Tiếp chuyện “Người về từ mộng ảo”(ngôn ngữ HPNT):”Tau chửi,tau vẽ và…tau chết” Trần Vàng Sao Nguyễn Đính

đọc10

Trần Vàng Sao và lời thơ ‘yêu nước đau đớn’

 
Trần Vàng SaoBản quyền hình ảnhPHƯƠNG ĐÔNG
Nhà thơ Trần Vàng Sao, được biết đến với những bài thơ ‘yêu nước’ nhưng ‘đau đớn’

Nhà thơ Trần Vàng Sao, được biết đến với những bài thơ ‘yêu nước’ nhưng ‘đau đớn’, qua đời ngày 10/5.

“Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” là tên một bài thơ nổi tiếng của nhà thơ gốc Huế sinh năm 1942.

Nhưng nổi tiếng hơn có lẽ phải kể đến tập thơ “Bài thơ của một người yêu nước mình”, do Nhà xuất bản Giấy Vụn xuất bản.

Nhà thơ ‘yêu nước mình’

Báo chí của nhà nước Việt Nam có nhiều bài viết về nhà thơ Vàng Sao sau khi ông mất.

Tờ Tuổi Trẻ gọi ông là ‘nhà thơ yêu nước mình’, in năm 1967, được đánh giá là một trong 100 bài thơ Việt hay nhất thế kỷ XX.

Còn tờ Người Lao Động nói thơ của Vàng Sao có ‘giọng điệu không lẫn với ai.

 

Ông Hồ Thế Hà, Đại học Khoa học Huế, được Tuổi Trẻ trích lời, nói “Bài thơ của một người yêu nước mình” là điển hình cho phong cách Trần Vàng Sao:

Tôi yêu đất nước này cay đắng

Những năm dài thắp đuốc đi đêm

Quen thân rồi không ai còn nhớ tên

Dĩ vãng đè trên lưng thấm nặng

Áo mồ hôi những buổi chợ về

Trang VnExpress bình luận rằng:

“Bài thơ dài 155 câu được tác giả trình bày theo lối tự do. Nét đặc trưng của bài thơ là sự hòa quyện giữa cảm xúc trữ tình của tác giả với hình tượng đất nước, đặt trong liên hệ với người mẹ, người thân, người yêu và quê hương khốn khó cùng khát vọng độc lập tự do, khát vọng làm người chân chính.”

‘Nhà thơ có số phận thăng trầm’

Tờ Người Lao Động gọi ông là ‘nhà thơ có số phận thăng trầm’ trên bài viết ngày 10/5.

Trước đây, có vẻ như ít báo trong nước nhác đến nhà thơ Trần Vàng Sao. Còn những bài thơ táo bạo của ông, như bài ‘Tau chưởi’, thì chỉ có cách tìm trên Google, theo nhà văn Nguyễn Viện.

Tauchưởi

tau tức quá rồi

tau chịu không nổi

tau nghẹn cuống họng

tau lộn ruột lộn gan

…………….

tau đầu tắt mặt tốiđổ mồ hôi sôi nước mắtvẫn đồng không trự nõ cósuốt cả đời ăn tro mò trúsuốt cả đời khố chuối Trần Minhkêu trời không thấutau phải câm miệng hếnkhông được nóikhông được la hétnghĩ có tức không

tau chưởitau phải chưởitau chưởi bâytau chưởi thẳng vào mặt bâykhông bóng không giókhông chó không mèomười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nướcgiường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đâyđặng nghe tau chưởi

….

Năm 1988, nhà thơ Trần Vàng Sao tiếp tục nổi tiếng với bài thơ “Người đàn ông 43 tuổi nói về mình” đăng trên tạp chí Sông Hương năm 1988. Một bài thơ mang đến cho ông nhiều ‘khổ sở’.

Bài này chỉ tự sự, “miêu tả rất thật cảnh sống lặng lẽ của mình mà cũng đủ khiến nhiều kẻ quyền hành bất an và ra tay bịt miệng ông”, cây bút Uyên Vũ từ Sài Gòn từng bình luận trên một bài viết về những vần thơ ‘đau đớn’ của Trần Vàng Sao gửi BBC.

Tên tuổi ông được để ý hơn từ năm 2005 với bài Bài thơ của một người yêu nước mình” và nhất là khi mạng talawas đăng tập hồi ký “Tôi bị bắt”, kể về những năm tháng ông “bị bắt rồi được thả ra và sống như trong tù” (chữ của Trần Vàng Sao).

Còn nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì gọi Trần Vàng Sao là ‘nhà thơ bị cầm tù trong sự thật‘ Facebook cá nhân. Ông Hảo nhớ lại:

“Thỉnh thoảng ra Huế, tôi lại ghé ngôi nhà ở Vĩ Dạ thăm Trần Vàng Sao. Anh có gương mặt cổ quái, già nua như người của thế kỷ thứ 17, 18 còn sót lại. Thông qua cuốn sách anh viết : “Tôi bị bắt”… tôi tìm thấy ngôi nhà tù vĩ đại trùm lên cả thế hệ chúng tôi. Đó là những tù nhân được thả rông đã bị cầm tù tư tưởng, thậm chí tâm hồn bị nhốt trong tù mà lại cảm thấy tự do.”

Theo tiểu sử của nhà thơ Vàng Sao được Trần Mạnh Hảo đăng ở bài viết trên trang cá nhân, Vàng Sao là con liệt sĩ. Ông “tham gia phong trào thanh niên sinh viên đấu tranh theo Việt Cộng” và từng sống năm năm tại “chiến khu rừng Thừa Thiên Huế” để “viết báo viết văn phục vụ đảng”.

Nhưng “miền Bắc xã hội chủ nghĩa năm 1970 nghèo đói” khiến ông “thất vọng”.

“Ông bắt đầu viết nhật ký để thoát khỏi những ẩn ức thực tại có thể làm anh tuyệt vọng đến vỡ tim mà chết vì cái xã hội cộng sản bánh vẽ kia…”, nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết.

“Từ một nhà thơ dùng tên lá cờ làm bút hiệu, ông đã bị đấu tố, bị coi là kẻ phản động, nói xấu lãnh tụ, đả kích chế độ. Ông đã bị trù dập, cô lập, và bị hành hạ đến sống dở chết dở trở thành một kẻ bị mọi người khinh bỉ, xa lánh”, theo tác giả Uyên Vũ từ TP Hồ Chí Minh.

‘Vĩnh biệt thi sĩ Trần Vàng Sao’

Lời tiễn biệt thi sỹ Trần Vàng Sao cũng được nhiều cây bút đăng tải trên mạng xã hội ngày 10/5.

Facebooker Dũng Trung kể lại: “Tháng 9/2013, tôi và Lê Minh Phong ghé Huế thăm ông, uống với ông vài chai bia, nghe ông kể chuyện bị đoạ đày kinh khiếp…”

“Chẳng biết sao lúc đó tôi lại hứng thú lấy bút giấy ra ký hoạ chân dung và nụ cười của người đàn ông khốn khổ này.”

“Hôm nay ông đi. Ông đi thanh thản!”

“Cầu mong ông đến được nơi nào đó vui vẻ hơn, hạng phúc hơn… Đỡ đói, rét hơn nơi này.”

“Hy vọng ở nơi mới, đất nước mới, đồng bào mới, các “đồng chí” mới… sẽ ăn ở, đối xử với ông tử tế hơn!”

Nhà thơ Trần Mạnh Hảo cảm thán: “Anh đã đi theo cha mình là liệt sĩ, nguyện đứng dưới ngọn cờ đỏ sao vàng mãi mãi nên mới có bút danh Trần Vàng Sao…”

“Ngôi sao vàng kia không chấp nhận anh, không cho phép anh nhìn và viết ra sự thật. Ngạn ngữ Pháp có câu : “Với chữ nếu, ta có thể bỏ tháp Eiffel vào cái chai”. Vâng, nếu sống lại, trở về thời 20 tuổi, Trần Vàng Sao chắc chắn sẽ lấy bút danh là Trần Vàng…Vĩnh biệt ngôi sao của ảo tưởng đã bị sự giả dối nuốt sống, cũng như cuộc đời anh đã bị lý tưởng kia nuối sống và nhả ra một cái bã người tội nghiệp, khổ đau uất hận đến chết . Trần Vàng …Sao, thương anh vô cùng ! Anh một nhà thơ đã bị sự thật cầm tù…”

Trần Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính, sinh năm 1942 ở Thừa Thiên, Huế.

Năm 1962 ông thi đỗ tú tài rồi dạy học ở Truồi, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc Tường, Trần Quang Long, Ngô Kha.

Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao.

Sau tháng 4 năm 1975, Trần Vàng Sao xung phong về quê công tác nhưng ông bị gạt khỏi danh sách như một kẻ “có vấn đề”.

Ông tự trở lại Huế làm liên lạc ở xã, sau đó được bố trí công tác tại Phòng Văn hóa thành phố Huế rồi được điều về làm liên lạc ở xã Hương Lưu (nay là phường Vỹ Dạ), Huế cho đến khi nghỉ hưu năm 1984.

Trần Vàng Sao, một chút kỉ niệm

Trương Duy Nhất

Trương Duy Nhất

Viết từ Sài Gòn
2018-05-10
 
 
 
Nhà báo Trương Duy Nhất (trái) và nhà thơ Trần Vàng Sao (phải) tại Huế tháng 2/2016

Nhà báo Trương Duy Nhất (trái) và nhà thơ Trần Vàng Sao (phải) tại Huế tháng 2/2016

Blog Trương Duy Nhất
 

Tôi nghe tin ông qua đời với một chút bùi ngùi, một chút thương tiếc nhưng cũng có cả một chút vui mừng cho ông. Bùi ngùi bởi tiếc một bậc tài hoa, thương tiếc bởi tiếc một con người tử tế và dễ bao dung đến mức khó tin, và mừng vui cho ông bởi từ nay ông được tự do, những ai đến viếng ông thì con cháu ông ghi sổ, ông không phải ngồi hí hoáy ghi chép…!

Tôi biết ông khá muộn màng, gặp ông đúng hai lần tại nhà ông và hai lần ấy để lại cho tôi ấn tượng khá mạnh. Lần thứ nhất, tôi và một người em (nhà văn, sống ở Huế, tôi xin giấu tên) đến nhà thăm ông ở phường Vĩ Dạ, sau một cơn mưa mùa xứ Huế. Nhà ông có một cây vú sữa khá to và lâu năm trước sân. Vào nhà ông, ấn tượng mạnh nhất vẫn là khoảng sân rộng có tiếng chim gù, cây vú sữa và những bức tranh Đạt Ma của ông vẽ.

Lần đầu thăm ông, tôi cảm nhận hầu hết các bức tranh Đạt Ma do ông vẽ đều có nét mặt rất Trần Vàng Sao. Sau khi trò chuyện thân mật, tôi hỏi ông đang vẽ Đạt Ma hay là đang vẽ chính ông. Ông chỉ cười, nói nửa giỡn nửa thật rằng Đạt Ma đang vẽ ông cũng đúng…

Sau một lúc trò chuyện, tôi chuyển đến ông một chút quà do người anh em bên hải ngoại gửi tặng ông và không quên xin ông chép cho một bài thơ mới nhất. Ông nói lâu lắm rồi không làm thơ, chỉ vẽ, mà chỉ vẽ Đạt Ma thôi, làm thơ khổ quá!

Khi tôi ra về, ông không quên hỏi tên tôi lần nữa và mở cuốn sổ ra ghi đầy đủ: Ngày… tháng… năm… anh… đến thăm vào lúc …h, ngồi chơi chừng…h rồi về…  Anh người từ… đến… Nội dung nói chuyện…”. Nhìn cuốn sổ dày cộm và chi chít chữ kia, tôi hỏi ông có mấy cuốn sổ như vậy. Ông nói mình không nhớ nổi, cứ cuốn này đầy lại phải ghi cuốn khác.

Người em nhà văn ở Huế phân trần “Đôi khi ông cẩn thận đến mức mình phát chán. Nhưng thực sự khó cho ông, bởi con của ông đều làm chủ tịch phường, làm chức này chức nọ, vì vấn đề chính trị của chúng, ông phải chấp nhận hi sinh nhiều thứ thôi!…”.

Lần thứ hai, tôi đến thăm ông vì một lẽ khác, tôi muốn tìm hiểu câu chuyện về Huế Mậu Thân 1968, tôi đến tìm ông. Lần này tôi đi với một anh bạn nhà thơ khá nổi tiếng trên đất Huế và khá thân với ông. Nói cách khác, anh này là bạn vong niên của ông.

Lần thăm thứ hai này, có vẻ như ông mệt mỏi và yếu hơn lần thứ nhất mặc dù thời gian chỉ cách nhau chưa tròn năm. Ông nói chuyện không còn hoạt bát và có vẻ như ông rất ngại nói đến những chuyện nhạy cảm. Khi tôi hỏi về chuyện Mậu Thân, trong đó gồm cả Hoàng Phủ Ngọc Tường lúc đó đang ở đâu, thì ông lắc đầu, nói thôi đừng nhắc chuyện cũ chi thêm buồn và mệt lắm. Ông kể sang chuyện đốt cỏ tranh trên rừng để lấy muối và nhử chồn, nhử thỏ.

Nhưng trước lúc tôi về, ông không quên nói lại lần nữa “Lúc đó hình như Tường nó ở trên căn cứ, chắc là không tham gia đổ máu đâu. Nhưng mà cứ nào thì mình không rõ chứ chỗ cứ mình thì không thấy Tường… Mình tin là Tường nó tội lắm, nó là nhà thơ, không thể giết người được!”.

Thực ra, tôi cảm nhận được trong sâu thẳm ông muốn nói gì, bởi ông là nhà thơ có ánh mắt biết nói và nói rất rõ. Nhưng ông không muốn bạn bè tổn thương, ông cũng chẳng muốn nhắc đến bất kì chuyện gì của quá khứ, ai làm sai thì lương tâm tự vấn mà tự đau khổ, dằng vặt… Ông từng nói vậy.

Và đương nhiên, khi tôi ra về, ông vẫn không quên lấy sổ ra ghi họ tên người thăm đầy đủ, sau đó lại nói về cây vú sữa trong sân nhà rồi tiễn khách. Vấn đề tự do của ông mà tôi nói rằng tôi có chút vui mừng vì ông được tự do khi qua đời cũng nằm ở cái cuốn sổ này. Ông chưa bao giờ có tự do ngay trong cả gia đình.

Trừ người vợ tảo tần của ông ra, dường như chung quanh ông là một hệ thống chính quyền thu nhỏ, các con của ông làm chức sắc địa phương, có người làm chủ tịch phường. Và ông không được phép nói gì thêm kể từ sau Bài thơ của một người yêu nước mình. Bởi ông làm cha, ông không thể ngồi viết những câu thơ khiến cho nồi cơm và cái ghế của con ông bị hất đổ. Và ông vẽ, ông vẽ như một sự ký thác linh hồn. Có lẽ vì vậy mà ông vẽ Đạt Ma khá là giống ông.

Có thể nói rằng hai chữ tự do theo nghĩa trọn vẹn của nó đối với cuộc đời Trần Vàng Sao là quá xa xỉ  và hoang đường. Ông bị mất tự do trên mọi nghĩa. Và cuộc đời ông, có lẽ chỉ có vợ ông và những câu thơ là hiểu và gần với ông nhất!

Và hình như, ngoài những người tìm đến thăm ông như một tri âm, trong giới văn nghệ nhà nước cũng lắm kẻ đến để bá vai, quàng cổ, chụp hình cùng ông và không quên diễn một tư thế để thấy mình cao hơn ông một chút hoặc mạnh mẽ, trẻ trung hơn ông một chút… Cái “một chút” đó không biết để làm gì nhưng người ta thường làm vậy. Chính vì vậy mà khi ông qua đời, có lắm người khi ông sống cũng chẳng thân thiết chi, nhưng nghe tin ông mất là trưng ngay một tấm ảnh chụp chung với ông cùng vài lời thương tiếc. Đương nhiên có người thương tiếc ông thật, cũng có người không biết có thật tình thương tiếc ông không!

Bởi tôi nghi ngờ điều này khi họ khoác cho ông một chiếc áo dũng cảm, dám nói dám làm. Không, Trần Vàng Sao không phải là một người như họ mô tả đâu! Ông cũng sợ nhiều thứ, ông sợ ngay cả những bài thơ của ông và ông chịu mất tự do, ngay cả việc uống cà phê với bạn bè, ông cũng hạn chế uống và mỗi lần uống, ông tranh thủ hít thở như đang nuốt lấy nuốt để bầu tự do thoáng qua. Và những lúc như vậy, nói chuyện là một cực hình đối với ông.

Tôi mới gặp ông có hai lần thôi nhưng sao tôi dám nói về ông nhiều vậy? Bởi hai lần gặp ấy, tôi chứng kiến mọi thứ, kể cả việc mời ông cùng ra phố uống cà phê và khi đưa ông về, ông nói là dạo này hơi hụt tiền nên chẳng dám cà phê, tôi lại nhờ ông chép tặng tôi bài thơ để tôi gửi nhuận bút cho ông. Chỉ là cái cớ thôi! Và gặp nhau cũng chỉ là cái cớ, làm thơ cũng là cái cớ, viết văn cũng là cái cớ và sống cũng chỉ là cái cớ để thấy mình tự do trong phút chốc với thiên thu!

Những bài thơ xé lòng…

Trong bài VHNT tuần trước Mặc Lâm đã giới thiệu tiểu sử của Trần Vàng Sao, một nhà thơ lắm truân chuyên, theo cách mạng trong những ngày bầu nhiệt huyết còn sôi trong huyết quản để rồi khi chạm mặt với thực tế, ông chỉ biết thở dài qua những vần thơ.
Trần Mộng Lâm
Mặc Lâm(?)
biên tập viên RFA
2012-12-01
Nhà thơ Trần Vàng Sao

Nhà thơ Trần Vàng Sao

Photo courtesy of Phanxipăng/tienve.org

Thế nhưng một đồng chí sát cánh chiến đấu với ông đã mang những con chữ than vãn ấy giao cho cán bộ chỉ huy như một bằng chứng phản động của nhà thơ, và kết quả ông bị giam năm năm trời không qua xét xử.
Trần Vàng Sao trở thành người sống ngoài vòng xã hội trong nhiều năm sau đó. Ông và gia đình truân chuyên không những vì sự đói rách của một người bị chế độ thải ra mà truân chuyên trên chính mảnh đất đầy phù sa thi ca của cá nhân mình trong một quãng thời gian rất dài, dài và buồn bã.

Những bài thơ của Trần Vàng Sao được các bạn trẻ trong nhóm Giấy Vụn gom góp và xuất bản. Chỉ một thời gian ngắn, hải ngoại biết đến ông như một cây viết mòn mỏi chống trời. Trong nước bạn trẻ tìm đọc, người yêu thơ tìm đọc… những bài thơ với các cung bậc khác nhau hòa lại làm thành một Trần Vàng Sao vừa rực rỡ của thứ ngôn ngữ bình thản lạ kỳ lại vừa trói người đọc, người nghe vào thứ cảm giác của một cảnh lên đồng đầy màu sắc, khiến họ rưng rưng cảm nhận trong cơ thể thứ chia sẻ rất người từ hơi thở run rẩy của những bài thơ khô lệ.

Đọc Trần Vàng Sao người ta có cảm giác như ông đang nói chuyện. Ông nhào nặn ngôn ngữ thường nhật và gia vị chúng chỉ bằng một vài chi tiết bất ngờ nhưng tinh tế khiến câu thơ tuy phẳng phiu nhưng không gian chung quanh nó lại reo vui hay trầm lắng và không ít khi bốc cháy.

Thơ tình của Trần Vàng Sao là một bí ẩn bởi nó dung dị, như một chiếc bàn ủi đốt bằng than, vuốt, là những nếp nhăn tình yêu với sự cẩn trọng của cách mà thi ca đã qua thời kỳ hào nhoáng.

Thuở ấy mưa gió xa xôi

“Rồi em sẽ không còn nhớ
những bài thơ tỏ tình buồn bã của tôi lúc đó nữa
và em cũng sẽ không hiểu gì tôi hết
như những người vừa mới yêu nhau
nói qua nói lại những lời trên trời dưới đất

tôi hôn em
như em hôn tôi
lúc đó nhìn chiếc lá rụng ngoài sân
tôi nói những cuộc tình duyên cay đắng muộn màng
và trời mưa tháng mười
tôi hẹn hò em ở quán nước bên kia cầu An Cựu
khuôn mặt em tái đi
tôi ngồi co ro ướt át
những ngón tay em động đậy trên bàn
tôi hút thuốc nhìn em
chiếc xe hàng dừng lại không có người xuống
em cười thành tiếng chỉ cho tôi những hàng cây mù trong núi xa

tôi nói
con sông này chật nước chảy qua không mau
còn bây giờ thì trời mưa to
còn tôi thì ngồi với em ở đây như đá
bên kia đường hai người đàn bà bỏ gánh xuống
núp mưa che gió hút thuốc nhìn trời

chút nữa tôi đưa em về
qua những con đường gió thổi trên đồng trống
hết ngã ba ngã tư tới ngã sáu
đi đường Nguyễn Tri Phương vòng Lê Thái Tổ cho dài
qua đò Thừa Phủ học trò chưa bãi nên không có ai

tôi nhìn mưa giọt trên sông
nghe em hát nho nhỏ trong nón
gió xa xôi vẫn về
mưa giăng buồn lê thê
biết bao năm nữa trời
rồi thôi
em về có còn nhớ
thuở ấy mưa gió xa xôi
tôi làm người tình ngu ngơ đã đành
nên yêu em dại dột
em đi rồi tôi còn đứng mỏi chân
ướt át cây lá”

Những câu như: con sông này chật nước chảy qua không mau/ tôi nhìn mưa giọt trên sông/ nghe em hát nho nhỏ trong nón/ em đi rồi tôi còn đứng mỏi chân/ ướt át cây lá… vừa nhẹ vừa lạnh và nhất là ướt… cái ướt của những ngày đầu yêu nhau đã buồn như định mệnh…

Ở một bài thơ khác, Trần Vàng Sao kể lại câu chuyện của một đứa trẻ con đứng nhìn đám ma với ánh mắt của một triết gia. Em không hề chia sẻ tiếng khóc, tiếng kèn buồn của người đưa đám. Em tha thẩn nhìn trời đất, nhìn bốn phía với con mắt tròn vo hờ hững. Em nhìn phớt, nhìn biếng nhác, nhìn như không nhìn. Có lẽ sự cô tịch của em đã bắt đầu từ rất lâu trong cái không gian mà em và con người còn quá nhiều phân cách.

Đứa Bé Thả Diều Trên Đồng Và Vắt Cơm Cúng Mả Mới

Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Văn Nghệ Quảng Trị.
Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Văn Nghệ Quảng Trị. Photo: RFA

“không có ai đi ngang qua đây để thấy con diều
của tôi
buổi trưa đứng bóng trên trời rất nhiều gió
tôi nằm ngửa nhai mấy cọng cỏ gà
nước cỏ non mát trong cổ
tôi đói bụng và muốn nhắm thật lâu hai con mắt
lại rồi ngủ quên
gió rớt lào rào trong lá tre trên đầu
tôi không thấy mặt trời đâu hết
chỉ có mấy con châu chấu nhảy trong tóc
và mùi trú ngún trong bếp ở xa
tôi nhớ những miếng sắn khô luộc chấm với muối
sống
bây giờ thì không còn gì nữa
tôi nằm nghiêng co người lại nhìn con diều
buồn quá nằm lâu không được
tôi đi lên cồn mả ngồi cho cao
nhiều người đứng đông đang cúng lạy
những đứa con nít bằng tuổi tôi bịt khăn đỏ khăn
vàng đi giày dép đưa tay che mắt nhìn con
diều giấy của tôi trên trời”…

Em thả diều và lơ đãng chờ người ta ra về để ăn chén cơm cúng và bần thần tự hỏi không biết khi nhà mình có người chết có cơm để cúng hay không?

“tôi ngồi xuống đất
những hột cơm trắng và khô
tôi ăn cả tàn hương phẩm đỏ vào bụng
liệu ai ở nhà tôi chết có được một vắt cơm to
trắng thế này để trên mả không

tôi phủi hai bàn tay vào nhau
đến chiều gió rất to
hai cái đuôi con diều muốn đứt
nhưng tôi không còn giây nữa”

Rời khỏi cái không gian của trẻ nhỏ hiu quạnh, Trần Vàng Sao nói về thời trung niên của mình đầy những chi tiết đời thường như hàng triệu người cùng lứa tuổi đang sống trong bầu khí quyển ngột ngạt một thời sau khi đất nước chuyển mình đỏ rực.

Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình

Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” được Trần Vàng Sao vẽ lại với bút tích của một họa sĩ tả chân bậc thầy. Trần Vàng Sao vẽ tranh tĩnh vật bằng ngôn ngữ nhưng không hề thua bất cứ danh họa tả chân nào.

Những vật thể trong bài thơ mỗi thứ một tiếng nói. Âm thanh riêng lẻ của chúng tựa vào nhau, đôi khi xô đẩy nhau để chỉ làm một công việc là kể câu chuyện của người đàn ông tuổi Tỵ ấy. Ông lấy các vật thể vô hồn ấy để miêu tả chính ông, một con người thừa.

“tôi tuổi tỵ
năm nay bốn mươi ba tuổi
thường không có một đồng trong túi
buổi sáng buổi chiều
thứ hai thứ ba thứ bảy chủ nhật
trong nhà ngoài sân với hai đứa con
cây cà cây ớt
con chó con mèo
cái đầu gãy cái tay gãy của con búp bê
cọng cỏ ngọn lá vú sữa khô
thúng mủng chai chén sách vở quần áo mũ nón cuốc rựa trên ghế dưới bàn
hai ba ngày một tuần một tháng có khi không đi đâu hết
một hai ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó trời nghe chó sủa
miếng nước trà mốc nguội có mùi bông lài rát cổ
cũng không có chi phiền
vấn một điếu thuốc hút
hai ba lần tắt đỏ
rồi nửa chừng rách giấy
bạn bè gặp nhau
cho uống một ly cà phê
một lần
qua hai lần phải tránh
không phải ai cũng nghĩ như mình
nhiều đứa vui gặp nhau cho năm ba đồng một chục
đưa tay cầm lấy
miệng nói không được”
…….

Khách vào nhà thấy nhà thơ leng keng với những vụn vặt nhưng không thể phủ nhận những đụng đậy nhỏ nhoi ấy làm cho mình thức giấc. Đời sống của một gã đàn ông trung niên chỉ loanh quanh trong chừng ấy thứ thì trách sao ông ta không làm thơ!

Chỉ có làm thơ mới giải tỏa được sự đè nén bởi đối với ông chung quanh không còn chỗ nào khơi mở được những ám ảnh về cuộc sống như ông đang chịu đựng.

Từ nhà bước ra, người đọc thơ lại chứng kiến một cảnh khác. Không gian bên ngoài chừng như im lặng mặc dù đám con nít đang đùa vui. Sự nghèo khó kéo nhau ra khỏi nhà, đến nỗi chỗ ngồi của nhà thơ cũng bị thiên nhiên làm nghèo đi, nhỏ đi, chỉ còn là một một hòn đá.

“tôi ngồi trên hòn đá trước nhà
buổi chiều không có một con chim đậu trên cây
đám trẻ con chia phe bắn nhau cười la ngoài sân
đứa sống đứa chết cãi nhau ăn gian chửi thề
những người đi bán về nói chuyện to
hai đứa nhỏ nhà bên cạnh cầm đèn che miếng lá chuối
qua xin lửa hỏi tôi nấu cơm chưa
tôi cười lắc đầu muốn đi ngủ
trong gió có mùi rơm cháy
tôi không biết làm gì hết
tôi bỏ hai chân ra khỏi dép cho mát
đám trẻ con bỏ chơi chạy theo phá đàn trâu bò đi qua
tôi bước vào nhà mở rộng hai cánh cửa lớn thắp một cây đèn để lên bàn thờ
hai đứa con ra ngoài đường chờ mẹ chưa về
trời còn lâu mới tối
tôi đi gánh một đôi nước uống”

Bài thơ còn dài với những nỗi buồn xếp hàng chờ nhà thơ điểm danh. Trần Vàng Sao tỏ ra rất thừa thời gian trong cuộc sống để chiêm nghiệm những gì đến với ông. Những bức bách mà cuộc đời đem đến chỉ làm ông buồn, tuy nhiên đối với những “đồng chí” chung quanh thì ông không hiền như thế.

Trong văn học dân gian, không hiếm những bài vè, lục bát dùng để chửi bới người mình ghét. Nhưng đối với các nhà thơ vốn quen thuộc và trân trọng những con chữ thì việc chửi bới là một điều phạm húy. Trần Vàng Sao chẳng những không sợ chữ nghĩa đau đớn mà ông còn bóc trần, nạo hết nét vàng óng bên ngoài của chúng để phục vụ cho một bài thơ mà ông cảm thấy hả hê. Ông dùng thơ để chửi cả một chế độ. Chửi từng sự việc, từng con người. Cách chửi của bà nhà quê mất gà được ông “biên đạo” lại thành của riêng, gây sốc lẫn gây cười cho người đọc bài thơ.

Có điều là cười xong thì người ta lại chảy nước mắt….

Tau chưởi

Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit.
Nhà thơ Trần Vàng Sao. Photo courtesy of Wikivietlit. Photo: RFA

tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
…………….
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
……………

tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
……..

bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá họa
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
……

thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu”
…….

Không ít người dễ dàng đồng ý với Trần Vàng Sao khi chọn cách chửi để trút mối hận trong suốt cuộc đời mình.

Chắc không phải một mình ông hả hê. Còn biết bao nhiêu người khác nữa sẽ hả hê nếu đọc được những câu chửi nhàu nát này. Tuy thế tận sâu thẳm trong nỗi hả hê đó vẫn là niềm cay đắng không thể nào khỏa lấp.

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s