Đọc trích đoạn tâm tình của một người con Việt lai Pháp đi tìm cha vô danh(Du père inconnu) của Phạm Ngọc Lân

đọc sách1

De Pere Inconnu

Mười ba năm xa cách

 

Tháng 2 năm 1993.

phạm ngọc Lân2

phạm Ngọc Lân

Phạm Ngọc Lân

Chiếc Boeing 747 của hãng Air France bắt đầu hạ thấp dần, chuẩn bị đáp xuống sân bay Tân SơnNhứt. Long ngồi sát cửa sổ nhìn lớp mây dày đặc dưới phi cơ từ từ loãng ra, bắt đầu thấp thoáng một màu xanh lá mạ. Và cuối cùng hiện ra cả một miền xanh tươi bao la bát ngát. Màu xanh non của cánh đồng, màu xanh đậm của cây cối bao quanh những căn nhà nhỏ xíu rải rác đó đây. Vài điểm nâu đậm tươngphản với màu sắc hiền dịu thiên nhiên, màu của những mái tôn hoen rỉ. Một dòng nước với cây cối xanhtươi hai bên bờ, lúc đầu nhỏ xíu như sợi chỉ, từ từ lớn dần để rồi đổ vào một con sông uốn khúc trong khung cảnh tĩnh lặng hiền hòa. Chắc là một nhánh của dòng Cửu Long đang tìm đường ra biển.

Long dán trán vào tấm kính bé xíu của phi cơ. Lần đầu tiên trong đời chàng thấy cảnh thanh bình củađất nước trong lưu vực sông Cửu Long. Và rồi không biết bằng cách nào, không biết từ bao giờ, nước mắt cứ từ từ tràn ra, càng ngày càng nhiều, không cưỡng lại được. Không ngờ đến nay đã 49 tuổi chàng còn khóc dễ đàng như thế. Cố gắng để ghìm cảm xúc đã giấu kín trong tâm khảm từ 13 năm nay, nhưng nước mắt cứ tiếp tục trào ra, dần dần cả người chàng run lên, kéo dài như thế cho đến lúc phi cơ ngừng hẳn và tắt máy. Chàng ngồi yên tiếp tục nhìn qua cửa sổ cho ráo lệ, chờ cho hành khách xuống hết, phần đông là người Á Châu – chắc hẳn có người tò mò sao người khách này lại ngồi yên không nhúc nhích như vậy !Chàng là người cuối cùng bước ra khỏi phi cơ. Ở chân thang có hai thiếu nữ mặc áo dài Hàng Không ViệtNam đứng đón khách, tươi cười mời lên chiếc xe buýt chở khách vào phi cảng.

máy bay Air France

Đó là buổi chiều ngày thứ năm 23 tháng 2 năm 1993.

Cách dăm năm trước, một cuộc trở về thăm quê hương như thế đối với Long là một chuyện khôngtưởng. Trong hơn 10 năm kể từ ngày chế độ cộng sản áp đặt lên cả nước, những người ra đi như Long, dù ra đi chính thức hay vượt biên, đều bị xem như những thành phần « phản quốc », « ôm chân đế quốc »,đừng hòng có ngày về.

Nhưng nền chuyên chính vô sản đã làm cho đất nước kiệt quệ, khiến cho Đại Hội 6 của Đảng Cộng Sản Việt Nam đành phải đề ra chính sách « đổi mới ». Loáng thoáng đâu đấy được nghe một câu châm ngôn giật gân : « Đổi mới hay là chết ! » Đó là năm 1986. Một năm trước đó, lãnh tụ mới của Liên Xô làGorbachev đã nhận ra bế tắc của chế độ cộng sản nên đề ra chủ trương « Glasnost » (trong suốt) và « Perestroika » (đổi mới). « Trong suốt » cho phép người dân được nói những điều mình muốn nói. « Đổi mới » là thay đổi hẳn chính sách kinh tế, ngả theo kinh tế thị trường. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng theo cách đổi mới này, bỏ chế độ bao cấp, thiết lập nền kinh tế thị trường, nhưng thòng thêm một câu nghecho… lạ tai «… theo định hướng xã hội chủ nghĩa ».

Sau vài năm mò mẫm trên con đường đổi mới, sau những biến cố kinh thiên động địa trong thế giới cộng sản như sự phá bỏ của bức tường Berlin năm 1989 và sự sụp đổ của cả hệ thống Liên Bang Xô Viết và các nước cộng sản Đông Âu, Đàng Cộng Sản Việt Nam quyết định mở cửa cho du lịch, và những « tên phản quốc ôm chân đế quốc » ngày nào trở thành những « khúc ruột ngàn dặm » được mời về thăm quê cha đất tổ, vì chắc chắn là về như thế thì phải mang theo một mớ đô-la, rất cần thiết trong chủ trương mới.

Làng cù lân1

Long và Mai cũng nằm trong thành phần « xưa ôm chân đế quốc, nay khúc ruột ngàn dặm » này. Hai vợ chồng đến nước Pháp hai bàn tay trắng, vốn liếng chỉ là những kiến thức hấp thụ được từ nền giáo dục thời trước, và qua kinh nghiệm sống dưới chế độ miền Nam, rồi dưới chế độ cộng sản. May mắn là hai vợchồng đã nhanh chóng thành công trong việc ổn định cuộc sống. Mai có ngay việc làm trong một hãng lớn về điện tử, nàng vừa đi làm vừa đi học thêm buổi tối về tin học ở CNAM (Conservatoire National des Arts et Métiers) là một cơ quan độc đáo của hệ thống giáo dục đại học Pháp giúp cho nhiều người đã đi làm có cơ hội học thêm cấp đại học để có dịp vươn lên trong sự nghiệp của mình. Hai năm sau nàng chuyển qua làm việc trong ngành tin học. Long không học lại ngành Dược (trường hợp của chàng muốn học lại chỉ cần theo học 2 năm cuối) mà chuyển qua học tại Đại Học Paris 6 Pierre et Marie Curie (hậu thân của Đại Học Khoa Học Paris trước kia) ngành tin học. Cũng vừa đi làm vừa đi học, sau khi lấy được bằng « Maitrise d’Informatique » thì tìm việc dễ dàng vì trong thập niên 1980, ngành này còn mới mẻ và số người tốt nghiệp đại học chưa nhiều lắm.

Ba năm sau hai vợ chồng mua được căn nhà đầu tiên, dĩ nhiên phải trả góp tiền lời rất nhiều vì chưa cótiền để trả trước một phần giá nhà, nên phải vay nhiều nơi cho đủ. Nhưng dù sao có được một mái ấm của riêng mình vẫn hơn là đi ở thuê như những năm đầu ở Clichy, sau thời gian sống trong trung tâm tị nạn Ricci.

Căn nhà nhỏ nằm phía đông nam của Paris, gần bờ sông Seine, ngày nào đi làm Long cũng đi bộ ra ga dọc theo bờ sông. Làm trong Paris phải lấy xe lửa vào thành phố rồi đổi qua hệ thống Métro tức xe điện ngầm. Đoạn sông Seine này cây cỏ xanh tươi hai bên bờ, cảnh thiên nhiên hiền hòa rất dễ chịu. Đặc biệt có một cặp thiên nga làm tổ đâu đó, mấy năm sau thấy một đàn thiên nga con lông xám bơi theo bố mẹlông trắng tinh, vừa dễ thương vừa lạ mắt. Sao thiên nga lông trắng đẹp thế là con nó lại lông xám nhỉ ?Sau này đàn thiên nga đó đã là cảm hứng để Long sáng tác ca khúc Hai Con Thiên Nga (tác giả đàn hát đăng trên YouTube : http://www.youtube.com/watch?v=mrRFotx1fp4).

Căn nhà có mảnh vườn nhỏ phía sau, đó là giang san của Mai vì nàng rất thích trồng hoa, một thú vui từ thời thơ ấu khi nàng sống ở Đà Lạt, thành phố của muôn hoa. Bên Pháp là vùng ôn đới có những loại hoa khác với Việt Nam là xứ nhiệt đới, nhưng đặc biệt thành phố Đà Lạt ở cao độ 1500 có khí hậu mát mẻ nên có thể trồng được vài loại hoa của xứ ôn đới, như hoa hồng, hoa lay-ơn (glaïeul), hoa mimosa…

Hai con cũng mau chóng thích hợp với cuộc sống mới, năm đầu tiên vào lớp học còn ngỡ ngàng vì tiếng Pháp nghe chưa hiểu nói chưa được, nhưng chỉ ba tháng sau đã có thể theo đuổi chương trình vàcuối cùng thì trở thành những học sinh đứng đầu lớp. Thật ra cái khó đối với cha mẹ không phải là làm sao cho con mình thông thạo tiếng Pháp, mà là làm sao cho chúng không quên tiếng mẹ đẻ. Muốn vậy phải có ý chí mạnh mẽ duy trì văn hóa Việt Nam, không phải chuyện dễ. Ở nhà phải nói tiếng Việt đã đành, cuối tuần Long và Mai đưa hai con đi sinh hoạt với đoàn hướng đạo Việt Nam. Sau này khi học lên cấp 3, cuối tuần phải theo học thêm lớp tiếng Việt luyện thi Tú tài để lấy thêm điểm khi chọn tiếng Việt làm ngoại ngữ thứ ba.

Mai còn ông bà cụ ở Sài Gòn, ngoài ra các em tất cả đều đã qua Mỹ. Chỉ có một cô em kế Mai ra đibằng máy bay trước ngày 30 tháng 4-75, 6 người em còn lại đều vượt biên an toàn và được chị ruột haygia đình chồng bảo lãnh vào Mỹ. Về phía Long tất cả vẫn sống ở Việt Nam, nhưng chàng chỉ thư từ qua lại với Vy là em gái kế để biết tin tức của tất cả mọi người. Lâu lâu mẹ chàng cũng viết kèm theo thư của con gái. Phải mất mấy tuần thư mới đến nơi, và chắc thư chàng gửi đi cũng rùa bò như thế.

Một hôm chàng nhận được một tin sét đánh : vào đầu tháng 4-1981, em thứ bảy của chàng vào rừng làm củi bị tử nạn vì đạp trúng bom mìn còn lại từ thời chiến tranh. Long có 12 người em cùng mẹ khác cha, 8 trai 4 gái. Em thứ chín tử trận lúc 19 tuổi, một tháng rưỡi trước khi chiến tranh chấm dứt. Em thứ năm chết năm 1977 vì bị sốt rét ác tính khi đi làm thủy lợi trong lúc còn là sinh viên kinh tế, lúc 23 tuổi. Và bây giờ em thứ bảy tên C. cũng chết thảm do hậu quả của chiến tranh. C. là em sinh đôi của H., trướckia H. đi lính không quân, năm 1975 làm về kỹ thuật trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Từ đó đến khi em nó mất năm 1981, không có tin tức gì. Lúc đầu còn hy vọng H. theo một chiếc phi cơ quân sự nào đó rời khỏi Tân Sơn Nhứt trong những ngày giờ cuối của cuộc chiến, nhưng qua thời gian dài không tin tức, mọingười đành chấp nhận giả thiết là H. đã tử thương trong giờ phút cuối hoặc mất tích đâu đó rồi. Với cái chết tức tưởi của C., mẹ Long càng tin tường là hai anh em sinh đôi có cùng số mạng nên bà tin chắc là H.cũng đã chết và không ngần ngại đưa hình nó lên bàn thờ. Năm đó C. 26 tuổi, mới lấy vợ và sắp có con. Một tuần sau, vợ của C. sinh cháu gái, chưa ra đời đã mồ côi bố.

Ngoài tin dữ này, các lá thư cho biết tình hình kinh tế càng ngày càng khó khăn hơn. Thời kỳ này, đối với những người sống bên Pháp, cách tốt nhất để giúp đỡ gia đình bên Việt Nam là gửi những thùng thuốc tây, vì thuốc tây « thứ thiệt » bên nhà rất đắt. Ngoài ra thuốc tây lại rất nhẹ so với các món hàng khác nên chỉ cần một thùng nhỏ 1 ký cũng đã là món quà rất quý cho thân nhân. Long cũng theo cách làm này của mọi người, đã trở thành một « dịch vụ » không chính thức nhưng rất thịnh hành. Bên Pháp có những tiệm thuốc tây của người Việt có sẵn nhiều danh sách các loại thuốc tiêu thụ dễ dàng ở Việt Nam do kinh nghiệm bên nhà. Long chỉ cần gọi điện thoại muốn mua danh sách số mấy, sau khi tiệm thuốc tây soạn các thứ thuốc rồi, chàng đến trả tiền và mang thuốc về nhà cho vào cái thùng nhỏ gửi đi. Bên Việt Nam có những người cũng sống bằng dịch vụ này, đến tận nhà mua tất cả thuốc và mang ra chợ trời phân phối lại cho người bán lẻ.

Từ khi có chính sách đổi mới và phát triển du lịch đầu thập niên 90, bên Pháp bắt đầu có những người tị nạn trở về thăm gia đình. Long cũng rất muốn về nhưng còn ngại vì hai vợ chồng lúc đó đang có những hoạt động bị chính quyền Việt Nam lên án. Năm 1980 khi Long mới qua Pháp, bên Mỹ cũng như bên Âu Châu đang nở rộ những phong trào chống cộng, phần đông là những tổ chức chủ trương kháng chiến lậtđổ chế độ cộng sản trong nước. Long và Mai không gia nhập những tổ chức này vì tính cách không tưởng của chủ trương dùng võ lực lật đổ cộng sản.

Ngược lại hai vợ chồng tham gia một nhóm trí thức âm thầm tìm một phương thức bất bạo động đểdân chủ hóa đất nước. Sau vài năm họp hành để suy nghĩ và thảo luận, nhóm này cho xuất bản năm 1988 một nguyệt san thông tin và nghị luận để phổ biến những tư tưởng của mình. Tất cả các bài viết đều ký tên thật, trong đó có nhiều bài của Long và Mai. Khi bức tường Bá Linh sụp đổ kéo theo sự tan rã của khối Liên Xô và các nước cộng sản Đông Âu, một tia hy vọng vươn lên vì sự tan rã này không phải do kháng chiến hay võ lực đến từ bên ngoài mà do chính những thành phần trong các đảng cộng sản gây ra. Vậy thì tại sao trong Đảng Cộng Sản Việt Nam không có những thành phần thấy được điều này ? Tại sao không thể có một Gorbachev Việt Nam ? Rất tiếc là nhiều người « thấy », nhưng không ai dám « làm ».

Chính trong giai đoạn này, có sự chao đảo trong nội bộ đảng, nên để phản ứng lại, các phương tiện báo chí kịch liệt đả kích các tổ chức chính trị hải ngoại. Đặc biệt Long và Mai cũng như vài người khác trong nhóm trí thức ở Paris bị lên án nặng nề, tên của hai vợ chồng được nêu đích danh trong các bài báo trên hai tờ Quân Đội Nhân Dân và An Ninh Thế Giới.

Vì vậy dù rất muốn về thăm mẹ và gia đình, Long không dám vì không biết phản ứng của chính quyền sẽ như thế nào. Nhưng tháng 2 năm 1993, một sự kiện bất ngờ làm chàng phải lấy quyết định nhanhchóng. Đó là một bức điện tín của Vy, lúc đó đã từ Bảo Lộc dọn nhà lên sống ở Đà Lạt, báo tin « mẹ bịtai biến mạch máu não nặng, đang điều trị tại bệnh viện Bảo Lộc ».

Đã 13 năm xa cách, bà cụ đã lớn tuổi, nay bị tai biến như thế không biết sống chết ra sao, Long bàn với Mai dù sao cũng phải về, ít nhất gặp mẹ một lần cuối. Nhưng chàng sẽ về một mình để nếu có bịchính quyền làm khó dễ hay có bị bắt bớ thì còn có Mai bên Pháp lo cho con, và đồng thời tìm cách lo cho chồng thoát được tù tội.

Và kết quả là chàng đang đứng trong chiếc xe buýt chạy từ chân thang máy bay vào cửa phi cảng TânSơn Nhứt. Chàng là người cuối cùng xuống máy bay, và khi xe buýt ngưng lại, chàng cũng là người cuốicùng bước ra khỏi xe.

Thì lạ lùng thay, Long thấy em gái chàng là Vy đứng ngay trước cửa vào phi cảng. Chẳng nói chẳng rằng, chàng chạy đến ôm chầm lấy Vy và nước mắt lại bắt đầu tuôn rơi. Cả hai anh em đều khóc. Khôngnói được lời nào, làm như 13 năm xa cách đã làm tắt tiếng nói của cả hai người. Đây là lần đầu tiên trongđời chàng ôm em gái mình, vì sống ở Việt Nam, « nam nữ thụ thụ bất thân », có khi nào anh em lại ôm nhau !

Sau những phút đầu óc quay cuồng vì xúc động, Long trở lại thực tế khi thấy một nhân viên mặc quân phục đứng sau Vy, hỏi chàng có visa không. Chàng không hiểu sao lại có một công an đứng hỏi visa của hành khách khi vừa bước chân trên xe buýt xuống ! Nhưng Vy vội vàng giải thích, anh chàng này không phải công an phi cảng xét hộ chiếu của hành khách, mà là một nhân viên hải quan, đúng hơn là một nhân viên phụ trách hải quan tại đây. Nhưng anh chàng đứng đó không phải để làm nhiệm vụ của mình, mà làđể giúp Vy vì là một học trò cũ của Hoài, chồng của Vy. Nhờ chức vụ trong phi trường, anh chàng đã đưaVy vào phía trong phi cảng để đón ông anh, thay vì phải chờ ngoài đường cho ông anh qua các thủ tục công an và hải quan như mọi người.

Sở dĩ anh chàng hỏi Long có visa hay không vì sợ khi ở bên Pháp nhận được điện tín về gấp không kịpxin visa chăng, nếu vậy thì anh chàng lo làm ngay visa ở phi trường cho Long. Nhưng Long nói đã cóvisa rồi và đưa hộ chiếu (passeport) cho người thanh niên này.

Anh chàng nói hai anh em Long và Vy theo mình, đến nơi có nhiều cái đuôi dài hành khách xếp hàng chờ công an phi cảng xét hộ chiếu. Nhưng anh chàng không xếp hàng mà đưa hai anh em đi thẳng lên một ghi-sê, chờ cho người công an trong ghi-sê tiếp xong người khách ở đấy, anh chàng đến đưa hộ chiếu của Long và giới thiệu đây là ông anh bà con của tôi bên Pháp về, thế là con dấu được đóng ngay vào hộchiếu và Long qua ngay. Chẳng thấy ai xếp hàng trong cái đuôi dài phản đối gì cả !

Rồi cái màn « cắt đuôi » tái diễn một lần nữa ở chỗ hải quan khám hành lý, anh chàng đến nói nhỏ với một nhân viên câu gì đó, rồi nói với Long là khi nào lấy xong hành lý thì đến người này, sẽ không phải khám xét gì cả. Thời đó ở Tân Sơn Nhứt tất cả hành lý đều phải qua khám xét, không có một cái cổng riêng « Không có gì để khai báo (Nothing to declare) » như các phi trường quốc tế trên thế giới.

Phải nói là Long chưng hửng ! Lần đầu về, trong đầu lo ngại không biết có bị làm khó dễ gì không, bạn bè còn nói muốn cho mọi chuyện hanh thông tại phi trường thì phải kẹp một tờ đô-la kha khá vào cái passeport của mình… Không ngờ chàng lại qua các cửa ải như một VIP, chỉ vì hai vợ chồng cô em có họctrò cũ nay có chức vụ quan trọng trong hải quan của phi trường. Có thể nào nói đấy là một đặc tính củavăn hóa Á Đông không ?

Và chẳng bao lâu sau, Long tìm lại được bầu khí nóng ẩm quen thuộc với chàng trong suốt thời tuổi trẻ. Chàng lại đắm mình trong tiếng ồn ào náo nhiệt của đường phố Sài Gòn, tìm lại con đường Công Lý quen thuộc đã mấy lần bị đổi tên theo vận nước.

Chàng đã về lại thành phố chôn nhau cắt rốn của chàng, sau 13 năm xa cách, tưởng chừng như khôngbao giờ còn ngày về. Chàng đang tìm về nguồn cội.

Phạm Ngọc Lân

Phạm Ngọc Lân

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s