánh giá thấp (các hậu quả), trong khi lại đánh giá quá cao thu nhập từ bán điện do các đập sản xuất ra » (1).

Tuy nhiên, từ đó, Ủy Hội Mêkông đã có một số thay đổi trong đánh giá tác động. Năm 2016, Ủy Hội Mêkông đã công bố một nghiên cứu khác, điều chỉnh lại các tính toán, theo đó lượng cá sông tự nhiên đánh bắt tại bốn nước Mêkông trị giá 11 tỉ đô la. Cam Bốt có nguy cơ là nước bị thiệt hại nặng nhất về mặt này, bởi cá là 80% nguồn protein hàng năm của người dân xứ Chùa tháp, trị giá tới 12% GDP nước này.

Theo nhà báo Tom Fawthrop, Ủy Hội Mêkông đã tiếp tục có một số tiếp thu trong báo cáo đánh giá tác động mới, được công bố hồi tháng 2/2018. Báo cáo rất được trông đợi này cho thấy dường như Ủy Hội Mêkông đang dần dần hướng đến thừa nhận « các hệ quả thảm khốc» của các đập thủy điện, và dường như đang trên đường đi đến chỗ khẳng định các đánh giá lạc quan trước đây là sai lầm. Điều phối viên nghiên cứu của MRC, ông Suthy Heng, cho nhà báo Anh biết đã bổ sung thêm hai kết quả nghiên cứu mới vào điều tra của Ủy Hội, do nhiều ưu điểm « về phương pháp luận » cũng như « về dữ liệu ».

Cần tính đủ các « dịch vụ sinh thái »

Nhà báo Tom Fawthrop nhấn mạnh đến tầm quan trọng của phương pháp luận « dịch vụ sinh thái » có thể dẫn đến những thay đổi có tính quyết định trong việc đánh giá tác động của các đập thủy điện đến hạ lưu.

Trước đây trong các tranh luận về hệ quả của đập thủy điện, trong giới chuyên gia, người ta rất ít thừa nhận rằng, ngoài nguồn lợi về cá, dòng sông có thể mang lại « nhiều dịch vụ sinh thái » khác, như về chất lượng y tế, về phương tiện vận tải, du lịch, về môi trường thiên nhiên… Nghiên cứu về « các dịch vụ sinh thái » là một nhánh còn tương đối mới của khoa kinh tế học.

Nhà báo Tom Fawthrop nhấn mạnh là việc áp dụng tiếp cận « dịch vụ sinh thái », tính đến các lợi ích sâu xa và nhiều mặt của dòng Mêkông, cho phép mở ra một hướng đi mới, thách thức lập trường kinh tế và chính sách « chủ lưu », có khuynh hướng « chật hẹp » hiện nay.

Theo một chuyên gia về đập thủy điện trên dòng Mêkông, ông Apisom Intralawan, thì cho dù các nghiên cứu theo quan điểm « dịch vụ sinh thái » có thể còn thiếu dữ liệu chính xác, thế nhưng có một thái độ « thận trọng » trong đánh giá chắc chắn « vẫn tốt hơn nhiều » so với thái độ coi giá trị dịch vụ của dòng sông chỉ là số không. Mà trong khi chưa tính hết được các thiệt hại (2), thì quan điểm nên dừng lại để chờ đợi vẫn là khôn ngoan, sáng suốt hơn cả. Không đợi đến lúc mất bò mới lo làm chuồng.

Điện mặt trời hạ giá đẩy thủy điện vào thua lỗ

Bên cạnh tiếp cận dịch vụ sinh thái, một nhân tố mới cũng đang khiến vấn đề thủy điện và môi trường Mêkông có thể có những diễn biến đột phá trong thời gian tới. Đó là xu hướng các nguồn năng lượng tái tạo đang ngày càng trở nên phổ cập, bởi giá rẻ, dễ vận hành, có thể không xa sẽ là nguồn thay thế cho thủy điện. Đình hoãn các đập thủy điện là chính sách «ít mạo hiểm nhất » và « con đường duy nhất » để bảo vệ nghề cá và đời sống cư dân hạ lưu, nhà báo Tom Fawthrop kết luận.

Về ý tưởng này, trả lời RFI, nhà nghiên cứu độc lập về môi trường Nguyễn Hữu Thiện (Cần Thơ) giải thích thêm, ông đồng thời đặc biệt nhấn mạnh đến góc độ thiệt hại về phù sa do thủy điện đe dọa sự sống còn của đồng bằng Cửu Long, đến ổn định xã hội tại khu vực đầu tầu kinh tế của Việt Nam :

« Gần đây vào tháng 2/2018 chúng ta đều biết là Thái Lan đã tạm hoãn hợp đồng mua điện từ đập Pak Beng để rà soát lại Quy Hoạch Điện của Thái Lan. Kết quả chưa biết thế nào, nhưng nếu Thái Lan mà không mua điện từ các đập của Lào, thì các đập này khó mà xây dựng được thêm nữa, vì không có thị trường bán điện.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thiện (Cần Thơ)30/03/2018Nghe

Trong tình hình năng lượng mặt trời đang trở thành xu hướng trên thế giới hiện nay, thì giá thành giảm rất nhanh và công nghệ để lưu trữ năng lượng mặt trời và hòa vào mạng lưới đã có, tôi cho rằng chỉ trong vòng 5-10 năm nữa thì thủy điện sẽ không thể cạnh tranh được. Do đó, nếu các đập thủy điện vẫn được xây dựng, thì các nhà đầu tư sẽ thua lỗ và bỏ chạy, nhưng khi đó thì dòng sông Mêkông và đời sống hàng chục triệu người đã bị hủy hoại rồi, sẽ rất đáng tiếc.

Đẩy mạnh điện mặt trời, điện gió để cứu đồng bằng Cửu Long

Các chính phủ trong vùng Mêkông vì vậy nên nghiêm túc xem xét việc đầu tư vào phát triển năng lượng mặt trời và điện gió trong vùng này để thay thế cho thủy điện.

Nếu vẫn tiếp tục xây dựng các đập thủy điện, đồng bằng sông Cửu Long sẽ gia tăng sạt lở, hiện nay đang sạt lở dữ dội rồi (3). Có thể đến cuối thế kỷ thì 50% diện tích đồng bằng sông Cửu Long sẽ biến mất khỏi bản đồ do sạt lở. Tác động đối với đồng bằng sông Cửu Long có thể dẫn đến những bất ổn về xã hội, do đó điều này nên được xem như một vấn đề an ninh phi truyền thống của khu vực, trong đó ASEAN và cộng đồng quốc tế nên quan tâm. Các quốc gia phát triển là đối tác của khu vực Mêkông và các định chế tài chính quốc tế như Ngân Hàng Thế Giới, Ngân Hàng ADB, nên thành lập quỹ Mêkông để thúc đẩy đầu tư vào năng lượng mặt trời và gió, trong khu vực Mêkông để thay thế thủy điện ».

Một trạm điện gió ven biển tỉnh Bạc Liêu, đồng bằng Cửu Long, Việt Nam.Ảnh chụp màn hình

RFI xin cảm ơn tiến sĩ Lê Anh Tuấn và nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thiện

—-

(1) Về phần mình, nhìn chung, nhà nghiên cứu môi trường Nguyễn Hữu Thiện tỏ ra rất dè dặt trước các kết quả nghiên cứu quy mô lớn tiến hành tại Việt Nam, của bộ Tài Nguyên và Môi Trường (TN&MT) và của Ủy Hội Mêkông. Theo ông, nghiên cứu của bộ TN&MT thuê công ty DHI thực hiện, dựa chủ yếu vào việc chạy mô hình máy tính từ xa, mà thiếu hiểu biết thực tế, nên đánh giá thấp các tác động với đồng bằng Cửu Long. Nghiên cứu của Ủy Hội Mêkông mới đây cũng gây thất vọng vì đánh giá sai lệch tác động, đưa ra những kết luận có thể nói là « phán bừa, phán ẩu ». Ví dụ như : cho rằng cá suy giảm do giảm nguồn dinh dưỡng từ phù sa là rất ít, vì được bù lại bằng dinh dưỡng từ nước thải đô thị và phân bón nông nghiệp. Một kết luận, theo ông, hoàn toàn thiếu cơ sở khoa học. Hay khi đánh giá về tác động về kinh tế xã hội, báo cáo chỉ xét tác động trong hành lang 15 km hai bên sông, như vậy không thể đánh giá được tác động tổng thể, đặc biệt về vấn đề sạt lở bờ biển.

(2) Trả lời RFI qua thư điện tử, tiến sĩ Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu, Cần Thơ) nhận định : hậu quả của chuỗi thủy điện đã được nhiều nhà khoa học và các tổ chức xã hội cảnh báo. Tuy nhiên để định lượng các thiệt hại cho từng lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, phù sa, sinh thái, kinh tế xã hội thì không đơn giản vì nhiều lý do. Như dữ liệu đầu vào không đầy đủ (Trung Quốc từ chối cung cấp số liệu quá trình vận hành chuỗi đập thủy điện phía họ, thiếu thông tin về thỏa thuận mua bán điện, vận hành nhà máy, số liệu về cá – sinh thái – xã hội không nhất quán …), hiểu biết của chuyên gia về vấn đề Mêkông và hệ sinh thái – yếu tố xã hội bị hạn chế, trong các kịch bản tương lai có nhiều yếu tố không chắc chắn và quá nhiều giả định thiếu kiểm chứng…

(3) Theo nghiên cứu của Kondolf (2014), các đập trên thượng nguồn Mêkông, mà Trung Quốc gọi là sông Lan Thương, đã khiến dòng Mêkông mất đi đến 50% lượng phù sa (160 triệu tấn/năm trong những năm 1990 xuống còn 80 triệu). Nếu toàn bộ 11 đập tại Lào và Cam Bốt được xây, Mêkông sẽ mất gần hết phần phù sa còn lại (nghiên cứu của UNESCO và Viện Môi Trường Stockholm). Chỉ tính về kinh tế bề nổi, lượng phù sa/dưỡng chất nói trên khiến Việt Nam thiệt hại ít nhất 450 triệu đô la/năm (Bộ Tài Nguyên Môi Trường Việt Nam).

  • Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông

    Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông

    Vùng Thác Khone (xứ sở 4.000 hòn đảo), gần đập Don Sahong.Ảnh Mạng sông ngòi quốc tế (International Rivers)

    Tình hình trên con sông Mêkông xuyên qua bốn nước Đông Nam Á lục địa lại nóng lên, với việc chính phủ Lào chính thức khởi công xây dựng con đập thứ hai Don Sahong trên dòng chính, vào đầu tháng 10/2013, tiếp theo đập Xayaburi tai tiếng. Sau tin này, nhiều tổ chức bảo vệ môi trường quốc tế và khu vực đã đồng loạt lên án.

    Vì sao dự án đập Don Sahong lại bị phản đối mạnh ? Nếu được xây dựng, con đập này để lại những hệ quả gì cho khu vực hạ lưu ? Ủy hội sông Mêkông và chính phủ các nước thành viên, đặc biệt là Việt Nam và Lào có vai trò gì trong vấn đề này ? Giới khoa học và môi trường Việt Nam phản ứng ra sao ? Đây là những câu hỏi đặt ra trong tạp chí Khoa học của RFI tuần này.

    Khách mời của tạp chí Khoa học RFI trong chương trình hôm nay là Giáo sư Võ Tòng Xuân (nguyên Hiệu trưởng Đại học An Giang), Tiến sĩ Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ), cố vấn Mạng Lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), Thạc sĩ Lê Thị Thu Sửu, điều phối viên Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam và Ông Trần Anh Thư, Phó giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh An Giang. 

    Xứ sở thần tiên 4.000 hòn đảo : Yết hầu của dòng Mêkông

    Dự án Don Sahong là một trong hơn 10 dự án đập thủy điện trên dòng chính hạ lưu Mêkông, chủ yếu là trên đất Lào. Mặc dù, Don Sahong là đập tương đối nhỏ, dự kiến công suất chừng 260 MW, tức là chỉ bằng khoảng một phần năm công suất của đập Sayaburi, nhưng việc xây dựng đập này gây một chấn động hết sức lớn, bởi vị trí hết sức đặc biệt của Don Sahong.

    Don Sahong nằm trong khu vực Siphandone (hay “Si Phan Don“), tỉnh Champasak (miền nam Lào), chỉ cách biên giới Lào – Campuchia khoảng 1km. Si Phan Don trong tiếng Lào có nghĩa là « xứ sở của 4.000 hòn đảo ». Chính tại đây dòng sông Mêkông trên cao nguyên Bolaven (Nam Lào) chia thành nhiều nhánh lớn, trước khi đổ xuống đồng bằng Cam Bốt qua nhiều thác nước, ghềnh nước, nổi tiếng với tên gọi chung là « Thác Khone », cao hơn 20 mét, với bề ngang tổng cộng khoảng 10 km (được coi là thác nước lớn nhất vùng Đông Nam Á).

    « Don Sahong » là tên một trong các hòn đảo lớn, nơi dự kiến xây đập. Dọc theo Don Sahong là một hẻm nước cùng tên (« Hoo Sahong ») dài khoảng 5 km. Chính tại hẻm này mà dự án đập bị phản đối đang bắt đầu được chính phủ Lào cho xúc tiến xây dựng.

    Ngày 01/11/2013, Liên minh cứu sông Mêkông (The Save the Mekong Coalition), gồm 19 tổ chức khoa học, hiệp hội bảo vệ môi trường nổi tiếng của thế giới và khu vực, đã gửi thư ngỏ đến Thủ tướng bốn nước Cam Bốt, Lào, Thái Lan và Việt Nam – bốn quốc gia thành viên Ủy hội sông Mêkông (MRC) – yêu cầu ngừng ngay dự án xây đập Don Sahong, đồng thời kêu gọi các công dân trong khu vực tham gia ký tên. Trong Liên minh cứu sông Mêkông có Mạng lưới Sông ngòi Quốc tế (IRN/ International Rivers Network), Quỹ bảo vệ thiên nhiên (WWF/ Worldwide Fund for Nature), hay Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VNR)…

    Ngày 16/11, Viet Ecology Foundation (VEF), một tổ chức NGO về môi trường có trụ sở tại California, Hoa Kỳ, cũng có một thư ngỏ gửi Thủ tướng Lào yêu cầu ngưng dự án đập, đặc biệt chỉ trích bản báo cáo tác động môi trường của công ty National Consulting Company, cố vấn cho chủ thầu Mega First Corporation (phụ trách xây đập Don Sahong), phủ nhận các tác động trên ngư sinh của đập này và không thẩm định tác động xuyên biên giới xuống hạ lưu trên lãnh thổ Cam Bốt và Việt Nam.

    Cá mất, nước kiệt…

    Trước hết xin mời quý vị nghe tiếng nói của bà Lâm Thị Thu Sửu, điều phối viên Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam.

    Lâm Thị Thu Sửu : Khi chúng tôi nhận được tin chính phủ Lào sẽ xây đập Don Sahong trên dòng Mêkông, thì chúng tôi rất là lo ngại về tác động và ảnh hưởng của đập này đối với khu vực hạ lưu Mêkông, đặc biệt là các cộng đồng ngư dân ở Campuchia và nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam.

    Đã có những nghiên cứu cụ thể về các tác động do việc đập Don Sahong nếu được xây dựng sẽ ảnh hưởng đến đường di cư của cá. Nó sẽ chặn đường di cư của cá, từ thượng lưu cho đến hạ lưu và ngược lại, và nó sẽ hạn chế nguồn cá về Biển Hồ – Tongle Sap (Campuchia) và đồng bằng Cửu Long Việt Nam. Ngoài ra, nếu tính tới các tác động tích lũy cộng dồn, nếu xây đập Don Sahong này, nằm trong hệ thống 12 đập trên dòng chính Mêkông, thì mức độ của nó càng nghiêm trọng hơn, lượng phù sa cho việc trồng lúa ở đồng bằng Cửu Long cũng bị ảnh hưởng rất nặng nề.

    Dòng Mêkông, Cam Bốt : Cá heo nước ngọt Irrawaddy, trong danh sách đỏ các động vật có nguy cơ tuyệt chủng.Photo : WWF

    Về tác hại của các đập thủy điện trên dòng chính Mêkông, giáo sư Võ Tòng Xuân đặc biệt nhấn mạnh đến nạn thiếu nước tại đồng bằng Cửu Long.

    Võ Tòng Xuân : Hiện nay, nước ở đồng bằng Cửu Long để phục vụ cho vụ đông xuân đã bắt đầu thiếu rồi. Chúng ta thấy trong mùa khô, nước ngọt thiếu nên nước mặn vào khá sâu phía trong. Nếu mà có thêm những đập mới nữa, thì tôi e nước sông Cửu Long sẽ càng thiếu hơn, khiến vụ đông xuân sẽ bị ảnh hưởng có thể rất tồi tệ.

    Bản đồ các vùng nhiễm mặn tại đồng bằng Cửu Long – MêkôngDR

    Chúng ta biết hiện nay, ngoài các đập Trung Quốc làm ở Vân Nam, thì đập Sayaburi đang được thực hiện. Năm năm gần đây, ở Đông Bắc Thái Lan cũng đang được mở rộng, để trồng các giống lúa ngắn ngày trong mùa khô. Và hiện nay, tại vùng miền nam của Lào, nhất là ở tỉnh Champasak, thì chính phủ Lào đang cho mở rộng lúa mùa khô. Đồng thời bên Campuchia lúa vụ đông xuân cũng đang được mở rộng.

    Bỏ tham vấn láng giềng : Lào nại cớ « dòng nhánh »

    Theo nhiều nhà quan sát, điều gây bất ngờ và phản đối mạnh trong dự án xây đập Don Sahong là phía Lào đã bỏ qua giai đoạn « Tham vấn trước », điều phối viên Mạng Lưới Sông Ngòi Việt Nam Lâm Thị Thu Sửu cho biết.

    Lâm Thị Thu Sửu : Hiệp định Mêkông năm 1995 nói rõ rằng tất cả các dự án có sử dụng nước trên dòng chính Mêkông, thì đều phải áp dụng một quy trình gọi là quy trình thông báo, tham vấn trước và thỏa thuận, tiếng Anh gọi là PNPCA. Các tài liệu từ trước đến nay cho biết rằng đập Don Sahong là một trong 12 đập trên dòng chính Mêkông, tức là nó phải tuân thủ quy trình này. Tuy nhiên, Lào cho rằng, đập Don Sahong chỉ nằm trên một dòng nhánh của Mêkông, và họ chỉ có việc thông báo cho các thành viên trong Ủy hội này.

    Là một người theo dõi sát các diễn biến xung quanh các nghiên cứu về hệ quả xây đập đối với dòng Mêkông và vai trò của Ủy hội sông Mêkông, cũng từ phía chính phủ Việt Nam và xã hội dân sự Việt Nam, ông Trần Anh Thư chia sẻ.  

    Trần Anh Thư : Nói chung cái chủ đề này đã làm rất nhiều hoạt động, ví dụ thông qua một số dự án, do các nhà tài trợ của MCA (Mỹ), cũng đã có tập hợp lại các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, người nông dân, để đánh giá các tác động, ảnh hưởng của các đập thủy điện đối với môi trường sinh thái, an sinh đối với người dân ở khu vực hạ lưu. Từ những báo cáo đó, chúng tôi cũng tập hợp, đề xuất cho Ủy ban sông Mêkông quốc tế, rồi đề xuất cho chính phủ Việt Nam. Bộ Tài nguyên – Môi trường, cơ quan chủ quản, thì cũng đã thuê đánh giá tác động của thủy điện. Đồng thời ở góc độ cộng đồng (các nước hạ lưu Mêkông) cũng đã hình thành một trang web về Mêkông : savethemekong.org, ở đó cũng có đưa ra các diễn đàn.

    Ủy hội Mêkông thiên vị thủy điện

    Tuy nhiên tôi thấy rằng, tất cả những việc này cũng chỉ ở mức độ đánh động thôi. Nếu về chính thức, Ủy ban sông Mêkông cũng có một chương trình nghiên cứu, đánh giá tác động môi trường của các đập thủy điện trên dòng Mêkông. Tôi đã dự rất nhiều hội nghị về cái này, thì tôi cho rằng các báo cáo này chưa đánh giá hết được tác động, mà có vẻ vẫn còn thiên lệch, nghĩa là còn bênh vực cho quan điểm xây dựng các đập thủy điện. Hiện nay, chính phủ Việt Nam đã có một nghiên cứu khác, đánh giá tác động môi trường mang tính độc lập hơn về các đập thủy điện.

    Bản thân tôi cho rằng, vấn đề quản lý tài nguyên nước của Mêkông, thì phải học hỏi kinh nghiệm của Úc (lưu vực Murray-Darling), của Châu Âu trên lưu vực sông Danube. Họ cũng đã có những bài học trả giá cho vấn đề này, và hiện nay họ cũng đã tìm được giải pháp tốt trên tinh thần chia sẻ nguồn lợi của tài nguyên bình đẳng và các nước cùng có lợi, thì mới ra được kết quả tốt. Vấn đề là phải ngồi lại với nhau, để chia sẻ tài nguyên nước, trên tinh thần các nước đều được hưởng lợi và bảo đảm an toàn về tài nguyên nước cho hạ lưu.

    Bi quan bao trùm

    Về triển vọng tìm ra một giải pháp mang tính công bằng, hợp lý trong vấn đề các dự án đập thủy điện trên sông Mêkông, cũng như nhiều nhà khoa học khác, Giáo sư Võ Tòng Xuân có tâm trạng bị quan về khả năng tác động đến quyết định xây đập của Lào.

    Võ Tòng Xuân : Cái này không tác động được, tại vì ngay đập Xayaburi kia, thì cả thế giới cũng đã lên tiếng, Việt Nam cũng lên tiếng, nhưng mà cuối cùng họ cũng tiếp tục làm. Mình cũng không thể cấm họ được. Giống như các con đập trên sông Cửu Long ở phần Vân Nam (Trung Quốc) cũng thế. Mặc dầu, dư luận liên tục cảnh báo những nguy cơ của nó. Không có một sức mạnh nào, một cái cơ quan pháp luật nào, để mà ngăn không cho họ làm hết. Chỉ hy vọng là dư luận quốc tế nói lên thêm, đồng thời những cơ quan cho vay tiền để thực hiện những công trình đó, thì chính các cơ quan đó cũng phải thấy rằng họ cũng có một phần tham gia trong cái tác hại này, họ sẽ phải nghĩ kỹ, trước khi cho vay để thực hiện những cái đập này.

    Giáo sư Võ Tòng Xuân và nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường khác, dù thất vọng, nhưng đặt hy vọng ít nhiều vào các ảnh hưởng từ phía các định chế quốc tế và sự thức tỉnh của các cơ sở cấp tín dụng cho những dự án xây đập, trong bối cảnh Ủy hội sông Mêkông và các chính phủ dường như đều tỏ ra bất lực, trước việc các đập thủy điện cứ lần lượt được tiến hành, bất chấp sự phẫn nộ của xã hội dân sự. Về phần mình, Tiến sĩ Lê Anh Tuấn cảnh báo nguy cơ tan vỡ của hiệp ước sông Mêkông, vốn dựa trên nguyên tắc cùng quản lý các nguồn tài nguyên chung và cùng phát triển tiềm năng kinh tế của con sông này. Ông Lê Anh Tuấn nhấn mạnh đến việc thức tỉnh ý thức của người dân tại các khu vực có nguy cơ bị việc xây đập đe dọa, với sự hỗ trợ của giới khoa học, giới quản lý, để tự họ quyết định các biện pháp hành động nhằm hóa giải các nguy cơ tàn phá dòng Mêkông, đang ngày càng trở nên sát sườn. 

    Lê Anh Tuấn : Tôi thấy là đây là một vấn đề nan giải. Ở phía Lào, một mặt họ quyết tâm xây dựng đập thủy điện, mặc dầu đã có can ngăn bước đầu của chính phủ Việt Nam, chính phủ Campuchia, cũng như sự phản đối mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội dân sự, đặc biệt ở Thái Lan, ở Campuchia và tiếng nói của Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam ở Việt Nam. Bây giờ đập Don Sahong, giống như là con cờ đômino thứ hai trên chuỗi đập dự kiến, nó đổ.

    Bây giờ, tôi thấy là vấn đề này nó đang bế tắc, nó ảnh hưởng đến tinh thần Mêkông, tức là sự hợp tác, chia sẻ những quyền lợi và chia sẻ rủi ro, mà hiệp định Mêkông đã xây dựng được. Tôi nghĩ rằng một lúc nào đó, nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, thì tinh thần Mêkông đó có thể bị ảnh hưởng nặng nề, có thể bị sụp đổ, nếu chúng ta không có một giải pháp căn cơ để giải quyết, trên cơ sở đối thoại giữa các bên với nhau.

    Thông tin và việc tìm kiếm thỏa hiệp trong đàm phán

    Theo tôi nghĩ, chính phủ các nước phải gặp gỡ trao đổi thẳng thắn qua các đàm phán thỏa thuận, và mỗi bên phải có sự nhân nhượng về mặt quyền lợi, để đảm bảo quyền lợi sống của các dân tộc, các quốc gia khác không bị ảnh hưởng.

    Trong tình trạng các chính phủ liên quan thì đang lúng túng như vậy, thì từ phía giới khoa học quan tâm đến dòng sông Mêkông, có những đề xuất nào mới mang tính riêng biệt trong vấn đề này ?

    Lê Anh Tuấn : Thực ra những thông tin cho đến giờ vẫn còn rất mơ hồ. Chúng tôi cũng không nắm được các vấn đề về kỹ thuật (của đập Don Sahong). Rồi sự đánh giá về tác động của đập cũng chưa đầy đủ. Cái đó do là chính phủ Lào cũng không hoàn toàn minh bạch trong thông tin này. Tuy nhiên, chúng tôi cũng ráng thu thập được càng nhiều càng tốt thông tin, và chúng tôi cũng sẽ có cơ hội chúng tôi tập hợp lại các thông tin đó để trao đổi lẫn nhau.

    Để chúng tôi làm một định hướng, và cái định hướng này chúng tôi sẽ kiến nghị lên chính phủ, để chính phủ có những tiếng nói mạnh mẽ hơn, hoặc thay đổi chiến lược đối phó của mình, hoặc là có thể có những giải pháp thương lượng nào đó với Lào, liên quan đến vấn đề các đập thủy điện trên Mêkông.

    Đấy là về phía giới khoa học và chính phủ Việt Nam, còn về góc độ của những người dân trên lưu vực Mêkông, nơi chịu ảnh hưởng (hoặc có nguy cơ) của các đập thủy điện, thì họ nhận thức như thế nào về việc này ?

    Lê Anh Tuấn : Khi đập Sayaburi dự kiến làm, thì chúng tôi tổ chức nhiều cuộc hội thảo, và tuyên truyền cho người dân ở đồng bằng sông Cửu Long biết được những điều này. Những nhóm mà chúng tôi chú ý tới là những người nông dân sản xuất lúa, nuôi cá ở đồng bằng Cửu Long, các cấp chính quyền ở địa phương, cấp tỉnh, cấp huyện. Rồi giới khoa học, chúng tôi tổ chức trong các trường Đại học. Đồng thời cung cấp thêm thông tin liên quan đến các đập thủy điện này. Tuy nhiên, cho đến bây giờ thì họ cũng mới chỉ nắm được câu chuyện về thủy điện một cách chung chung thôi, còn cụ thể thì họ cũng rất mơ hồ. Bởi vì, thực ra những thông tin này đến với người dân, thì không được đầy đủ và minh bạch cho lắm. Cái đó chúng tôi cũng lo ngại. Và có thể một khi mà họ biết được đầy đủ, thì vấn đề có thể đã muộn rồi.

    Giới khoa học trong khu vực, theo tôi biết, hầu hết có quan tâm và lo ngại. Nhưng số đó không nhiều lắm, các điều kiện để tập hợp tất cả tiếng nói của các nhà khoa học đến bây giờ vẫn chưa đầy đủ, và hoạt động của giới này cũng chưa đủ mạnh để tạo ra các tác động lớn.

    Một cảnh thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long(DR)

    Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang tìm cách trao đổi với nhau càng nhiều càng tốt các thông tin chúng tôi có, và bày tỏ ra quan điểm của mình với nhau để cùng thảo luận cho đầy đủ hơn.

    Cư dân lưu vực Mêkông đi tìm một tiếng nói chung

    Mới gần đây, chúng tôi có xây dựng một chương trình đào tạo về quản trị thủy điện bền vững thông qua dự án JIZ (Đức) hay M-Power (Thái Lan). Chúng tôi tìm cách nâng cao nhận thức cho giới giáo viên các trường đại học dọc theo sông Mêkông. Sắp tới đây là các hoạt động tập huấn cho các tổ chức xã hội dân sự, rồi chúng tôi cũng sẽ tiếp tục làm với các cấp chính quyền, và cuối cùng là nhóm doanh nghiệp tư nhân. Tất cả các chương trình này chỉ là chương trình khởi điểm ban đầu. Mục đích của chúng tôi là, khi xây dựng các chương trình này, là tạo ra các tiếng nói chung, sự hiểu biết chung về vấn đề (Diễn đàn nhân dân sông Mêkông do Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam tổ chức, đầu tháng 8/2013).

    Rừng ngập nước ở Stung Treng (Cam Bốt) : Khu bảo tồn quốc tế theo hiệp ước Ramsar. Rừng này bị dự án Don Sahong đe dọa.(DR)

    Bởi vì thật sự ra là, hiểu về tác động của các thủy điện trên các hệ sinh thái hoặc là sinh kế của người dân, thì nhiều người cũng chưa hiểu nhiều lắm. Tôi hy vọng rằng, thông qua chương trình này, mọi người sẽ hiểu được rõ ràng hơn và từ đó họ có cơ sở để lập luận và có thể có những chương trình hành động cụ thể để gây tác động rộng rãi hơn.

    Tức là cái tinh thần Mêkông, trước kia do các chính phủ hợp tác lại để thống nhất với nhau, thì thật ra ảnh hưởng của nó rất bị giới hạn, do nhiều lý do. Tinh thần Mêkông thực sự sâu sắc có lẽ phải bắt đầu từ những hợp tác, đào tạo như Tiến sĩ vừa mô tả ? Hy vọng là cái đó mới có thể dẫn đến các kết quả bền vững, phải không ạ ?

    Lê Anh Tuấn : Đó là mục đích của chúng tôi. Hồi nào giờ, quan điểm về tinh thần Mêkông nằm ở cấp chính phủ, còn đi xuống các cấp…, thì rất mờ nhạt và bị giới hạn. Thì thông qua chương trình này, chúng tôi hy vọng là các nước trên sông Mêkông, kể cả các nước như Trung Quốc chẳng hạn. Người dân ở đó họ sẽ có tiếng nói chung trong việc nhìn nhận về vấn đề Mêkông, để có thể là hiểu về nhau dễ hơn và có thể dễ dàng trao đổi với nhau hơn.

    Chúng tôi mong mỏi rằng, mọi người nghe đài, bạn nghe đài, có cơ hội ủng hộ cho những hoạt động của các nhóm môi trường và người dân ở khu vực sông Mêkông để làm sao đảm bảo rằng cuộc sống của người dân không bị xáo trộn nhiều và sự bền vững của hệ sinh thái sông Mêkông được bảo tồn. Hy vọng là cái đó sẽ đảm bảo được hòa bình và thịnh vượng trên sông Mêkông được bền vững, người dân không bị những tác động lớn do những thay đổi về mặt môi trường, về mặt sinh thái.

    ***
    Don Sahong, dự án đập thủy điện mà chính phủ Lào vừa quyết định thực hiện, gây rất nhiều lo ngại cho giới bảo vệ môi trường và dân cư các khu vực hạ lưu, trong đó có đồng bằng sông Cửu Long. Việc chính phủ Lào khăng khăng tiến hành dự án, bất chấp ý kiến phản đối của các nước láng giềng, không tuân thủ các quy định được thỏa thuận trong Hiệp ước Mêkông 1995 về thủ tục tham vấn và nghiên cứu điều tra khách quan về các tác động môi trường khiến công luận lo ngại về sự bất lực của cơ chế liên chính phủ của Ủy hội sông Mêkông (MRC), nếu không muốn nói là sự thiên vị của tổ chức này.

    Trong bối cảnh này, liệu giới khoa học, giới môi trường các nước hạ lưu Mêkông cùng dân cư các khu vực đang bị các đập thủy điện đe dọa có đủ sức mang lại một tiếng nói có trọng lượng ? Nạn « thủy điện gây lũ » ở khu vực miền Trung Việt Nam mới đây cho thấy, những thiệt hại nhãn tiền và sự thức tỉnh cùng những áp lực của xã hội có thể buộc những người cầm quyền bắt đầu phải thay đổi chính sách « sống chết mặc bay », đặt quyền lợi của nhóm phái lên trên lợi ích của cả một cộng đồng.

    RFI xin chân thành cảm ơn Bà Lâm Thị Thu Sửu, Ông Trần Anh Thư, Giáo sư Võ Tòng Xuân và Tiến sĩ Lê Anh Tuấn đã dành thời gian cho chương trình.

    Tin bài liên quan

    Lào sắp xây thêm đập trên dòng chính sông Mêkông

    WWF chỉ trích Lào tiếp tục xây đập thủy điện Xayaburi

    Đồng bằng Cửu Long đối phó với nước mặn nhập sâu

    Tác động của đập thủy điện hạ lưu Mekong lên đồng bằng Cửu Long

    Việt Nam không còn chống dự án đập Xayaburi của Lào

    Tuy Lào đã sửa đổi, đập Xayaburi vẫn gây tác hại cho Việt Nam

    Chính phủ Lào vẫn cho phép xây đập thủy điện Xayaburi

    Đập Xayaburi trên dòng Mêkông : Chính quyền Lào bị tình nghi “tiền hậu bất nhất”

    Chính quyền Lào khẳng định tạm hoãn xây dựng đập thủy điện Xayaburi

    Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ thông qua Nghị quyết bảo vệ sông Mekong

    Việt Nam và Ủy hội Sông Mêkông « dạy » Trung Quốc một bài học quản lý

    Xayaburi: Lào xây đập, Trung Quốc hưởng lợi ?

    Ủy hội Sông Mêkông : cuộc họp quan trọng về đập Xayaburi của Lào

    Nhà nhiếp ảnh Lâm Đức Hiền : hành trình trên sông Mêkông

    Ngược thác Khone : Bí mật của sự đa dạng sinh học trên dòng Mêkông

    “(…) Sông Mekong là sông có sự đa dạng sinh học của các loài cá là cao nhất trong các sông ở Á châu. Sản lượng đánh cá thuộc hạng cao nhất trên thế giới và vì thế sự đóng góp của sông Mekong vào dinh dưỡng và an ninh lương thực trong vùng rất là quan trọng. Trong nhiều vùng ở lưu vực phía trên và dưới thác Khone, hơn 80% lượng protein tiêu thụ là từ cá và thủy sản.

    Thác Khone là nút điểm mà các loài cá thiên cư đi từ hạ nguồn ở Cam Bốt và Việt Nam lên thượng nguồn ở Lào để sinh sản. Để vượt lên thượng nguồn các loài cá dùng các kênh (hay hẻm) nước (channel). Ngay tại thác Khone chỉ có vài hẻm nước là cá có thể lội lên được đến thượng nguồn ở Lào, trong đó có hẻm nước Hou Sahong dài 7km từ đảo Don Sahong (Don tiếng Lào có nghĩa là đảo) đến đảo Don Sadam là quanh năm cá có thể lội ngược vượt dòng nước vì hẻm nước này đủ rộng trong mùa khô và không có thác nào trên chiều dài hẻm so với các hẻm khác.

    Gần đây trong một bài nghiên cứu khoa học trên tạp chí “Critical Asia Studies”, ông Ian Baird cho biết có nhiều loài cá thiên cư từ Cam Bốt, Việt Nam qua thác Khone cho đến tận Vientiane, các vùng Thái Lan ở kế cận, và bắc Lào… “

    Trích bài “Dự án xây đập thủy điện Don Sahong (Nam Lào) và ảnh hưởng môi trường” của nhà nghiên cứu môi trường Nguyễn Đức Hiệp. 

     

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s