Tưởng nhớ cha tôi nhà văn Nam Cao-Trần Thị Hồng

logo nhật ký

Nam Cao, tư liệu từ con gái

 

Image may contain: 1 person, child and closeup
Trần Thị Hồng còn bé
Image may contain: 2 people, people sitting
Trần Thị Hồng bây giờ

Tưởng nhớ cha tôi, nhà văn Nam Cao

Trần Thị Hồng

Nam Cao

Cha tôi tên thật là Trần Hữu Tri, sinh ngày 29-10-1915 tại làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, phủ Nam Sang, tỉnh Hà Nam (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Cha tôi là con trai trưởng của ông Trần Hữu Huệ, cháu nội cụ Trần Hữu Trung, một nhà Nho yêu nước ở làng Đại Hoàng.
Bà nội tôi là bà Trần Thị Minh, con cụ Trần Thị Vân ở cùng quê. Cụ Vân sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, lại mồ côi từ nhỏ nên vô cùng lam lũ, cực khổ. Lớn lên lấy phải người chồng ham mê cờ bạc. Mới 20 tuổi, vừa sinh được người con gái thì chồng bị thua bạc, đã đem bán hết nhà cửa, ruộng vườn để trả nợ rồi bỏ đi biệt xứ. Người vợ trẻ quyết tâm ở vậy nuôi con khôn lớn và gây dựng lại cơ đồ. Sau này, cụ Vân chọn ông Huệ làm con rể rồi đón về sống cùng nhà. Nhưng ông Huệ lại thích bay nhảy, nên sau khi lấy vợ được ít ngày, ông ra thành phố Nam Định, mở cửa hàng buôn đồ gỗ. Do vậy, những ngày ấu thơ của Nam Cao chỉ có mẹ và bà ngoại vỗ về, yêu thương, chăm sóc là chính.

Cha tôi bắt đầu đi học ở trường làng vào năm 1922. Thầy dạy đầu tiên của người là cụ Trần Khang Lân – một trí thức yêu nước cùng quê. Ba năm sau, ông nội tôi đón con trai tới thành phố Nam Định, cho học ở trường Cửa Bắc. Tiếp theo, người học ở trường Thành Chung (nay là trường THPT chuyên Lê Hồng Phong – Nam Định).

Cha tôi lấy vợ năm 18 tuổi. Đám cưới diễn ra ngày 2-10-1933. Mẹ tôi tên là Trần Thị Sen, người con gái thứ năm của một gia đình khá giả cùng quê. Sau khi cưới vợ một tháng, cha tôi rời nhà vào Sài Gòn kiếm việc làm. Ở đấy, vì có trình độ văn hóa và ngoại ngữ nên được một hiệu may âu phục thuê để quản lý sổ sách và giao dịch với khách hàng người ngoại quốc. Ở Sài Gòn, cha tôi có điều kiện tiếp xúc với thợ thuyền, phu phen. Được gặp gỡ những công nhân, trí thức yêu nước, những cán bộ hoạt động trong các tổ chức Cách mạng bí mật, cha tôi rất khâm phục họ, muốn noi gương họ và cũng muốn được như họ nên quyết tâm học tập thêm để vươn lên. Rồi người còn khát khao những chuyến đi xa: đi Paris, đi Marseille, cả đi Mỹ nữa. Nhưng mộng viễn du chưa thành thì lại bị trận ốm thập tử nhất sinh đẩy về nơi chôn nhau cắt rốn.
Sau ngót ba năm làm việc ở Sài Gòn mà trên đường về quê đã phải bán đi hầu hết tư trang để chi tiêu, khi tới được nhà, bản thân chỉ còn da bọc xương mà gia cảnh lại vô cùng bi đát. Bởi người cha vừa bị phá sản vì buôn bán thua lỗ; bà ngoại đã già yếu, lại quá buồn tủi nên khóc lóc cả ngày; một đàn em nheo nhóc, đói khát, thất học; người mẹ cố oằn lưng lên để mong vực dậy cái cơ ngơi đang sụp đổ, nhưng đành bất lực. Người vợ trẻ thấy chồng ốm đau, tàn tạ, vội đem bán đôi khuyên vàng là của hồi môn ngày cưới để lấy tiền thuốc thang cho chồng.
Chạy chữa tích cực một thời gian, bệnh của cha tôi thuyên giảm. Người bắt đầu đến với văn chương. Những truyện ngắn: Cảnh cuối cùng, Hai cái xác, Nghèo, Đui mù, Một bà hào hiệp… được viết vào thời gian này, in ở báo Hữu Ích và Tiểu Thuyết Thứ Bảy, với những bút danh Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt. Cũng vào dịp này, vợ chồng được gần gũi nhau nên mẹ tôi mang thai và sinh con gái vào ngày 20-9-1938, khi ấy hai người cưới nhau đã tròn 5 năm. Ngày con ra đời, cha cũng vắng nhà. Bởi lúc ấy người đang dạy học tại trường tư thục Công Thanh tại Hà Nội. Trường này do một người trong họ mở. Ông thuê cha tôi vừa làm hiệu trưởng vừa dạy hai lớp nhất, nhì. Trong thời gian dạy ở đây, cha tôi vô cùng tận tụy. Do vậy, hình ảnh của người hiện lên trong đầu học sinh như thế này đây:

Ngôi nhà nhỏ bên bờ hồ Tây
Gác lộng gió là lớp của thầy
Thầy Nam Cao, người thầy hiền hậu,
Chẳng phạt ai, ai cũng kính thầy
Giảng dạy hết lòng vì trò nhỏ
Com-lê sờn, hai bộ đổi thay
Một trò nghèo định xin nghỉ học
Cảm thương, học phí trừ lương thầy…

Cha tôi dạy ở trường Công Thanh được ba năm thì bọn phát xít Nhật chiếm mất trường nên phải rời Hà Nội vào năm 1941 về dạy ở trường tư thục Kỳ Giang thuộc tỉnh Thái Bình và viết văn. Người đưa in truyện Cái lò gạch cũ ở nhà xuất bản Đời Mới. Nhà xuất bản đổi tên truyện là Đôi lứa xứng đôi. Khi tái bản vào năm 1946 cha tôi đổi tên là Chí Phèo. Và cái tên ấy tồn tại cho tới hôm nay.

Năm 1942, cha tôi nghỉ dạy học về quê viết văn. Những truyện Cái mặt không chơi được, Nhỏ nhen, Những truyện không muốn viết, Đòn chồng, Nhìn người ta sung sướng, Giăng sáng, Đón khách, Người thợ rèn, Con mèo mắt ngọc, Nụ cười, Ba người bạn… là viết trong năm này và đưa in ở Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Cũng đầu năm 1942, mẹ tôi sinh người con thứ hai. Cha tôi đặt tên là Trần Mai Thiên. Mỗi khi vui vẻ đùa cợt với bạn bè, cha tôi thường tủm tỉm cười và bảo: “Thiên có nghĩa là trời đấy nhé”. Nhưng với cha tôi, yêu thương con không có nghĩa là chỉ cưng nựng, chiều chuộng. Vì vậy mà trong cuốn nhật ký Ở rừng, cha tôi từng viết: “Thiên ơi! Cha sẽ mạnh dạn ném con vào cuộc đời và cuộc đời sẽ luyện con nhanh chóng hơn cha luyện. Con sẽ không chết, con sẽ thành cứng rắn”. Đó là phương châm dạy con của nhà văn Nam Cao. Và điều ấy đã mang lại một kết quả khá mỹ mãn. Mai Thiên mồ côi cha lúc mới 9 tuổi, nhà lại quá nghèo rồi phải sống trong cảnh chiến tranh ác liệt. Mẹ một mình vất vả kiếm ăn, chẳng còn thời gian và sức lực để chăm lo, dạy dỗ các con được nhiều. Nhưng Thiên đã vượt qua mọi gian khó để học hành, trở thành một giáo sư, tiến sĩ khoa học, rồi có những cống hiến xứng đáng cho đất nước nên được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh vào đợt hai, chỉ sau người cha một đợt. Chắc ở dưới suối vàng, nhà văn Nam Cao sẽ mỉm cười mà rằng: “Ta ném con ta vào cuộc đời là đúng”. Cũng năm ấy, sau khi mẹ tôi sinh thêm con, cha mẹ tôi mua một ngôi nhà tre ba gian, lợp lá mía, nằm trên mảnh đất trồng chuối để ra ở riêng; bởi đúng dịp ấy, thím tôi cũng sinh con, khiến nhà trở nên chật chội. Một đám con nít quấy khóc cả ngày làm cụ tôi đau đầu không chịu thấu được. Nhưng ngay tháng 9 năm ấy, một trận bão làm ngôi nhà đổ ụp xuống mất. Chẳng còn cách nào nữa, cha mẹ tôi lại đi vay nợ để mua ngôi nhà khác về dựng trên mảnh đất cũ để ở. Ngôi nhà mới khang trang hơn, có được một gian buồng yên tĩnh để cha tôi ngồi viết văn. Nhưng đúng hôm đưa thợ tới dỡ nhà về dựng trên đất của mình, thì phải chứng kiến gia cảnh người bán như sau: vợ mất sớm, hai con nhỏ đang đau ốm mà chúng phải dắt díu nhau sang hàng xóm tá túc nhờ. Cha tôi vô cùng lúng túng. Nhưng, cũng chẳng biết phải làm sao, bởi hoàn cảnh mình đâu có sáng sủa gì hơn họ. Chính nỗi lòng trắc ẩn ấy đã thôi thúc người viết truyện Mua nhà, trong đó có đoạn: “Tim tôi động một cái như người bước hụt. Rồi nó đập loạng choạng, tôi lảo đảo và cha tôi thốt kêu lên: Tôi ác quá! Tôi ác quá!”.

Năm 1943, Hội Văn hóa Cứu quốc được thành lập, cha tôi cùng các nhà văn Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi… gia nhập hội và khi trở về quê, người lại tham gia vào phong trào Mặt trận Việt Minh trên quê hương. Thời gian này, cha tôi viết và đưa in các truyện: Nửa đêm, Từ ngày mẹ chết, Làm tổ, Thôi đi về, Chuyện tình, Mua danh, Một bữa no, Mong mưa, Tư cách mõ, Điếu văn, Cười, Quên điều độ, Rửa hờn, Ở hiền, Đời thừa, Lão Hạc… Cũng vào năm này, như mọi người dân đất Việt, gia cảnh nhà văn Nam Cao xiết bao cùng quẫn. Số nợ vay để mua nhà năm trước, lãi mẹ đẻ lãi con. Nghề dệt vải của mẹ tôi bị đình trệ. Gạo, vải, giấy, cái gì cũng đắt đỏ khiến mẹ tôi bức xúc, nóng nảy. Truyện Bài học quét nhà của cha tôi ra đời trong hoàn cảnh ấy. Nhân vật chính là tôi, lúc ấy mới gần 5 tuổi. Cha để nguyên tên thật và mô tả đúng với thực tế, sự việc diễn ra với tâm trạng: Người bố chỉ lẳng lặng nhìn tấn bi kịch diễn ra trước mắt, khi đứa con gái ngước đôi mắt ràn rụa nước lên nhìn bố như cầu cứu nhưng bố đành bất lực. Y thấy lòng đau quằn quặn. Suốt buổi chiều hôm ấy, tuy cũng vào phòng ngồi như thường lệ nhưng y không sao viết được.

Sang năm 1944, cha tôi viết khá khỏe. Những truyện Lang Rận, Một đám cưới, Truyện người hàng xóm, Đầu đường xó chợ, Phiêu lưu, Bảy bông lúa lép, tiểu thuyết Sống mòn và một số truyện mà nay đã bị thất lạc bản thảo như: Cái bát, Một đời người, Cái miếu, Ngày lụt… được viết vào năm này.

Đầu năm 1945, gia đình tôi phải chịu một nỗi bất hạnh quá lớn là em Trần Thị Bình Yên, người con thứ ba của cha mẹ tôi, sinh năm 1944, qua đời sau một cơn bạo bệnh. Ngày em mất, cha còn đang ở Hà Nội. Tới tháng 5 người mới về. Vừa vào nhà cha nằm sóng sượt ngay xuống cái võng mà thở dài thườn thượt. Mẹ tôi mếu máo bảo: “Sao bây giờ mình mới về, con Yên chết mất rồi còn đâu”. Cha tôi lặng lẽ hồi lâu rồi mới cất tiếng thì thầm: “Thôi thế cũng còn là phúc lắm đấy mình ạ. Tôi cứ tưởng, lần này về sẽ chả còn được gặp ai nữa. Mẹ con chết đói hết cả rồi ấy chứ!”.
Dịp ấy, cha tôi về rồi ở nhà luôn. Người cùng các cán bộ trên quê hương chuẩn bị cho cuộc tổng khởi nghĩa. Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, cha tôi tham gia giành chính quyền tại phủ Lý Nhân, tiếp theo làm Chủ tịch xã ở quê nhà và sinh hoạt trong Đoàn Thanh niên cứu quốc. Những ngày ấy, người vô cùng bận rộn: hết lên phủ lại về xã để khai hội, mít tinh, diễn thuyết và họp hành…

Đầu năm 1946, cha tôi ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa cứu quốc. Người làm Thư ký tòa soạn tạp chí Tiên Phong. Rồi tham gia trong đoàn quân Nam tiến với tư cách đặc phái viên Văn hóa cứu quốc. Đây là chuyến vào Nam lần thứ hai của nhà văn Nam Cao. Lần này vào Nam, cha tôi mang theo sự náo nức của một người lính xung trận. Như cha tôi từng bảo: “Cả dân tộc đã dồn vào một con đường: ấy là con đường ra mặt trận, ấy là con đường cứu nước”. Trong chuyến đi ấy, người viết hai truyện ngắn: Nỗi truân chuyên của khách má hồng và Đường vô Nam, đăng ở tạp chí Tiên Phong.
Tiếp theo, cha tôi công tác tại Ty Văn hóa tỉnh Hà Nam, làm ở các báo Cờ Chiến Thắng, Giữ Nước, Xung Phong.
Cũng năm ấy, mẹ tôi sinh người con thứ tư, em Trần Hữu Thành. Rồi chiến tranh trở nên ác liệt, mẹ con tôi bồng bế nhau đi tản cư. Dịp ấy, cha tôi cũng vắng nhà.

Đầu mùa thu năm 1947, cha tôi chuyển lên Việt Bắc, công tác ở tòa báo Cứu Quốc. Giai đoạn ấy, chủ yếu viết báo và truyện ngắn phục vụ kháng chiến. Các truyện: Cách mạng, Đợi chờ, Đôi mắt, Những bàn tay đẹp, Trên những con đường Việt Bắc, Từ ngược về xuôi và Nhật ký ở rừng được người sáng tác trong thời gian này.
Cũng năm đó, cha tôi được kết nạp Đảng. Hai người giới thiệu là Chủ nhiệm báo Cứu Quốc Xuân Thủy và nhà văn Tô Hoài. Buổi lễ kết nạp được nhà văn Tô Hoài kể lại như sau:

Quân địch lùng vào làng, gần đến cơ quan, chúng tôi rút lui, suốt đêm leo núi. Đi mãi mới gặp được một cái lán bỏ hoang. Anh em mỗi người lạc một nơi. Còn lại mấy người. Quần áo ai cũng ướt sũng sương. Vừa vào đến lán, Nam Cao quay người lại nói với đồng chí Bí thư Chi bộ một câu mà anh đã cân nhắc, lưỡng lự suốt đêm:
– Tôi nghĩ kỹ rồi anh ạ!
Đồng chí Bí thư đặt tay lên vai Nam Cao, thong thả bảo:
– Chốc nữa thì đại bộ phận cơ quan ta rút lui. Ba đồng chí ở lại đây, Đảng sẽ kết nạp đồng chí ngay bây giờ.

Tại cái lán đó, chỉ còn lại đồng chí Bí thư và hai đảng viên giới thiệu, cùng với cha tôi. Khi đồng chí Bí thư nói đến những chiến đấu vinh quang và gian khổ của Cách mạng, những tấm gương hy sinh của các đồng chí tiền bối và lòng trung thực đối với Đảng thì trên khuôn mặt hốc hác của cha tôi, đôi mắt không chớp. Khi đồng chí Bí thư dứt lời, người ngước lên nhìn đồng chí và cất tiếng:
– Tôi mong ngày hôm nay suốt từ 10 năm rồi. Tôi xin thề: Trung thành với Đảng.
Nói tới đây, cha tôi nghẹn lời, dòng nước mắt tràn xuống hai gò má nhô cao, đang đỏ bừng lên.

Trong giai đoạn ấy, cũng là những ngày quyết liệt của cuộc kháng chiến chống Pháp. Biết bao vất vả, hy sinh. Đồng thời, mọi người cũng được tôi luyện để cứng cáp hơn. Cha tôi kể lại trong cuốn nhật ký Ở rừng: “Công việc cất giấu của chúng tôi vừa diễn ra xong. Luôn ba ngày khuân vác mỏi nhừ người. Đêm qua ngủ rừng, sáng dậy thấy mặt, cổ và tay chân bê bết máu vì vắt cắn. Nhưng mà vẫn vui… Cách mạng đã đổi hẳn óc mình. Kháng chiến chẳng những làm già dặn thêm khối óc mà còn thay đổi ngay chính thân thể mình”.

Sang năm 1949, cha tôi có chuyến công tác về đồng bằng, người ghé thăm vợ con tại nơi tản cư. Đó là lần cuối cùng gia đình tôi được gặp mặt nhau. Cha về vào một buổi tối mùa đông, ngoài trời đang lất phất mưa. Ở trong nhà bốn mẹ con đã lên giường ngồi cho ấm. Khi cha tôi đột ngột xuất hiện, tôi và Mai Thiên thấy cha bước vào nhà thì tíu tít mừng vui, còn Thành lại bò thật nhanh trèo lên lòng mẹ rồi nhìn trộm cha. Được một đêm nằm cạnh vợ con, sáng hôm sau địch càn vào nơi chúng tôi đang ở. Cả nhà phải chui xuống hầm trú ẩn, mãi tối mịt địch mới rút. Hôm sau cha tôi ra đi. Lúc lên đường lần ấy, cha tôi thật buồn. Đứng bên cạnh vợ con, một tay cha mân mê đôi chân nhỏ bé của Thành, một tay cha vuốt ve mái tóc tôi. Rồi đột ngột dùng cả hai tay ôm lấy đôi vai gầy của Mai Thiên, kéo sát vào người mình. Sau đấy, cha nhìn mẹ rồi bảo: “Mình đi với tôi một đoạn”. Hai người đi một lúc lại quay về. Cha tôi cứ đứng lặng lẽ, trân trân nhìn các con, một dòng nước mắt lăn dài trên gò má hốc hác. Rồi chợt quay ra, quả quyết đi như chạy. Cũng chính lần gặp gỡ này, mẹ tôi lại mang thai và sinh em Thực vào tháng 8-1950. Đó là người con út của nhà văn Nam Cao, mà tới lúc cha qua đời, hai cha con vẫn không hề được biết mặt nhau.

Lần ấy trở lên Việt Bắc, cha tôi tiếp tục làm việc tại cơ quan cũ cho tới ngày 15-8-1951 thì thực hiện chuyến công tác về đồng bằng để tuyên truyền về thuế nông nghiệp. Và người đã hy sinh ngày 30-11-1951 tại xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Xung quanh chuyến công tác ấy của cha tôi, các đồng đội của người từng kể lại:
Nhà thơ Tố Hữu bảo: “Đầu năm 1951, chiến dịch Biên giới thắng lớn, nhưng anh Trần Đăng, một cây bút trẻ xông xáo đã hy sinh, thật đau lòng. Cuối năm 1951, có đoàn cán bộ vào địch hậu, Liên khu 3. Anh Nam Cao đòi đi cùng. Anh bảo: “Không vào đấy thì biết gì mà viết”. Đành phải để anh đi, tuy vẫn biết sẽ có nhiều nguy hiểm”.
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thì nói: “Khi nhận công tác thuế nông nghiệp ở Khu 3, anh sốc lại cái ba lô quá nặng trên tấm lưng gầy guộc và giản dị lên đường… Không phải anh không biết những nguy hiểm của chuyến công tác, nhưng anh tự hào nhận nhiệm vụ. Cũng như mọi công việc, anh vẫn nhận lấy phần khó khăn nhất”. Rồi bác Tưởng nói thêm: “Nam Cao vốn là một người yêu cuộc sống, sợ những cảnh chém giết bạo tàn. Nhưng anh vẫn đi vào nơi cuộc sống treo trên đầu sợi tóc”.

Năm cha tôi hy sinh, mẹ tôi mới ngoài 30 tuổi. Một nách bốn con nhỏ. Đứa lớn nhất 13, đứa nhỏ nhất vừa tròn một năm. Lại đang sống trong vùng địch chiếm đóng. Bom đạn ùng oàng suốt ngày đêm. Nhà cửa ruộng vườn đều không còn. Mọi cực nhọc đều dồn lên vai mẹ. Ở hoàn cảnh ấy, nếu không được ai giúp đỡ và thiếu sự nỗ lực của người trong cuộc thì tương lai sẽ ra sao. Nhưng chúng tôi thật may mắn, bởi đã được một người mẹ tuyệt vời sinh ra và nuôi dạy. Bên cạnh đó lại được sự quan tâm giúp đỡ thật chí tình của các cơ quan Đảng, nhà nước, hội văn học nghệ thuật, các đồng chí, đồng nghiệp của cha tôi. Nhớ lại những năm tháng cam go ấy, cha tôi vừa hy sinh vào ngày 30-11-1951 thì ngay tháng 4-1952, các bác ở Hội Văn nghệ Việt Nam đã tìm đủ mọi cách để liên lạc với mẹ tôi ở trong vùng địch hậu, rồi đón em tôi đưa ra vùng tự do, cho đi học. Đến sau này, vào năm 1963, tôi đã lập gia đình riêng rồi, công tác tại thành phố Nam Định và vừa sinh con nhỏ; mẹ tôi muốn đưa hai đứa em tôi xuống ở cùng để mẹ con nương tựa lẫn nhau. Nhà thơ Tố Hữu biết chuyện, ông đã làm việc với lãnh đạo tỉnh Nam Định giúp đỡ cho mẹ và em tôi có sổ lương thực và tem phiếu mua thực phẩm. Ở thời bao cấp ấy, nếu không được như vậy thì chả có cách nào để mẹ con tôi được sống cùng nhau cả.

Rồi chương trình “Tìm lại Nam Cao” với sự khởi xướng của Hội Nhà văn Việt Nam và Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Việt Nam đã tìm được hài cốt cha tôi, đưa về quê hương an nghỉ và khu mộ cùng nhà tưởng niệm Nam Cao được xây dựng khang trang như hôm nay. Việc chăm sóc chu đáo hằng ngày, hằng giờ của người quản trang cùng rất nhiều đoàn khách đến thăm viếng đã nói lên tấm thân tình, ân nghĩa của mọi người đối với nhà văn Nam Cao.

Thay mặt gia đình nhà văn Nam Cao, tôi xin ghi lòng tạc dạ công ơn to lớn của mọi người đã dành cho chúng tôi./.

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s