Phát minh của một thi sĩ-Bùi Chí Vinh

Chuyện văn chương

logo Văn học

PHÁT MINH CỦA THI SĨ

BuiChiVinh

Bùi Chí Vinh

Về trí nhớ của tôn sư Lê Quý Ðôn

Lê Quý Đôn

hình hoạ Lê Quý Đôn

Hồi nhỏ tôi rất phục Lê Quý Ðôn, thần đồng về mặt trí nhớ. Theo truyền thuyết ông có thể đọc vanh vách những gì mình chỉ nhìn thoáng qua hoặc nghe qua một lần, ông đã từng cứu bồ một bà chủ quán rượu bị mất sổ ghi nợ chép trên vách vì cháy nhà. Ông cũng đã từng thoát một trận đòn của thân phụ nhờ ứng đối trước mặt khách của cha một bài thơ Ðường Luật về rắn mà câu nào cũng đề cập đến từng chủng loài bò sát.

Tôi không “xịn” như tiên sinh Lê Quý Đôn, nhưng theo lời bạn bè thì trí nhớ cũng thuộc hàng cao thủ. Từ lúc 11 tuổi đến nay tôi đã làm trên 1000 bi thơ đủ nội dung thể loại và tự hào thuộc tối thiểu cũng hơn 800 bài mình ưa thích. Khác với bậc trí giả Lê Quý Đôn, tôi bắt buộc phải thuộc thơ mình vì yếu tố thời thế. Nói hú họa, chẳng may tôi bị bọn cường quyền bạo chúa nào đó bịt miệng thì với trí nhớ trời cho, ít ra tôi cũng để dành một số lượng thơ cần thiết để lại cho thế nhân qua ghi chép hoặc khạc thơ truyền khẩu trong bàn rượu thân hữu.

Năm nay bước qua tuổi ngũ thập tri thiên mệnh đáng lẽ trí nhớ kém dần, nhưng cũng may roi vọt cuộc đời không ngừng quất vào nên trí nhớ của thi sĩ lần lượt lại khôi phục. Nếu thiên tài Lê Quý Đôn có bài thơ thất ngôn bát cú câu nào cũng nói về RẮN thì tôi cũng nối chí cha ông bằng bài thơ năm chữ câu nào cũng nói về CHÓ, vừa mua vui trong bàn rượu, vừa được chủ quán cho “xù” trong việc trả tiền. Nhân đây, bằng trí nhớ cá nhân, tôi chép lại bài thơ RẮN của Lê Quý Đôn và bài thơ CHÓ của tôi để mọi người tủm tỉm cười chơi.

BÀI THƠ RẮN ĐẦU BIẾNG HỌC

thợ săn rắn Tây Nguyên1

Chẳng phải LIU ÐIU cũng giống nhà

RẮN đầu biếng học lẽ không tha

Thẹn đèn, HỔ LỬA đau lòng mẹ

Nay thét, MAI GẦM rát cổ cha

RÁO mép chỉ quen lời lếu láo

LẰN lưng cam chịu vệt năm ba

Từ nay TRÂU lỗ siêng năng học

Kẻo HỔ MANG danh tiếng thế gia

 

BÀI THƠ VỀ CHÓ

thịt chó1

 

Sáng sớm nghe tiếng KHUYỂN

Giữa trưa bén mùi CẦY

Chiều bước vào quán CẨU

Chú TUẤT nằm đâu đây

 

Tiếng ÐỒNG QUÊ là NAI

Tiếng giang hồ là CỚM

Gần MỰC thì chú đen

Gần đèn thì chú ÐỐM

 

Thăm chú nhớ BÁNH TRÁNG

Mới nhất BẠCH nhì VÀNG

Nhâm nhi dăm XỊ ÐẾ

Mới tứ VỆN tam KHOANG

 

Về bà Hồ Xuân Hương, thuỷ tổ thơ tiếng lái

Hồ Xuân Hương1

Ngoài trường hợp độc đáo của tôn sư Lê Quý Đôn về mặt trí nhớ như đã nói ở trên, còn một nhân vật nữa trong văn học sử Việt Nam mà tôi cực kỳ ngưỡng mộ. Ðó là nữ sĩ Hồ Xuân Hương, từng được mệnh danh là “Bà Chúa thơ Nôm”, từng được coi là một trong những người phụ nữ hiếm hoi trên trái đất dám thực hiện nữ quyền một cách triệt để nhất trong thời đại phong kiến trên đe dưới búa bất chấp có thể bị nguy hại đến tính mạng. Tuy nhiên, những danh xưng ấy vẫn chưa đủ để nói về sự mở mang ngôn ngữ của bà. Theo tôi, thiên tài Hồ Xuân Hương còn là thủy tổ làm thơ về tiếng lái, là chưởng môn nhân đầu tiên của môn phái “đảo ngữ” một cách kỳ ảo tạo nên tứ thơ đối nghịch khôn lường mà những người đi sau như Bùi Giáng tha hồ kế thừa để phát huy nghệ thuật chơi chữ.

Hồ Xuân Hương là một nhà thơ ngôn ngữ hai mặt, người đời thường truyền tụng là thơ “đố tục giảng thanh”. Nhưng thơ tiếng lái của bà lại chơi đòn tréo ngoe là “chuyển thanh sang tục”.

Một minh chứng trong bài “KIẾP TU HÀNH” như sau:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo

Vị gì một chút tẻo tèo teo

Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc

Trái gió cho nên phải lộn lèo

Nếu chịu khó đọc kỹ và có máu giang hồ một chút, ai nấy phải bật cười bởi “đá đeo” tức là “đéo đa”, “trái gió” tức là “chó dái”, “lộn lèo” tức là “lẹo… l”

Một thí dụ khác trong bốn câu đầu bài thơ “CHÙA QUÁN SỨ”:

thầy chùa

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo

Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?

Chày kình, tiểu để suông không đấm

Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo…

Tương tự bài trước, nếu chiết tự ba chữ “đáo nơi neo” tức là “đéo nơi nao”, “suông không đấm” tức là “đâm không sướng”, “đếm lại đeo” tức là “đéo lại đêm”.

Sự tài hoa của nữ sĩ họ Hồ biến thành phát minh mở đường cho các thi sĩ. Tôi không có máu ngông cuồng như Bùi Giáng khi xài tiếng lái bắt chước bà, tôi cũng không sử dụng tiếng lái trong chốn phòng the, tôi “thảy” tiếng lái của thế kỷ 21 vào những nỗi đau thế thái nhân tình, những trận phong ba cơm áo tạo nên tiếng cười cay đắng cho những ai đang bị áp bức. Ít nhất tôi cũng thu thập từ truyền khẩu, giai thoại của nhân dân để viết hơn 10 bài thơ tiếng lái, xin chép ra đôi bài sau để mọi người thưởng lãm. Ðó là 2 bài thơ mang tựa “QUỐC KỲ” và “ĐẢO NGỮ HÀNH”.

QUỐC KỲ

CỜ VÀNG thì tình CÀNG VỜ

CỜ XANH sao rụng CÀNH XƠ xác cành

CỜ ĐỎ ông CÒ ĐỠ anh

CỜ HỒNG cái CÒNG HỜ nhanh lắm bồ

Treo CỜ GÌ đỡ KỲ GIỜ?

Ê, CỜ TÂY hạ CẦY TƠ ra đời!

ĐẢO NGỮ HÀNH

Hành đảo ngữ kể từ GIẢI PHÓNG

Thi ca làm PHỎNG DÁI niêm vần

Muốn in báo phải làm đầy tớ

Nhưng ta nào phải kẻ lòn trôn

 

Ta nào phải là ông Hàn Tín

Phò Lưu Bang phản bạn lừa thầy

KỸ SƯ vì thế thành CƯ SĨ

THẦY GIÁO từ đây chịu THÁO GIÀY

 

Họp ĐỒNG CHÍ thấy toàn ĐÌ, CHỐNG

XÔ VIẾT ngày nay khoái XIẾT VÔ

Hình treo LỘNG KIẾNG như LIỆNG CỐNG

Ðể thằng TO DỰ hét TỰ DO

 

Chú đeo BẢNG ĐỎ mà BỎ ĐẢNG

Mượn SAO VÀNG che đậy SANG GIÀU

CĂNG BỒNG nhờ nói CÔNG BẰNG nhỉ

LƯU MANH nào lại chẳng LANH MƯU?

 

Theo CHÍNH PHỦ ai ngờ CHÚ PHỈNH

Vào CHIẾN KHU thì bị CHÚ KHIÊNG

Mồm ĐÁNH MỸ mà tâm ĐĨ MÁNH

TIỀN ĐÂU? chú chặn họng ĐẦU TIÊN

 

GIÁO CHỨC đói meo đành DỨT CHÁO

Làm NHÀ THƠ vô bót NHỜ THA

THIÊN TÀI không đủ THAI TIỀN hả?

CẤT ĐUỐC về quê CUỐC ĐẤT à!

 

KHIẾN CHÁN ta làm thơ KHÁNG CHIẾN

Gào THI ĐUA chú bịp THUA ĐI

LÀM THƠ mà LỜ THAM mới nhục

THÌ CẤY cày mất đất THẤY KỲ

 

LÃNH TỤ sạch nhờ ôm TỦ LẠNH

BẨN NGƯỜI DO bác BỎ NGƯỜI DÂN

BÁC ĐI quá sớm thành BI ĐÁT

NGHỆ SĨ tụi con NGHĨ XỆ quần…

Về loại thơ “bỏ dấu xuống chữ” của chính tôi

Sau những cơn stress nặng về cơm áo gạo tiền công danh địa vị phù phiếm hư ảo, con người ta luôn cần có sự thư giãn. Nối tiếp tiền nhân, tôi tự thể nghiệm mình qua kiểu thơ chơi chữ đời mới cho thanh thản tâm hồn. Cụ thể tôi bỏ các dấu gồm “dấu huyền, dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng” xuống các mẫu tự của 24 chữ cái hoặc các từ để chúng thành thơ.

Xin giới thiệu cùng các bạn một số bài thơ về chữ A, B, C, các từ bão, quậy, thớ như sau:

A

Con gái ta thường kêu bằng: ả

Ðôi khi đụng “xẩm” đổi thành: a

Các em xinh đẹp thì ta: á

Giống Chung Vô Diệm thì ta: ạ

Á ạ gặp ta cũng phải: à

B

Nhìn em, ta muốn: bế

Muốn bế thì phải: bê

Bê em như bê: bệ

Bê bệ dễ rớt: bể

Ðặt xuống giường, ta: bề

C

Trong tình yêu không xài: xể

Làm như thế hai đứa: xệ

Thà rằng giận nhau, ta: xê

Ta đi bộ, em đạp: xế

Lúc gối chăn, bụng sẽ: xề

BÃO

Giữa cuộc đời giông: bão

Ta ruột xé gan: bào

Văn miếu nuôi cường: bạo

Triều đình nuôi hổ: báo

Mình ta nuôi chiêm: bao

QUẬY

Ở biển ta là cá: quẫy

Sao ngươi đem bỏ mặt: quầy

Giang hồ có câu phải: quấy

Lẽ nào ta chịu lăn: quay

Lẽ nào ta không dám: quậy

THỚ

Có con ong: thợ

Không thèm hít: thở

Khí hậu đền: thờ

Cho nên có: thớ

Mật thành ra: thơ

Bùi Chí Vinh

19.7.2008

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s