TIN-Phiếm Song Thao

phiem

phiếm cà phê

TIN

song thao2
*SONG THAO

Nhậu và chết

Dịp lễ Phục Sinh năm nay, Project Canada Surveys cùng Angus Reid làm một cuộc thăm dò tại Canada về đức tin tôn giáo. Tôi chú ý tới ba câu hỏi về sự tin tưởng những gì xảy ra sau khi con người giã từ cõi thế. Câu hỏi rất rõ ràng: “Bạn có tin vào cuộc sống đời sau không?”. Tính chung có 66% tin. Nếu tính theo độ tuổi có sự khác biệt: độ tuổi trẻ nhất của cuộc thăm dò là từ 18 đến 29 tuổi, có 70% tin; độ tuổi già nhất từ 70 tuổi trở lên, có 59% tin. Câu hỏi thứ hai: “Bạn tin có thiên đàng không?”. Độ tuổi trẻ nhất có 62% tin, độ tuổi via nhất có 64% tin. Câu hỏi thứ ba: “Bạn tin có hỏa ngục không?” Độ tuổi trẻ nhất có 46% tin, độ tuổi già nhất chỉ có 35% tin.
Phân tích kết quả này, chúng ta thấy có vài điều vui vui. Mấy ông bà via, trên bảy chịch, chỉ còn vài bước là tới lúc phải ra đi, đi tới một nơi không bến bờ, nên rét, nhắm mắt không muốn tin, vậy nên mới chỉ có 59% tin vào đời sau trong khi giới trẻ có tới 70% tin. Cũng nực cười là giới trẻ ít lui tới nhà thờ, ít chú ý tới chuyện họ thường nghĩ là còn lâu mới tới, vậy mà có tới 70% tin. Vui nhất là chuyện giới via tin vào thiên đàng và địa ngục. Thiên đàng dĩ nhiên dễ chịu hơn địa ngục nên có tới 64% tin vào thiên đàng trong khi chỉ có 35% tin vào địa ngục. Cứ nghĩ vậy để an tâm ra đi!
Nhưng chuyện thiên đàng và địa ngục chẳng phải chỉ là chuyện của giới via. Tôi nhớ tới một trò chơi ngày còn nhỏ. Hai đứa, thường là hai đứa cao nhất, bắt tay nhau, giơ cao làm thành cổng thiên đàng, những đứa còn lại nằm đuôi áo nhau thành hàng vừa đi chui qua cánh cổng vừa hát bài đồng dao:
Thiên đàng địa ngục hai bên
Ai khôn thì về, ai dại thì sa
Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha
Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn
Linh hồn phải giữ linh hồn
Đến khi mình chết được lên thiên đàng.
Dứt tiếng hát là cổng thiên đàng sụp xuống, đứa nào chưa qua cửa sa hỏa ngục ráng chịu. Nhưng trước khi sa hỏa ngục, phải chịu hình phạt đã thỏa thuận trước như hít đất, nhéo lỗ tai và nhiều trò khác.
Hình như già trẻ lớn bé, ai cũng thắc mắc về thiên đàng và địa ngục, nơi chưa ai đặt chân tới. Càng già càng thắc mắc dữ vì đã bị đẩy tới sát biên giới giữa hai cõi. Tôi nhớ có đọc một bài viết của nhà phê bình Thụy Khuê về thắc mắc này. Bà dặn bạn bè sắp vào cửa tử nhớ báo về cho biết thế giới bên kia ra sao, nhưng chẳng ai thèm về nói chi với bà. Dịp tết vừa qua, tôi tới Cali và ghé nhà đốt nén hương cho ông bạn Nguyễn Mộng Giác. Chị Diệu Chi cho biết là trước khi anh Giác mất, chị có dặn đi dặn lại là nhớ về báo cho chị biết cảnh giới bên kia ra làm sao. Anh đã giữ lời hứa. Một đêm, khoảng 2 giờ khuya, chị nghe tiếng điện thoại reo, nhấc lên nghe thấy tiếng nói: “Không thể nói được!”. Chắc là thiên cơ bất khả lậu!

Barbara Walters
Bà Barbara Walters chắc nhiều người trong chúng ta biết. Bà là một phóng viên kỳ cựu nổi tiếng của các chương trình truyền hình nặng ký. Bà đã từng phỏng vấn hầu hết các tai to mặt lớn trên khắp thế giới. Ngày 6 tháng 7 năm 2012, trên mục 20/20 của đài truyền hình ABC, bà cho phát một chương trình phỏng vấn đặc biệt với chủ đề: “What is Heaven? Where is it? How do we get there?”. Thiên đàng là cái chi chi, ở nơi mô và làm sao tới đó? Bà đã cất công phỏng vấn một số các vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo lớn: Do Thái Giáo, Bà La Môn, Hồi Giáo, Tin Lành, Thiên Chúa Giáo, Phật Giáo. Bà cũng nói chuyện với ông Willard Mitt Romney, ứng cử viên chức Tổng Thống của đảng Cộng Hòa vào năm 2012. Ông này theo đạo Mormon, một đạo quyết đoán là khi chết tất cả loài người sẽ vào thiên đàng! Ngoài ra bà còn tìm hiểu thêm nơi các nhà khoa học, tâm lý và những bệnh nhân đã chết lâm sàng rồi sống lại. Đối tượng được bà phỏng vấn nặng ký nhất là Đức Đạt Lai Lạt Ma.

Đạt lai lat ma

Bà hỏi thẳng: “Thưa Ngài, thiên đàng ở đâu?’. Đức Đạt Lai lạt Ma trả lời: “Kinh điển đạo Phật diễn tả (thiên đàng) ở trong mười phương, đông tây nam bắc, trên dưới…Những sách vở cổ truyền Tây Tạng diễn tả sáu loại địa ngục và sáu loại thiên đàng…Thiên đàng là nơi rất hạnh phúc, rất vui sướng, nơi tốt nhất để phát triển tâm linh xa hơn”. Như vậy thiên đàng không phải là bến đậu vĩnh viễn của người công chính. Đức Đạt Lai Lạt Ma cho biết tiếp: “Đối với người Phật Tử, mục tiêu sau cùng không phải là chỉ đến đó nhưng mà để thành Phật”. Bà Barbara hỏi cho rõ hơn: “Vậy thì thiên đàng không phải là một nơi thường trụ, mà giống như là một nơi chờ đợi, không phải là nơi cuối cùng. Phải vậy không, thưa Ngài?”. Trả lời: “Vâng. Đạo Phật tin rằng sau khi chúng ta chết, chúng ta sẽ tái sinh hết lần này đến lần khác, sẽ sống trong nhiều kiếp sống… Phật giáo tin rằng mục tiêu tối hậu là Niết Bàn hay Giác Ngộ, trong thể trạng toàn tri toại nguyện. Niết Bàn cao nhất là Quả Phật, hoàn toàn loại trừ tất cả những cảm xúc tiêu cực, và điều ấy tự động đưa đến giác ngộ”.
Thiên đàng của Thiên Chúa Giáo là nơi hạnh phúc miên viễn vì đó là nhà của Cha chung của mọi người, nơi mọi người hy vọng sẽ tới. Thánh Philip Neri, tông đồ thứ ba của Chúa, sau thánh Phêrô và Phaolô, gặp một người con gái tuyệt vọng vì nghĩ mình là người quá nhiều tội lỗi, chẳng bao giờ được lên thiên đàng. Cô nghĩ chỗ của cô là hỏa ngục. Sau khi nghe cô than khóc, thánh Philip an ủi: “Thật là tai hại khi con tin rằng con sẽ được dành cho lửa đời đời, thiên đàng mới là của con”. Để chứng minh, thánh nhân hỏi: “Chúa đã chết cho ai?”. Cô gái đáp: “Thưa, cho người tội lỗi”. “Đúng vậy! Vậy bây giờ con nghĩ con là một vị thánh sao?”. “Không, con là một kẻ đầy tội lỗi”. Thánh Philip tiếp: “Như vậy chính vì con mà Chúa đã chết, và chắc chắn Chúa chết là để cho con được vào thiên đàng. Vậy thì thiên đàng là của con, bởi vì con đã gớm ghét tội lỗi, con đừng nghi ngờ chi nữa”.
Thiên đàng là của những người biết gớm ghét tội lỗi, biết ăn năn hối cải về những điều sai trái mình làm, biết trở về với thương yêu. Đó là điều Thiên Chúa Giáo thường xuyên giảng dậy: yêu người như yêu chính mình vậy.

tượng người không nhà(Chúa Giê Su)
Một tín đồ sùng đạo nói với Chúa: “Thưa Ngài, con muốn biết thiên đàng và địa ngục như thế nào”. Chúa dẫn người đó tới một cánh cửa, mở ra. Người tín đồ nhìn vào. Ở giữa phòng kê một cái bàn tròn lớn. Giữa bàn là một nồi súp bốc khói nghi ngút, trông thật hấp dẫn và ngon lành. Những người ngồi quanh bàn trông gầy yếu, xanh xao, như thiếu ăn từ lâu, mỗi người cầm một chiếc muỗng có cán dài. Vì chiếc muỗng quá dài nên họ không thể đưa thức ăn vào miệng, người nào cũng cố gắng nghĩ cách làm sao mình có thể đưa thức ăn vào miệng được. Mỗi người đều vội vàng nên muỗng va vào nhau khiến họ cãi nhau chí chóe. Chúa đưa người tín dồ tới một phòng khác, mở cửa cho coi. Trong phòng cũng có bàn và nồi súp y hệt như bên phòng kia. Mỗi người cũng có một chiếc muỗng có cán dài nhưng quang cảnh rất bình an và vui vẻ. Tại sao vậy? Vì mỗi người đều dùng chiếc muỗng dài để múc thức ăn cho người khác nên mọi người đều húp được súp. Chúa kết luận: thiên đàng và địa ngục không có chi khác biệt. Nhưng hai bên vẫn khác nhau vì cách con người sống và đối xử với nhau. Nếu chúng ta sống với nhau trong tình yêu thương, giúp đỡ, chia sẻ với người khác thì lúc đó chúng ta đang sống trong thiên đàng. Ngược lại, nếu chúng ta sống ích kỷ, chỉ biết tới mình, mặc kệ người khác, sống chết mặc bay, thì đích thị chúng ta đang sống trong địa ngục.
Vậy thì thiên đàng hay địa ngục là cách con người đối xử với nhau. Trong cuốn “Góp Nhặt Cát Đá”, thiền sư Muju kể: một người tới xin thiền sư Hakuin (1686-1768) cho biết thiên đàng và địa ngục có thật không. Thiền sư hỏi: “Anh là ai?”. Đáp: “Tôi là một kiếm sĩ samurai”. Thiền sư mỉa mai: “Anh là kiếm sĩ? Trông anh chẳng khác tên ăn mày!”. Tức giận, người đó sờ tay vào đốc kiếm. Trông thấy vậy, thiền sư thánh thức: “Anh mà đủ gan cắt đầu ta ư?”. Kiếm sĩ rút kiếm ra, thiền sư ngửa cổ nói: “Đây, hãy mở cửa địa ngục đi!”.

kiếm sĩ

Tỉnh ngộ, kiếm sĩ tra kiếm vào vỏ, cung kính chắp tay xá. Trong khoảnh khắc, kiếm sĩ nhận ra một chuyển đổi kỳ lạ trong tâm, từ ngạc nhiên, sợ hãi đến lòng trắc ẩn và tình thương cho một người đã dám hy sinh mạng sống để dạy cho hắn một bài học. Những giọt nước mắt biết ơn tuôn ra trên mặt hắn. Thiền sư nhẹ nhàng nói: “Cửa thiên đàng vừa mở!”.
Tác giả Trần Đình Hoành luận thêm: “Thiên đàng và địa ngục trong tâm ta, ở đây, lúc này. Và chính ta là người gác cổng thiên đàng, cũng như hỏa ngục. Chính ta đưa ta vào thiên đàng hay hỏa ngục. Yêu là thiên đàng, ghét là địa ngục. Bố thí là thiên đàng, tham lam là địa ngục. Khiêm tốn là thiên đàng, kiêu căng là địa ngục. Từ bi là thiên đàng, sân hận là địa ngục. Thành thật là thiên đàng, dối trá là địa ngục. Tĩnh lặng là thiên đàng, xung động là địa ngục. Và đây không phải là triết lý hay lý luận. Đây là sự thật, Các bạn chỉ cần nhớ lại cảm giác khi yêu, khi ghét, khi khiêm tốn, khi kiêu căng, thì biết ngay đâu là thiên đàng đâu là địa ngục. Không cần ai dạy mình thiên dàng ở đâu, địa ngục ở đâu. Nếu nói chuyện thiên đàng địa ngục sau khi chết thì các vị đều nói dối vì chẳng vị nào chết rồi sống lại về đây để kể chuyện. Ai cũng nói theo sách hay theo tưởng tượng…Bạn có thể nhờ Phật nhờ Chúa giúp bạn sống bình thản, an nhiên tự tại. Các vị có thể cố vấn cho bạn một tư duy, kích thích cho bạn tích cực hơn một chút. Nhưng chính bạn phải sống an nhiên tự tại. Các vị chẳng thể sống giúp bạn được…Chúng ta làm chủ tâm ta, làm chủ thiên đàng và địa ngục của ta, là thánh nhân trong thiên đàng và tù nhân trong địa ngục của ta”.
Thiên đàng và địa ngục như vậy đã di chuyển địa điểm. Chúng nằm chình ình trong cuộc sống của chúng ta. Nói vậy cũng chỉ đúng có một nửa. Khi chúng ta tạo ra thiên đàng hay địa ngục của chúng ta trong thế giới này, chúng ta cũng đồng thời để dành thành quả này vào cuộc sống mai hậu của chúng ta, khi chúng ta bước vào thế giới bên kia.
Các cụ trên bảy chịch của Canada có 64% tin vào thiên đàng nhưng chỉ có 35% tin vào địa ngục chứng tỏ các cụ rét. Đang đứng vững trên hai chân (có khi ba hoặc bốn chân không chừng!), bỗng thấy mình rơi và một khoảng không, rét là cái cẳng. Biết đi mô về mô. Bỏ hết nhà cửa, vợ con để một mình rơi vào một nơi chốn vô định, làm chi mà không run. Nhưng nếu chúng ta biết là những công nghiệp, thiện tâm mà chúng ta tạo ra trong cuộc sống đã cho chúng ta hưởng được thiên đàng ngay trong cuộc sống này sẽ theo ta qua cuộc sống khác, để chúng ta hưởng được thiên đàng trong cuộc sống đó, thì có chi mà run. Nhảy từ trên máy bay xuống là chuyện chết chắc, nhưng nếu, như người lính nhảy dù, có đeo chiếc dù sau lưng, biết gần như chắc chắn dù sẽ mở để đỡ chúng ta xuống đất an toàn, thì có chi mà sợ. Nếu giã từ cõi thế mà chúng ta có chiếc dù nhân ái do những điều thiện mà chúng ta thực hiện được trong cuộc sống, thì thiên đàng nằm trong tay. Ngự ở thiên đàng sướng chi bằng!
Đạo Phật lấy quy luật nhân quả làm căn bản. Tất cả những gì chúng ta làm trong cuộc sống nơi thế gian này là những hạt giống, còn gọi là chủng tử thiện hoặc ác, trong tương lai khi hội đủ cơ duyên, sẽ nảy nở thành những thiện quả hoặc ác báo. Theo một tài liệu trong Thư Viện Hoa Sen thì thiện quả hoặc ác báo này chứa tại Thức Thứ Tám, còn gọi là Tàng Thức hoặc A Lại Da Thức. “Thức này là lớp Vọng, cũng mênh mông như Chân Tâm, tạm ví như làn sóng điện trong không gian. Những chủng tử thiện hoặc ác này sẽ xuất hiện vào giây phút lâm chung, để quyết định cảnh giới tái sinh của đương sự, nhà Phật gọi là “gió Nghiệp cuốn đi tái sinh”. Một số người có kinh nghiệm về cận tử kể lại đại khái rằng vào lúc họ cảm thấy muốn ngừng thở, bỗng nhiên trước mắt nổi lên một cảnh tượng tràn ngập không gian, cả quãng đời quá khứ, những việc làm khiến họ rất sung sướng hoặc rất đau khổ, xuất hiện như là đồng thời. Họ cảm thấy như trong giấc mơ, như là hình ảnh của ký ức. Đối với quan điểm của nhà Phật thì đó là giây phút mà một người có thể nhìn thấy được chính cái kho chứa các nghiệp nhân, tức là Tàng Thức của mình…Người Phật tử không tin vào sự cứu rỗi do bên ngoài mang đến, mà tin vào chính mình, như lời Đức Phật: ‘Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành’…Người nào tạo nhân thì người đó lãnh quả, người nào ăn thì người đó no, người nào tu hành thanh tịnh hóa tâm thì người đó giác ngộ”.
Tin là biến cái không thấy thành cái hiện hữu. Nếu thấy chình ình trước mắt thì còn tin với không tin chi. Tôi đã có lần kể chuyện ông thầy lớp nhất tiểu học của tôi dạy tiếng Pháp. Ông nói về sự khác biệt của một từ đồng âm dị nghĩa của Pháp. Tiếng Pháp foie có nghĩa là “lá gan”. Ông bảo nhìn vào chữ “e” ở cuối. Đó là hình lá gan. Fois có nghĩa là “lần”. Nhìn vào chữ “s” ở cuối thấy hình người cõng nhau. Phải là chữ “s” viết tay mới ra hình đó, còn đánh máy thì không ra cái chi cả. Khi học trò chơi đánh đáo đánh bi với nhau, mỗi lần thua thì người thua phải cõng người thắng mấy lần, tùy theo thỏa thuận. Còn chữ foi là “tin”, đằng sau trống rỗng chẳng có chi cả. Không biết đó là cái thông minh biến tiệp của thầy tôi hay tiếng Pháp cũng tượng hình cao siêu như vậy, nhưng cho tới bây giờ, tôi chẳng bao giờ nhầm lẫn khi viết những chữ đó.

cảnh thiên thai
Thiên đàng là nơi chưa ai đặt chân tới. Người ta tin là có thôi. Tác giả Huỳnh Ngọc Chiến lý giải nơi chưa ai tới nhưng ai cũng mong tới này. “Thiên đàng của hầu hết các tôn giáo phải chăng chỉ là cảnh giới lý tưởng để tín đồ ước mong tìm được ở nơi đó những gì mà họ thấy thiếu nơi trần thế? Chẳng hạn thiên đàng trong trí tưởng của người Á Rập là nơi luôn có những dòng suối mát, do họ phải sống trong sa mạc khô cằn; thiên đàng của các chiến binh Hồi giáo luôn có các cô nàng tiên nữ xinh đẹp phục vụ vì đời sống tình dục của họ quá mạnh. Đọc kinh Koran, ta thấy yếu tố tình dục nổi bật lên. Nguyện thứ 19 trong Đại phẩm Bát-nhã có câu: “Nguyện nhân dân trong quốc độ của ta không có cái nạn đại tiện, tiểu tiện” suy cho cùng chỉ là mong ước muốn đưa điều kiện vệ sinh đạt đến một trạng thái thật hoàn hảo, vì điều kiện vệ sinh của người dân Ấn quá tồi tệ. Hoặc đại nguyện “mong muốn tất cả người dân trong quốc độ có chung một sắc da vàng” thực ra chỉ là ước mơ về một xã hội bình đẳng, xóa bỏ tệ nạn kỳ thị màu da, chủng tộc hiện vẫn còn tràn lan trên thế giới”.
Thiên đàng có nhiều loại như vậy. Không biết 64% các cụ Canada trên bẩy chịch tin có thiên đàng, chọn loại thiên đàng nào?

Song Thao

04/2018

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s