Chuyện Kon Tum hôm nay với mưu sinh của hai sắc tộc Rơ Măm và Xê Đăng

logo phóng sự

nhà rông

Kon Tum: sắc tộc Rơ Măm với  đặc sản trứng kiến

Sau khi chọn những con cá suối to bằng ba ngón tay, người ta đem làm sạch, băm nhuyễn, vắt cho cạn nước để đỡ mùi tanh rồi trộn cùng với trứng kiến

Dưới chân núi Chư Mom Ray hùng vĩ, có một tộc người nhỏ bé với vỏn vẹn gần 500 nhân khẩu. Vì chiến tranh ly loạn, rừng thiêng nước độc, nên đã có lúc dân tộc này đứng trên bờ vực suy thoái giống nòi. Song giờ đây, tộc người này đang có dấu hiệu hồi sinh.

Tộc người bước ra từ rừng già

Vỏn vẹn chưa đầy 500 nhân khẩu, quần cư tại làng Le, xã Mo Ray, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, người Rơ Măm từ các bậc già làng đến đám con trẻ đều cảm thấy tự hào mỗi lần nhắc đến tộc mình. Ý nghĩa của hai từ Rơ Măm là gì thì ngay cả người già nhất buôn làng cũng không thể giải thích. Nhưng nó là tên của tộc, nó cùng với truyền thống văn hóa, đường ăn nết ở đã tạo nên sự khác biệt của một cộng đồng người có số cá thể hết sức khiêm tốn ở nước ta.

Trứng kiến, một món ăn đặc sắc của người Rơ Măm

Bên sàn nhà rông, già Y Tiếc khe khẽ hát. Lời hát như tiếng gió qua khe lá ấy là một câu chuyện sử thi của người Rơ Măm, kể về người anh hùng đã một mình mang cung nỏ, giáo mác ngược lên đỉnh Chư Mom Ray đánh lại người xứ Yàng bảy ngày bảy đêm… kể về một thời hoàng kim của tộc người Rơ Măm ưu tú, giỏi giang đã dám chống lại mọi kẻ thù hung bạo nhất. Ngày xưa, xưa lắm, cả trăm năm về trước, người Rơ Măm đông hơn bây giờ nhiều, có tới 12 làng sống biệt lập ở những nơi cao nhất so với các tộc khác. Nhưng rồi một trận dịch khủng khiếp cách đây hơn 70 năm đã xóa sạch các làng, chỉ để lại một làng duy nhất là làng Le hôm nay.

Khoảng thời gian lang thang giữa đại ngàn Chư Mom Ray heo hút ấy, bất cứ người già Rơ Măm nào cũng nhớ rất rõ. Họ quan niệm, một ngọn núi, phía trên là địa phận của trời, là nơi linh thiêng để vươn tới… còn bên dưới là cõi âm, cây cối, đất đai, sông suối… thuộc về ma nên người Rơ Măm không sinh sống tại những vùng thấp. Chính vì lẽ ấy mà dẫu bao đời chịu đói khổ vì sống biệt lập nơi rừng hoang, thiếu nước và đất canh tác, nhưng người Rơ Măm vẫn không chịu rời khỏi vùng đất của tổ tiên. Đã vậy, các hủ tục như sống lang thang, săn bắt hái lượm, ăn thịt sống, khi chết chôn chung, người ốm chỉ cúng Yàng… càng khiến cho số dân của tộc này ngày một ít đi. Trước năm 1975, cả cộng đồng Rơ Măm chỉ có 159 người với 26 hộ, cuộc sống đói khổ triền miên.

Sau ngày đất nước thống nhất, họ trở lại với buôn làng mình, trở thành những hạt giống nòng cốt trong việc đưa tộc mình vượt qua bờ vực diệt vong. Từng bước một, họ đã đưa dân làng mình rời khỏi ngọn núi Yang Sít xuống khu vực dọc quốc lộ 14C, thuộc địa bàn xã Mo Ray, huyện Sa Thầy hiện nay.

Người anh em nhỏ bé Rơ Măm sau khi xuống núi đã có nhiều thành công trong việc cải thiện điều kiện sống của cộng đồng làng mình. Vốn sống bằng nghề làm rẫy, trồng lúa nếp nên những cánh đồng lúc nào cũng có bóng người đi thăm lúa. Người ta biết yêu quí đất hơn, không còn tùy tiện dùng rìu đốn hạ cây, dùng lửa đốt rừng, dọn rẫy nên cây lúa không còn ăn mất đất rừng.

 
 

Phương thức thu hoạch lúa của đồng bào nơi đây còn khá sơ giản. Lúa được để chín rục trên rẫy đến khô nỏ. Sau khi làm lễ cúng xin được tuốt lúa mới, họ mới bắt đầu thu hoạch bằng cách tuốt hạt thóc bằng tay trần trên bông lúa ngay tại rẫy rồi bỏ vào chiếc hom nhỏ đeo bên hông. Khi đầy hom mới đổ vào gùi và những gùi lúa này sẽ được đưa vào các kho cất lúa, chứ không cần phơi lại. Phương thức truyền thống này gợi cho chúng ta nhớ đến cách thu lúa của những cư dân Việt cổ cách đây nhiều thiên niên kỉ khi chưa có liềm cắt lúa. Song hình thức lao động này cũng cho thấy sự lãng phí sức lao động, thời gian và tiêu hao hạt lúa trong quá trình thu hái.

Đặc sản trứng kiến

Săn bắt, hái lượm vẫn giữ vai trò kinh tế quan trọng, nhưng giờ đây, người Rơ Măm nghe theo lời cán bộ biên phòng, kiểm lâm rằng, con chồn, con cheo, cây gỗ đều là của núi rừng Chư Mom Ray, chứ không phải của riêng người Rơ Măm, không được tùy tiện săn bắt. Từ ý thức bảo vệ rừng, bà con cũng dần ý thức về việc bảo vệ nguồn cá dưới dòng sông Sa Thầy. Chỉ với đôi tay, rổ, đó và lá độc, họ dễ dàng đánh một lượng cá vừa đủ cho gia đình mình, chứ không tận thu bằng cách sử dụng kích điện hay các loại ngư cụ hiện đại khác.

Lễ hội của người Rơ Măm

Trong xã hội truyền thống, đàn ông Rơ Măm thường mặc khố, phía sau buông đến ống chân. Phụ nữ quấn váy và ở trần hoặc mặc áo cộc tay. Váy và khố đều có màu trắng của vải mộc không nhuộm. Phụ nữ thường đeo thêm hoa tai bằng ngà voi, vòng cổ bằng hạt thủy tinh, hạt nhựa nhiều màu. Hiện nay, người làng Le vẫn thường mặc các trang phục truyền thống này vào các dịp đặc biệt, dẫu nghề dệt của bà con đã dần mai một.

Đặc biệt, trong đời sống ẩm thực, xưa kia, người Rơ Măm xem trứng kiến là đặc sản, nổi bật là món cá gỏi kiến vàng. Họ thường dùng kiến vàng và trứng để nấu canh, trộn gỏi, xào với thịt thú rừng. Nhưng món ăn đặc sắc nhất, giữ được hương vị thơm ngon nguyên chất nhất chính là cá gỏi kiến vàng. Thông thường thì khi lấy tổ kiến vàng xuống, người ta đặt một chậu nước phía dưới, lấy gọng dao gõ nhẹ cho kiến rơi xuống chậu, rồi nhẹ nhàng tách đôi, lấy trứng kiến ra để riêng. Trứng kiến vàng màu trắng đục, to gần bằng hạt gạo, có mùi thơm nhẹ. Sau đó trứng sẽ được giã sơ qua, để ngoài nắng một lúc cho se lại.

Sau khi chọn những con cá suối to bằng ba ngón tay, người ta đem làm sạch, băm nhuyễn, vắt cho cạn nước để đỡ mùi tanh rồi trộn cùng với trứng kiến, muối hột, ớt xanh, tiêu rừng, thính gạo (bột gạo rang cháy xém). Khi ăn thì dùng kèm thêm lá sung. Vị ngọt của cá suối hòa vào vị béo của trứng kiến, vị cay xé của tiêu ớt tạo nên một món ăn hết sức đặc sắc và hấp dẫn.

Trong các gia đình của người Rơ Măm ở làng Le có một vật thường được người ta cất giữ rất cẩn thận, đó chính là chiếc ché lem. Có những chiếc ché được truyền lại qua nhiều đời, có giá trị bằng hàng chục con trâu và phải sang tận Lào mới đổi về được. Theo lời Trưởng thôn A Dói thì ché chỉ được sử dụng mỗi năm một lần trong lễ mừng lúa mới. Nó là hiện thân của thần lúa, của mùa màng bội thu. Khi được mùa, bà con sẽ bỏ vào trong chiếc ché của gia đình một viên cuội để báo với thần linh.

Làng Le còn có một vật báu khác nữa, đó là “Yang Ngà”, nghĩa là “cụ tổ”. Đó là một phiến đá lớn bằng cỡ chiếc rổ, màu nâu xám. Đầu mỏm chìa ra một mẩu màu trắng hình tròn, dài độ một gang tay, nhẵn bóng, trông hệt chiếc ngà voi ai đó cắm vào. Cứ khoảng hai, ba mùa rẫy, phiến đá lại “đẻ” con, nghĩa là phiến đá lại nứt ra một hòn đá con. Mỗi lần Yang Ngà đẻ, thường làng Le được mùa, đi săn gặp thú lớn và không xảy ra dịch bệnh. Người Rơ Măm đặt Yang Ngà trong một chiếc chòi riêng biệt nơi đầu làng và chỉ rước Ngài ra vào những năm làng tổ chức đâm trâu để tắm máu cho Ngài. Có lẽ, với quan niệm “vạn vật hữu linh”, những đồ vật mà bà con đã coi là vật thiêng, là đối tượng để thờ cúng thì vẫn thường được bà con dệt nên những màn sương huyền thoại như thế.

Nằm trong nhóm dân tộc thiểu số dưới 1.000 người, những năm qua, đồng bào Rơ Măm nơi đây đã nhận được nhiều chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước. Dự án Bảo tồn và phát triển dân tộc Rơ Măm do Ban Dân tộc tỉnh Kon Tum làm chủ dự án trong suốt năm năm đã giúp cho cuộc sống và chất lượng dân số của làng Le có nhiều chuyển biến tích cực. Sau hơn 30 năm người Rơ Măm xuống núi, giờ làng Le đã có một Chi bộ với hơn 10 đảng viên và các đoàn thể như thanh niên, phụ nữ hoạt động ổn định. Được sự đầu tư của các dự án, bà con đã khai hoang và biết trồng mì, lúa nước, cao su tiểu điền, cùng hàng trăm con heo, bò, dê… Người già ở làng Le giờ đây vẫn thường hồi tưởng về quá khứ để bảo ban con cháu biết trân trọng hiện tại. Lòng người già vui khi thấy tất cả các gia đình đều treo ảnh Bác Hồ, càng vui hơn khi làng Le được công nhận là “Làng văn hóa” cấp tỉnh.

Dẫu cuộc sống của người Rơ Măm mình còn nghèo, nhưng họ vẫn một lòng theo Đảng, vẫn đăm đắm giữ lấy hồn cốt của dân tộc và đang nỗ lực phấn đấu vươn lên để trở thành điểm sáng về kinh tế, văn hóa, xã hội của Tây Nguyên.

Theo Danviet.vn

Kon Tum: “Chúa ong” ở xứ sở “chín tầng mây”

Nếu người dân rừng U Minh có lối gác kèo để ong rừng đến ở thì người Xê Đăng xã Ngọc Yêu (huyện Tu Mơ Rông, Kon Tum) cũng có cách “nuôi” ong khá độc đáo: Dùng bọng cây rừng tạo tổ dụ ong về làm mật. Nét “văn hóa rừng” hiếm hoi giữa thời văn minh kim khí này kể cũng là điều lý thú…

A Néo đi trước tôi một quãng ngắn. Con dao sắc như nước thỉnh thoảng lại lóe lên dứt phăng nhánh cây ngáng đường. Chiếc gùi trên vai anh toòng teng cây rìu nhỏ, gói đựng túi nilon và nắm muối hạt. Hành trang “đi làm mật” của “chúa ong” chỉ giản đơn có thế…

kon-tum-chua-ong-o-xu-so-chin-tang-may

Chúng tôi nhằm hướng núi Đăk Trum tiến tới. Với độ cao trung bình 1.000m so với mực nước biển, vùng đất Tu Mơ Rông dễ đến hai phần ba tiết trời trong năm cứ sáng thu chiều đông như vậy. A Néo bảo đấy chính là lý do xứ này không bao giờ có những tổ ong lủng lẳng trên cành cây như nơi khác. Chúng phải làm tổ trong hốc để tránh cái lạnh. Sự se sắt của hoa cỏ xứ sâm khiến mật ong Ngọc Yêu được coi là tinh chất đầu bảng của đại ngàn…

Kỳ thú chuyện nghề

Trước mắt tôi là cây trám lực lưỡng đứng bên bờ suối rộng. A Néo lấy rìu gõ nhẹ vào thân cây, tức khắc hàng chục con ong túa ra từ một lỗ nhỏ trên miếng ván cách mặt đất chừng 2m. Néo giải thích: Cây trám này vốn có bọng sẵn, mình chỉ bổ ra cho rộng; sau đó dùng miếng ván trám lại vừa đủ cho con ong ra vào. Khi nào thăm ong hoặc lấy mật thì cạy cửa ra… Rồi A Néo kể: Trước Tết Nguyên đán, dân làm mật lũ lượt vào rừng sửa sang, cải tạo các bọng cây, gọi là “đục lỗ đón ong”. Rừng thì vô vàn cây nhưng không phải giống nào cũng có bọng; lại phải tìm cho được thứ cây chúng thích. Lũ ong rừng rất khó tính. Chúng không bao giờ làm tổ trong loại cây có nhựa, ẩm ướt. Đặc biệt vị trí phải gần suối, miệng tổ phải ở hướng ngược dòng nước chảy. Hốc tổ không được quá cao nhưng cũng không được quá thấp. Cao quá thì nhiều nắng gió; thấp quá thì ẩm ướt… Nói ai cũng biết nhưng cùng làm đúng như vậy mà có hốc hàng bao năm trời chẳng chú ong nào mon men; ngược lại có hốc năm nào chúng cũng ở. Thế nên đục cả trăm mà được hai, ba chục hốc có ong là mừng rồi. Như mình, đục tới 300 nhưng chỉ hơn 100 hốc có ong là nhất đấy. Người ta bảo A Néo “hợp vía” con ong, mình thì nghĩ nhờ đoán chính xác sở thích của chúng mà được đó thôi… Sau hơn tháng đi đục lỗ, qua tháng 2, tháng 3 người ta quay lại xem hốc nào có ong tới thì đánh dấu, gọi là “thăm ong”. Tháng tư, tháng năm khi tiết trời tạnh ráo, hoa cỏ mãn khai là mùa đi thu mật. Vào nhà ai cũng nghe thoang thoảng hương vị mật ong…

kon-tum-chua-ong-o-xu-so-chin-tang-may

Tôi cứ đinh ninh nghề nuôi ong là bảo bối truyền đời của một nghề có tự xa xưa, hóa ra chỉ mới từ năm 1980 trở lại đây – và A Néo chính là người đầu tiên nghĩ ra cách nuôi ong kỳ thú ấy, đúc kết thành kinh nghiệm rồi truyền cho dân làng…- “Cũng là tình cờ thôi mà – A Néo cười. Ngày trước mật ong đầy rừng ai ăn cho hết. Mỗi lít mật chỉ đổi được…một chiếc quần đùi. Nhưng rồi đường sá mở ra, người buôn vào tận nhà thu gom mua khiến mật ngày càng có giá. Trong một lần đi săn ong mình chợt nghĩ: sao không cải tạo các hốc cây có sẵn để dụ chúng về ? Vậy là làm.

Thấy mình kiếm được khá tiền, bà con học theo. Lúc đầu chỉ làng Long Láy, giờ thì cả 8 làng với khoảng 180 hộ cùng làm…

Cuộc chiến giành đặc sản giữa người và… gấu 

 

Người nhiều kẻ ít nhưng xem ra “làm mật ong” cũng là nghề làm chơi ăn thật? Nghe tôi nhận xét, A Néo cười: Nhìn thì vậy nhưng có làm mới biết. Tìm được hốc cây để lũ ong rừng chịu đến như kể với anh đã khó rồi, lại phải không được đụng chạm đến ai. Người Xê Đăng có luật bất thành văn: thứ gì trong rừng đã có chủ, ai đến sau không được đụng chạm. Bởi vậy, người đi làm mật phải tới tận Măng Bút giáp giới Quảng Nam, ở lại trong rừng cả tháng. Sên vắt, ruồi vàng cắn da thịt cũng chẳng là gì so với nỗi sợ gặp gấu. Rừng nhiều mật nên nhiều gấu mà chủ yếu là lũ gấu ngựa. Mình chạm trán chúng như cơm bữa…Một lần đi thăm ong thấy tổ đầy mật, hôm sau hăm hở mang gùi đến thì đã thấy một chú gấu vắt vẻo trên chạng cây.

Vừa nhấm nháp mật nó vừa bình thản nhìn mình như chế nhạo “ông là kẻ đến sau rồi”… Lần khác mình vừa leo tới tổ thì bỗng đâu một chú gấu cũng lừ lừ tới trèo lên. Hoảng quá nhưng chẳng còn đường nào chạy, mình đành trèo tít lên ngọn cây.

Mới 4 giờ chiều đỉnh Đăk Trum đã nhòa dần, vương vít trong làn sương chợt đến chợt đi như khói thoảng. Thập thững từng bước chân xuống núi sau gần một ngày được thấy, được nghe những điều kỳ thú, tôi chợt nhận ra lối kiếm sống dựa vào tự nhiên, nâng đỡ tự nhiên để cùng sinh tồn tự ngàn xưa ở xứ này hãy còn rất bền chặt.

A Năng nói rằng những khu rừng mà người dân làm tổ ong được chính họ bảo vệ rất nghiêm ngặt. Lẽ giản đơn là nếu để cây rừng bị chặt phá thì ong sẽ không về. Và như vậy xem ra cái nghề mang màu sắc cổ sơ này sẽ còn tồn tại lâu dài…

 

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.