Đọc tiếp “Hồi ký của Võ Long Triều”

mẹ Việt tôi

đọc sách

HỒI KÝ VÕ LONG TRIỀU –

PHẦN 1 – CHƯƠNG 11 ĐẾN CHƯƠNG 20

volongtr

Những niềm vui và nỗi buồn

Thiết nghĩ dù tôi có cãi hăng say hay không thì kết quả chắc cũng phải thả người. Vấn đề là vì công lý, tôi phải nêu ra, phản đối và trình bày những lý do xác đáng. Vụ việc nầy tôi có tâm sự với người bạn thân là Linh Mục Nguyễn Quang Lãm, chủ nhiệm nhựt báo Xây Dựng. Ông thuật lại cho các bị can mới được phóng thích nghe. Tôi không hề liên lạc với nhóm người nầy sau khi họ được trả tự do, nhưng có một thời tôi muốn biết nhiều việc chính trị bí ẩn về các vấn đề liên quan đến Bắc Việt. Ðem chuyện bàn với Cha Lãm thì ngài nói:

– Tại sao toa không gặp Trần Kim Tuyến hỏi ý kiến, ông ta có thể giúp mầy hiểu nhiều việc. Cha nầy dứt khoát phải biết nhiều chuyện lắm.

Tôi nghe lời LM Lãm và cùng ông đến nhà thờ Công Giáo của trường Ðồng Tiến quận 10, gặp Bác Sĩ Tuyến và Bác Sĩ Lý Trung Dung trốn tại đó vì mặc dù đã được trả tự do, nhưng hai ông còn sợ bị trả thù vì ân oán. Bác Sĩ Tuyến có viết nhiều tài liệu giải thích cho tôi hiểu một vài bí ẩn của quốc gia. Có lần bà xã tôi đọc được một bài viết của ông, bà cằn nhằn:

“Tại sao anh giữ tài liệu của cộng sản trong nhà? Hết chuyện anh làm rồi sao?”

Tôi hỏi lại:

“Em biết ai viết bản văn này không? Bác Sĩ Trần Kim Tuyến đó, trùm mật vụ của cụ Diệm ngày xưa, em nghĩ tay này có phải là cộng sản không?

Bà xã tôi thấu hiểu vừa cười, vừa kêu trời. Mười bảy năm sau, tôi sang Pháp sau 11 năm tù cộng sản, làm việc cho đài phát thanh quốc tế của Pháp, (Radio France Internationale) có lẽ Bác Sĩ Tuyến nghe được tên tôi qua đài này, nên có điện thoại từ Luân Ðôn, thăm hỏi sức khỏe tôi và ông còn nhắc lại chuyện cũ và chúc mừng tôi được thoát nạn. Vài ngày sau tôi cũng nhận được điện thoại của Bác sĩ Lý Trung Dung lúc đó đang ở Pháp. Riêng cụ Ngô Trọng Hiếu năm 1970 ra ứng cử bân biểu, đắc cử vào Quốc Hội cùng nhiệm kỳ với tôi. Ngày khai mạc Quốc Hội ông đến sớm, đứng ngoài hành lang trước cửa Quốc Hội chờ tôi. Tôi là dân biểu sau cùng đến trước Tổng Thống vài giây, gặp cụ Ngô Trọng Hiếu. Chúng tôi dắt nhau vào ngồi cùng một hàng ghế, và cứ giữ chỗ ngồi ấy trong những kỳ họp quốc hội cho đến khi gãy gánh tan hàng. Suy nghĩ về số kiếp con người, phải chăng có một bàn tay vô hình nào đó xếp đặt trước.

Việc đầu tiên là tôi không ngờ ông Hy viết thơ giới thiệu tôi với ông Ngô Trọng Hiếu mà tôi cứ nghĩ đó là phúc trình liên quan đến việc làm của sứ quán, bởi vì tôi thấy hai phong bì nhỏ đống dấu khằn chính thức của Tòa Ðại Sứ bằng nhựa màu nâu nằm trong một bao thơ lớn bọc bên ngoài cũng đóng dấu khằn hẳn hoi. Và tại sao tôi không nhận lời ông Ngô Trọng Hiếu làm Tổng Giám Ðốc thay cho ông Cao Xuân Vỹ? Và nếu ông Ngô Trọng Hiếu chỉ bắt tay từ giã tôi một cách bình thường thì liệu tôi có nhiệt tình bênh vực ông không? Và cuối cùng điều làm tôi ngạc nhiên là tôi lại gặp ông Ngô Trọng Hiếu tại Quốc Hội với tư cách đồng viện của tôi. Riêng Tổng Trưởng Trần Lê Quang, tôi gặp lại ở Pháp thường hội hè tại nhà tôi bàn việc đất nước với cựu Quốc Vụ Khanh Vũ Quốc Thúc, cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao Vương Văn Bắc và nhiều bạn bè khác. Ông Quang quí tôi cho đến bây giờ. Khi sang định cư sống với con tại Palo Alto cựu Tổng Trưởng Trần Lê Quang vẫn còn tìm ra được địa chỉ số phone của tôi để thăm hỏi.

Về Việt Nam năm 1961 tôi làm việc tại sở Kỹ Thuật bộ Cải Tiến Nông Thôn. Ba tháng sau tôi được bổ nhiệm làm Chánh Sự Vụ sở Thống Kê và Kinh Tế Nông Nghiệp. Cũng trong thời gian đó tôi được nha Học Vụ Nông Lâm Súc thuộc Bộ Quốc Gia Giáo Dục mời dạy môn Kinh Tế Nông Nghiệp và Quản Lý Nông Trại tại trường Cao Ðẳng Nông Lâm Súc, trình độ kỹ sư mới được thành lập. Khác với trường Cán Sự ở Blao. Một vài môn học còn do giáo sư người Pháp đảm nhiệm. Giáo sư có quyền dùng hai thứ ngôn ngữ Pháp và Việt. Tôi mới hồi hương nên được phép giảng bài bằng Pháp văn. Ða số sinh viên tốt nghiệp bằng tú tài Pháp nên sử dụng ngôn ngữ này khá lưu loát. Tôi dạy hai lớp nhập một, khóa 2 và khóa 3. Nha học vụ phải mượn tạm thời giảng đường của đại học dược khoa để có đủ chỗ chứa sinh viên của 2 lớp.

Ngày đầu tiên vào lớp tôi gặp gian nan khó xử nhưng cũng may mắn tránh được sự thất bại buổi ban đầu do nhóm sinh viên tinh nghịch thử phổi thầy. Tôi chủ trương xem học trò của tôi như bạn đồng lứa, bởi vì tuổi đời của họ không nhỏ hơn tôi bao nhiêu. Hình như có một hai người bằng tuổi. Tôi tôn trọng nhân phẩm của họ qua lời nói và cử chỉ, tôi đối xử như một người anh, tưởng rằng điều đó giúp tôi lấy lòng họ được và chúng tôi sẽ dễ dàng trao đổi với nhau những hiểu biết về môn học nầy. Tôi nói với họ là: “Các anh chị học cho chính bản thân mình chớ không học cho thầy khen hay cho bạn nể. Vì vậy tôi sẽ không điểm danh như thông lệ. Anh chị nào không thích bài giảng của tôi thì không cần vô lớp, có thể mua sách, hay mượn bài của bạn học riêng ở nhà, tôi hứa sẽ chấm điểm công bình khi thi lên lớp, nếu anh chị chứng minh được sự hiểu biết của mình về môn học nầy. Phần tôi hứa sẽ tận tình giúp đỡ cho các anh chị có được một sự phản ứng đúng đắn về những vấn đề lợi hại trong nghề nghiệp. Tôi cũng yêu cầu anh chị em tôn trọng các bạn đồng song của mình và người giảng bài bằng cách giữ im lặng trong lớp. Cuối mỗi giờ học tôi sẽ dành 10 phút để cho mọi người hỏi những gì liên quan đến bài giảng. Ngoài ra trong giờ giải lao, ai cũng có thể hỏi bất cứ thứ gì tôi sẽ trả lời và bàn thảo với tư cách người bạn chớ không phải thầy.” Những lời nói của tôi không lọt tai ai cả, như nước đổ lá môn. Người ta thường nói: “Nhứt quỉ nhì ma thứ ba học trò,” các bạn sinh viên của tôi sẽ chứng minh câu nói đó không sai trong vài phút tới. Tôi mới vừa chấm dứt những câu mở đầu rất chân tình, xoay mặt vào bản viết tựa đề của bài học thì sau lưng tôi rộ lên tiếng cười đùa, nói năng ồn ào như chỗ không người. Thôi chết! Ðám “người lớn” nầy muốn giở trò con nít. Làm sao đây? Thú thật tôi hơi bối rối nhưng lấy lại bình tĩnh ngay. Xoay mặt ra nghiêm chỉnh nói:

– Anh chị nào nói lớn tiếng hoặc cười giỡn trong lớp học xin đứng lên.

Im phăng phắc.

– Một lần nữa tôi yêu cầu anh chị nào cười nói lớn tiếng đứng lên.

Vẫn im phăng phắc.

– Các anh chị thiếu can đảm, dám làm mà không dám chịu.

Nói xong tôi vừa xoay mặt vào bàn viết thì sau lưng tôi xù xì, cười hi hí rồi lại ồn ào còn hơn lần trước. Tôi quay ra cười vui vẻ hỏi:

– Anh chị nào vừa mới làm ồn xin đứng lên.

Im phăng phắc.

– Tôi sẽ chứng minh cho các anh chị thấy rằng tôi biết đích danh ai đã làm ồn. Gần như đại đa số nhếch mép cười ngạo nghễ nhưng không thành tiếng. Tôi lại xoay mặt vào bảng cầm cục phấn quăn ra sau lưng, phấn trúng ngay một anh.

– Mời anh đứng lên và cho biết anh tên gì?

– Thưa thầy em tên Nguyễn Văn Thùy.

– Yêu cầu anh ra khỏi lớp, tôi không dạy những người hèn, có can đảm làm mà không có gan nhận. Bài học đầu tiên tôi cần dạy các anh chị là sự can đảm và danh dự của người chuyên viên mà các anh đang chuẩn bị đó.

Nguyễn Văn Thùy cố đôi chối vài lời. Tôi không nói không rằng xếp giấy tờ vào cặp và tuyên bố nếu anh không ra khỏi lớp, tôi sẽ ra về không dạy. Các anh chị cần học, tôi không cần dạy, (về sau khi thầy trò thân thiện có anh khai với tôi là họ dán cho tôi cái nhãn hiệu “mặt vắt ra sữa mà làm trời.” Tình thế trở nên căng thẳng. Anh trưởng lớp tên Nhuận, sinh viên súc khoa, nếu tôi nhớ không lầm, đến khuyên anh Thùy ra khỏi lớp. Tôi tiếp tục dạy nhưng vẫn duy trì kỷ luật với Thùy cả tuần lễ sau tôi mới cho vào. Bắt đầu từ đó lớp học của tôi nổi tiếng “con ruồi bay cũng nghe.”

Rất tiếc là đến khóa 7 năm 1966, vì quá bận nhiều việc khác nên tôi xin nghỉ dạy. Thái độ cứng rắn, nét mặt nghiêm nghị của tôi trong giờ học, đối ngược với cử chỉ thân mật, pha trò vui vẻ hòa mình với sinh viên là chất keo hàn gắn tình thầy trò duy trì mãi cho tới ngày nay tại Mỹ, kể cả những anh chị không có học giờ của tôi. Vài bạn trong ban phụ trách nhóm ái hữu sinh viên miền Bắc Cali còn nói đùa “thầy là linh hồn của những lần tụi em hội họp.”

Làm việc tại bộ canh nông tôi không có cảm giác mình là người hữu dụng. Công việc hằng ngày không chiếm hết thời gian và cũng không tận dụng hết khả năng chuyên môn của tôi. Bởi vì guồng máy hành chánh nặng nề từ thời Pháp thuộc để lại, còn vướng mắc tính quan liêu phong kiến, làm việc theo chỉ thị cấp trên. Tiếc thay, cấp lãnh đạo thường có nhiều sáng kiến viển vông không thực tế. Sở Thống Kê và Kinh Tế Nông nghiệp có trên 30 nam nữ nhân viên, tôi không hề khiển trách riêng biệt một cá nhân nào. Nếu có sai trái lỗi lầm tôi triệu tập một phiên họp, không nêu tên họ ai, chỉ nêu sự sai trái, phân tích sự việc, nhắc nhở qui định và nguyên tắc làm việc của sở mà thôi. Tuy nhiên những người có lỗi đều biết rõ kẻ phạm sai trái đó là chính mình. Tôi hoàn toàn thông cảm cho những nhu cầu cá nhân cần phải nghĩ phép. Quyền hạn của Chánh Sự Vụ chỉ được cho phép nhân viên nghỉ hai ngày, nhưng trong trường hợp đặc biệt, có lý do chánh đáng, họ có quyền làm hai đơn, ba đơn ghi ngày khác nhau tôi sẽ tiếp tục ký, để cho hợp thể lệ hành chánh, anh chị em cứ nghỉ lo cho xong việc mình. Mặc dù biết trước có sự thông cảm đó của tôi, hình như không có một ai lợi dụng sự dễ dãi nầy.

Các cấp thừa hành của bộ, hoạt động tại địa phương có nhận xét chính xác, biết rõ nhu cầu và điều kiện phát triển, họ có kinh nghiệm của người hiểu biết hiện trường, nhưng không hề dám bàn ngược với cấp chỉ huy, trái lại chỉ báo cáo thổi phòng, thuận chiều với trung ương để mong hưởng được sự khen thưởng. Ông Tổng Thơ Ký Tôn Thất Trình là người có nhiều sáng kiến và chỉ thị ồn ào nhứt. Ông tự hào là được trực tiếp với “ông cụ” (Tổng Thống Ngô Ðình Diệm) khi nào ông muốn. Ông là đồng hương với Tổng Thống và mang họ Tôn Thất, còn cụ Diệm là con một quan Thượng Thơ của triều đình Huế. Nhân viên trong bộ gọi Trình là “con cưng của Tổng Thống.”

Tuy còn trẻ nhưng Trình chỉ thích làm việc với một số ít người thân tín của mình mà thôi, lối suy nghĩ của ông không cởi mở, không chấp nhận sự đối thoại. Tổng Trưởng Trần Lê Quang nhìn sự việc rất thực tế, suy nghĩ có phương pháp, giải quyết công việc thuận tình hợp lý mặc dù lãnh vực canh nông không phải là ngành chuyên môn của ông. Hình như hoạt động của ông có phần bị giới hạn do một Tổng Thơ Ký là “con cưng” của Tổng Thống và một Ðổng Lý văn phòng là người của Sở Nghiên Cứu Chính Trị thuộc Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, cả hai đều là người đồng hương với Tổng Thống Diệm. Một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ là sự thao túng thị trường lúa gạo của thương buôn người Trung Hoa. Tôi đã từng nghe anh Trần Hữu Phương, cựu Tổng Trưởng Tài Chánh, sau nầy là Thượng Nghị Sĩ, kể lại về sự thao thúng nầy, trầm trọng đến nỗi Tổng Thống Ngô Ðình Diệm phải ký sắc lệnh cấm người Hoa kiều không được phép thực hành một số nghề nghiệp trọng yếu đối với quốc gia, trong đó có nghề buôn bán lúa gạo. Nhưng vỏ quýt dầy thì cũng có móng tay nhọn. Các thương buôn Hoa kiều bỏ tiền mướn người Việt Nam, đứng tên môn bài. Mọi việc rồi đâu cũng vào đó, họ tiếp tục mua bán và thao túng thị trường lúa gạo như trước kia. Khoản Tháng Năm năm 1962, giá gạo ngang nhiên tăng vọt bất thường, dân chúng hoang mang. Lý do là cả chục gian thương đống cửa “chành” (kho dự trữ lúa) không bán ra làm cho cả nước phải điên đảo. Mục đích của họ rất đơn giản: “làm giá” kiếm lời. Nghĩa là thị trường gạo khan hiếm, mức cung do họ nắm giữ, không bán ra, không thỏa mãn nhu cầu của quần chúng, giá gạo phải tăng. Bộ Kinh Tế yêu cầu triệu tập một phiên họp liên bộ do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ chủ tọa có Tổng Trưởng Kinh Tế Hoàng Khắc Thành, và Tổng Trưởng Cải Tiến Nông Thôn Trần Lê Quan tham dự. Tôi là chuyên gia của bộ, ngồi sau lưng ông Tổng Trưởng với đầy đủ hồ sơ sản xuất lúa gạo miền tây. Cuộc hợp rất gay cấn. Bàn thảo sôi nổi chỉ vì sự ù lì của người Hoa kiều, chính phủ bí lối, nhưng không thể áp dụng luật rừng là sung công. Cho nên ông Hoàng Khắc Thành nổi nóng đến độ sổ một tràng tiếng Pháp “Je les mettrai en prison tous ces salauds là” (tôi sẽ bỏ tù tất cả những thằng khốn nạn đó). Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cười thách thức:

– Toa giỏi thì bỏ tù tụi nó đi, toa tưởng tụi nó vô tù rồi dân mình sẽ có gạo ăn sao? Moa đã từng ngồi chỗ của toa rồi, moa đã từng hăm dọa đủ điều, rốt cuộc cũng phải thương lượng thôi.

Ðến lượt tôi phải trình bày tổng số lượng gạo sản xuất của miền đồng bằng sông Cữu Long, và kết luận không thể thiếu gạo ăn trong Tháng Năm nầy được. Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ mỉa mai:

– Thôi đi ông kỹ sư ơi, những con số của ông do máy tính trong phòng lạnh đưa ra, chắc gì chính xác và đúng với thực tế.

Tôi rống gân cổ cãi. Nào là chúng tôi tính theo mẫu lúa gặt tại chổ ở nhiều nơi, nào là tổng sản lượng lúa của miền Tây thừa thãi, nào là mức tiêu thụ mỗi đầu người là bao nhiêu, và tất cả đều dựa theo phép tính khoa học của toán xác suất vân vân và vân vân. Kết quả phiên họp không ai hài lòng vì phía chính phủ không có một lợi thế nào để áp lực thương gia. Bộ Kinh Tế đành phải chấp nhận thương lượng để cho giá cả nâng cao một chút. Sau phiên họp về tới bộ Cải Tiến Nông Thôn, ông Tổng Trưởng liền gọi tôi lên văn phòng. Ông trách mắng nhẹ nhàng bằng cách giải thích:

– Anh phải biết tôn ti trật tự ở xứ nầy không giống như ở Pháp, mọi sự phải trái không phải ai cũng có quyền phát biểu ý kiến của mình một cách tự nhiên như vậy. Ở Việt Nam mình, trong những phiên họp cấp cao như thế nầy anh không phải là tham dự viên mà là chuyên gia của bộ, vì vậy anh không có quyền trực tiếp phát biểu, mọi việc phải do chính tôi, hoặc tôi yêu cầu anh đại diện để trình bày. May là ông Phó Tổng Thống không bắt lỗi, buộc anh phải ngồi xuống thì mất mặt anh lắm đấy.

Tôi nhận lỗi và nghiền ngẫm về cung cách sinh hoạt và sự tôn ti trật tự ở Việt Nam. Tôi nhìn nhận tôn ti trật tự là một điều cần thiết, nhưng khi nó biến thành một lực trì trệ cản trở sự tiến bộ và phát triển thì đó là một sai lầm. Tuy nhiên cái lỗi tôi phạm trong phiên họp ngày ấy cũng là cái may mắn cho tôi, về sau nầy Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ cho gọi “cái thằng kỹ sư trẻ ngang ngược đó” đến nhà gặp ông nhiều lần và bàn thảo nhiều thứ, từ chuyên môn kỹ thuật đến xã hội, chính trị, v.và và lâu ngày dài tháng, sự thâm tình giữa ông và tôi thể hiện bằng cách ông gọi mầy xưng tao với tôi rất tự nhiên. Tuổi già nghỉ hưu, mỗi khi có ký giả ngoại quốc nào xin tiếp kiến ông đều từ chối gởi họ đến tìm tôi hỏi ý như Georges Saffard ký giả tuần báo Pháp L’Expresse, Kimura Trưởng văn phòng đại diện Ðài Truyền Hình NHK của Nhựt Bổn. Phần tôi học hỏi được với ông rất nhiều về kinh nghiệm đời và sự hiểu biết chính trị của miền Nam.

Cũng trong tinh thần tôn ti trật tự cũ kỹ đó, có lần đích thân ông Tổng Trưởng Trần Lê Quang yêu cầu tôi phải đem cho ông xem ngay một tờ trình tôi mới viết xong, không qua hệ thống giai hành chánh, nghĩa là phải qua ông Giám Ðốc rồi Tổng Thơ Ký, đến Ðổng Lý mới vào được tay ông Tổng Trưởng. Sự việc nầy làm cho ông Tôn Thất Trình bực tức vì tờ trình không thông qua ông là Tổng Thơ ký mà đã có bút phê và chỉ thị của ông Tổng Trưởng rồi. Phần tôi thì không thể cãi lệnh ông Tổng Trưởng được. Tình trạng “trên đe dưới búa” của tôi không được ông Trình thông cảm vì ông đã tiêm nhiễm cái thói quen cửa quyền. Cho nên thời gian sau đó mỗi lần sở của tôi có tờ trình lên bộ là ông hay bắt bẻ dù đúng dù sai. Tôi cũng thường phê ngược lại nêu rõ những điều sai trái trong nhận xét của ông Tổng Thơ Ký. Sự việc nầy trở thành khôi hài và là một thú vui của nhân viên trong bộ được chứng kiến màn “trứng dám chọi đá.” Khôi hài hơn nữa là ngay đến viên thư ký riêng của ông Tôn Thất Trình tên là Thùy, cũng “ăn có” xen vào phê phán trên bản phúc trình càng bậy hơn. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, anh Thùy chạy sang làm Chánh Sự Vụ Sở Ngân Sách Ngoại Viện Bộ Thanh Niên, tình cờ duyên số khiến anh gặp lại tôi đảm nhiệm chức vụ Tổng Trưởng. Liền sau khi Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng ký tên bàn giao và từ giã bước ra khỏi phòng, tôi mới ngồi vào bàn giấy thì anh Thùy xin yết kiến liền, mặt mày lộ vẻ sợ hãi vì anh nghĩ tôi sẽ ghi nhớ chuyện cũ mà “đì” anh một cách thê thảm. Anh trình tôi đơn xin từ chức.

Xem đơn xong tôi cười vui vẻ nói:

– Tụi mình chỉ có hai đứa từ Bộ Canh Nông sang mà anh đành bỏ tôi sao anh Thùy?”

Anh trố mắt ngạc nhiên trả lời:

– Nếu ông Tổng Trưởng còn chấp nhận dùng tôi ở đây thì tôi xin nguyện hết lòng phục vụ ông Tổng Trưởng.

– Anh yên chí, cứ thi hành nhiệm vụ của mình cho tốt là được rồi, tôi cộng tác với nhân viên không vì tình cảm hay bà con quen biết mà là do sự siêng năng tận tình và hiểu biết công việc.

Thực tế ông Thùy giữ lời hứa một cách nghiêm chỉnh.

Tranh chấp nội bộ bắt đầu
 

Khi ông Trần Văn Hương thay thế Nguyễn Văn Lộc thành lập nội các có yêu cầu ông Tôn Thất Trình tiếp tục giữ chức Tổng Trưởng Canh Nông, anh Nguyễn Văn Hảo điện thoại cho tôi với vẻ bực tức nói:

– Triều toa biết tay nào làm Tổng Trưởng Canh Nông không?

– Moa không để ý vì không muốn can dự vào việc đó.

– Tôn Thất Trình! Bộ hết người rồi sao mà ông già Hương tiếp tục để cho Tôn Thất Trình ngồi đó?

– Moa không biết.

Tôi trả lời với Nguyễn Văn Hảo như vậy, nhưng thâm tâm cũng thấy anh Hảo nói đúng bởi vì Hảo biết Tôn Thất Trình quá nhiều, vì khi ông ta làm Tổng Thơ Ký Bộ Cải Tiến Nông Thôn thì Nguyễn Văn Hảo giữ chức Tổng Giám Ðốc Nông Tín Cuộc và Hợp Tác Xã trực thuộc bộ. Sau này, Nguyễn Văn Hảo trở thành Tổng Ðốc Quỹ Phát Triển rồi những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa anh là Phó Thủ Tướng Ðặc Trách Kinh Tế kim nhiệm hai Bộ Canh Nông và Bộ Kinh Tế.

Tôi biểu đồng tình với Nguyễn Văn Hảo và nghĩ rằng sự hiểu biết về chuyên môn không mà thôi chưa đủ để lãnh đạo một bộ trong nội các. Tôi liền đến tư gia anh Huỳnh Văn Ðạo, nơi mà cụ Trần Văn Hương đang thành lập nội các. Tại đó tôi thấy cụ Hương đang thuyết phục anh Nguyễn Văn Bông, Viện Trưởng Viện Quốc Gia Hành Chánh, nhận chức Tổng Trưởng Giáo Dục, có sự hiện diện của Huỳnh Văn Ðạo là Tỏng Trưởng Phủ Thủ Tướng tương lai của Trần Văn Hương. Nguyễn Văn Bông từ chối.

Hai bên, cụ Hương và anh Bông nói gì với nhau trước đó tôi không rõ, hiện tại chỉ nghe hai người lập đi lập lại một câu giống nhau, ông Hương nói: “Em tin qua đi”, còn anh Bông cũng lập lại: “Bác tin tôi đi”. Tôi cắt ngắn, xen vào hỏi cụ Hương. Sở dĩ tôi được phép xía vào việc đại sự của cụ Trần Văn Hương là vì chính tôi và một số anh em chủ trương đưa cụ trở lại chính trường trong lúc cụ bị Ðại Tướng Nguyễn Khánh giam lỏng tại nhà mát của Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục ở vũng Tàu. Vấn đề này sẽ được trình bày cặn kẽ sau này.

– Bác đã cử ai làm Tổng Trưởng Canh Nông?

– Em Tôn Thất Trình.

– Tôi nghĩ Tôn Thất Trình không phải là người thích hợp trong chức vụ này mặc dù anh ta là một kỹ sư biết nghề.

– Vậy chớ em giới thiệu ai?

– Tôi không muốn giới thiệu ai cả.

– Vậy thì Trương Thái Tôn và Phan Bá cầm em muốn cử ai?

– Ông Phan Bá cầm làm sao biết gì về canh nông mà bác muốn cử? Nói xong tôi xin cáo từ, để cho cụ Hương tiếp tục làm nhiệm vụ.

Tại sao tôi phản đối việc cử Tôn Thất Trình làm Tổng Trưởng là vì tôi nghĩ một cách ngay tình rằng cung cách lãnh đạo của ông không thể thực hiện được việc canh tân và phát triển ngành nông nghiệp của đất nước. Còn về lý do mà Nguyễn Văn Hảo tỏ sự bất đồng với ông Trình thì quả thực anh không có chia sẻ ý kiến đó với tôi, nên tôi không rõ.

Một kỷ niệm khác, cuối năm 1962 quân Bắc Việt xâm nhập miền Trung và Cao Nguyên ngày càng nhiều hơn. Lượng gạo tiếp tế cho miền Trung ngày càng tăng, vượt quá mức tiêu thụ tính theo đầu người. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ra lệnh thành lập phái đoàn liên bộ đi điều tra và thi hành việc “Phong Tỏa Kinh Tế Ðịch”. Ðại diện Bộ Kinh Tế là Trần Ngọc Liễng, Trưởng Phái đoàn và Lê Phước Trọng, Chánh Sự Vụ sở Nội Thương, Ðại Úy Trần Kim Hoa sau là Ðại Tá Chánh Võ Phòng phủ Thủ Tướng, hiện định cư tại Houston và một Trung Úy khác tôi không nhớ tên, đại diện Bộ Quốc Phòng, ông Nguyễn Văn Kha đại diện Bộ Nội Vụ, một Y Tá Trưởng tôi cũng quên tên, đại diện Bộ Y Tế, và tôi đại diện bộ Cải Tiến Nông Thôn. Chúng tôi đi khắp miền trung, năm đó có bão, máy bay quân sự của Mỹ phải đáp khẩn cấp xuống sân banh của một xã thuộc Tỉnh Quảng Tín, xe Jeep có thiết giáp hộ tống đưa chúng tôi về tỉnh. Sau bao nhiêu phiên họp với toàn bộ nhân viên và cấp chỉ huy của tất cả các tỉnh miền Trung, kết quả: gạo có thất thoát, một số tỉnh không kiểm soát nỗi để Việt cộng tịch thu lúa của nông dân, một số tỉnh khác được tiếp tế gần như toàn bộ nhu cầu gạo của dân chúng, làm mất đi gần hết sản lượng lúa của tỉnh mình. Thực tế lúa gạo đi ngả nào lọt vào tay việt cộng thì không ai biết. Về đến Nha Trang chúng tôi dừng lại hai ngày để viết tờ trình, Trưởng phái đoàn Trần Ngọc Liểng là Giám Ðốc Kinh Tế Miền Trung nên ông viết tờ trình khác với thực tế, khác với ý kiến của anh em. Tôi không bằng lòng ký tên. Ông Liễng nài nỉ, bảo rằng “cậu” Cẩn rất oai quyền và có thể sinh sát dễ dàng ở Miền Trung, kể cả ở Sài Gòn, nên mình phải uyển chuyển. Tôi vẫn không đồng ý ký tên. Cuối cùng ông Liễng đề nghị tất cả ký, ngoại trừ tôi, và nếu tôi muốn làm tờ trình riêng thì cứ tự nhiên làm.

Tôi đồng ý, về tới Sài Gòn tôi viết tờ trình lên bộ kể rõ sự việc. Kết quả Tổng Thống ra lệnh phải đi điều tra lại. Vẫn phái đoàn này, vẫn số thành viên cũ không thay đổi. Vì sợ bị khiển trách có thể đưa đến mất chức hay nguy hiểm hơn nữa nên ông Liễng trách móc tôi nặng nề trong đó có câu làm tôi tức cười nên nhớ mãi: “Tao nói thách, tưởng mầy không dám làm tờ trình riêng cho Tổng Thống, ai ngờ mầy làm thiệt”. Sự thật tôi có làm tờ trình cho Tổng Thống đâu. Chỉ trình cho bộ để chứng tỏ tôi chu toàn trách nhiệm của mình thôi. Nhưng chính Tôn Thất Trình lấy công với Tổng Thống bằng cách dâng tờ trình này cho “ông cụ”. Ra tới Nha Trang chúng tôi tạm ngừng đó, tất cả mọi người đề nghị tôi viết tờ trình theo ý mình rồi họ đồng ký tên, bởi vì nếu chúng tôi có đi trở lại một vòng nữa khắp các tỉnh thì cũng dự những phiên hợp như lần trước, nghiên cứu những tài liệu cũ, đúc kết phần kết luận như tôi đã đề nghị. Một ngày sau tôi viết xong tờ phút trình, nhưng chúng tôi không dám trở về Sài Gòn ngay, sợ bộ quở trách, bởi vì trong hai ngày làm sao đi kiểm tra khắp các tỉnh được? Vì vậy chúng tôi đếm bằng số ngày đã đi lần trước và lợi dụng ở lại nghỉ mát tại Nha Trang, tắm biển, ăn cua ghẹ uống rượu đế.

Kết quả Bộ Kinh Tế sẽ căn cứ theo những con số do phái đoàn kiểm tra và đề nghi lượng gạo để tiếp tế cho miền Trung. Các vị Tỉnh Trưởng sẽ tùy nghi kiểm soát lượng gạo thất thoát chuyển vào mật khu cộng sản nêu có. Hai chuyến đi miền Trung này có vất vả, có buồn vui nhau, nhưng cuối cùng tôi trở thành bạn thân với gần như tất cả những người trong phái đoàn kể cả ông Liểng và nhứt là ông Ðại Úy Trần Kim Hoa đại diện Bộ Quốc Phòng.

(Còn tiếp)

Xáo trộn chính trị sau cuộc đảo chính 1963

Những người bạn đã từng hoạt động trong Liên Ðoàn Công Giáo Paris, ở Pháp về Việt Nam kẻ trước người sau khá đông. Anh em tập hợp nhau thành lập Phong Trào Trí Thức Công Giáo, thuộc phong trào quốc tế “Pax Romana”. Bác Sĩ Nguyễn Văn Ái, Viện Trưởng viện Pasteur, đứng đầu phong trào. Ông cũng là cựu Chủ Tịch Liên Ðoàn công Giáo Paris thời ông còn là du học sinh. Tôi mới về nước gia nhập ngay vào phong trào, về sau tôi được giao trách nhiệm Tổng Thơ Ký hội trí thức Công Giáo. Cũng trong khoản thời gian đó, dù tôi là một giáo dân không sống đạo một cách “sốt sắng”, nhưng linh mục Nguyễn Viết Cư, Tuyên úy phong trào “Công Giáo Tiến Hành” toàn quốc, yêu cầu tôi đảm trách công việc của Tổng Thơ Ký, làm việc chung với ông Chủ Tịch là luật sư Nguyễn Văn Huyền, người đạo đức gương mẫu, sau là Thượng Nghị Sĩ, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa. Ðồng thời tôi lại phải làm công việc của thư Ký “Văn Phòng Liên Lạc Cạnh Tòa Tổng Giám Mục Saigon”. Rồi linh mục Hồ Văn Vui được Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cử làm đại diện cho Công Giáo trong Hội Ðồng Tôn Giáo, ngài lại yêu cầu tôi cùng với ngài tham dự Hội Ðồng nầy. Với những vị trí nói trên tôi bị cuốn vào trung tâm trận bão chính trị kéo dài gần ba năm trong cuộc đời và biết được khá nhiều chuyện.

Tại sao lại có một cơ quan lấy cái tên lạ lùng là “Văn Phòng Liên Lạc Cạnh Tòa Tổng Giám Mục” mà không ai thấy có trong tại bất cứ một địa phận Công Giáo nào ở Việt Nam? Xin thưa, tại vì sau ngày quân đội lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, nhóm người Phật tử cáo buộc ông Diệm thực thi chế độ gia đình trị và bách hại Phật Giáo nên liên tục biểu tình bạo động, tự thiêu, đưa đến cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963. Mặt khác một nhóm giáo dân Công giáo, đa số chối bỏ cộng sản Bắc Việt di cư vào Nam, được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đặc biệt chiếu cố vì họ bị trắng tay chạy nạn cộng sản. Nhóm Công giáo di cư nầy thương tiếc cụ Ngô, và chế độ Ðệ Nhứt Cộng Hòa, họ cho rằng những xáo trộn chính trị gây sụp đổ chế độ làm lợi cho cộng sản. Theo quan điểm của chính quyền thời đó thì Phật Giáo dựa vào sự góp phần của họ trong việc lật đổ chế độ Ngô Ðình Diệm nên muốn khuynh loát chính quyền, đòi phải diệt trừ người của đảng “Cần Lao” của chế độ cũ đang còn ẩn núp trong chính quyền và mưu toan phục hồi chế độ đệ nhứt Cộng Hòa. Phía Công Giáo tố cáo có cộng sản trá hình, núp dưới chiêu bài Phật tử, mượn danh cách mạng phá hoại quốc gia, chia rẽ tôn giáo.

Về phía chính quyền, các nhân vật lãnh đạo quốc gia lúc thì nhượng bộ bên nầy, lúc nghe theo bên kia, do đó tạo sự xáo trộn không ngừng kéo dài trong một thời gian khá lâu. Hai bên, Phật Giáo và Công Giáo biến quan điểm chính trị dị biệt thành sự kình chống tôn giáo, thậm chí thành thù hận gay gắt giữa hai khối người công dân của miền nam chống cộng. Một vài vị lãnh đạo tinh thần của đôi bên đứng phía sau cố vấn. Thêm vào đó chắc chắn có sự sách động gây rối của bọn Việt cộng nằm vùng làm kẻ “ngư ông hưởng lợi”. Trong hoàn cảnh đó Tòa Tổng Giám Mục cần có một nhóm người theo dõi tình hình để trình Ðức Tổng Giám Mục có đủ dữ kiện xét đoán. Những lý do viện dẫn để xuống đường và bạo động thường không chính đáng, nhưng mỗi lần là một cơ hội để biểu hiện sự thù hằn, tranh chấp và bạo động. Phía giáo dân có linh mục Hoàng Quỳnh cố vấn, bên Phật tử có Thượng Tọa Thích Thiện Minh, nhưng nhân vật thật sự quan trọng thời đó là Thượng Tọa Thích Trí Quang.

Tôi hân hạnh được tiếp xúc với vị Thượng Tọa nầy hai lần tại bệnh viện của Bác Sĩ Nguyễn Duy Tài. Ngài ngồi xếp bằng trên giường, tay cầm tuần báo Time mới nhứt từ từ để xuống bên hông, ngài không lộ vẻ đau yếu bệnh hoạn gì, nói năng chậm rãi, rất thông minh và bén nhạy, thông suốt tình hình chính trị quốc tế và quốc nội, nhận định và lý luận chính xác rõ ràng. Nếu ngài không cạo đầu mặc áo tu hành thì ai cũng phải lầm tưởng ngài là một chính trị gia lỗi lạc thay vì là tu sĩ. Về sau khi tôi ngồi trong nội các chiến tranh, có cơ hội đọc qua hồ sơ, tài liệu của cảnh sát mới biết rằng ngài là một tu sĩ Phật Giáo ở bên kia vĩ tuyến 17, vượt sông Bến Hải, tu tại một chùa thuộc tỉnh Quảng Trị và nhanh chống trở thành vị lãnh đạo tinh thần có uy tín nhứt của Phật Giáo Ấn Quang, dù ngài không phải là Viện Trưởng và không hề giữ một chức vị nào của Viện Hóa Ðạo.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại trại cải tạo Long Thành, hai vị Dân Biểu Phật Giáo Phan Xuân Huy và Nguyễn Khoa Phước bị công an gạn hỏi nhiều lần biết những gì về Thượng Tọa Thích Trí Quang phải khai. Và tại khám Chí Hòa, một người tôi không hề quen biết, khi đi tắm với cả phòng tập thể tại hồ nước trước phòng 13 khu ED, thấy tôi, ông ta vừa xối nước tắm vừa nói: “Tụi nó bắt tôi phải khai biết gì về Võ Long Triều, Trần Văn Tuyên và Thích Trí Quang. Tôi chẳng biết gì mà khai, nhưng dù tôi có biết cũng chẳng dại gì mà khai”. Tôi thắc mắc rất nhiều về Thượng Tọa Thích Trí Quang, về việc cộng sản kiểm điểm hoạt động của ngài sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 mà không tìm ra sự giải đáp. Tôi tự hỏi, sau ngày cộng sản chiếm được miền Nam, tại sao Thượng Tọa Trí Quang giữ im lặng hoàn toàn? Tại sao ông không bị câu lưu như đa số các vị lãnh đạo Phật Giáo? Tại sao ông không hề tuyên bố điều gì chống lại chính phủ cộng sản hay bênh vực cho tự do tín ngưỡng khi Phật Giáo bị cộng sản bách hại?

Chính trường ngày càng rối mù tại vì cơ quan đầu não lãnh đạo quốc gia chưa thống nhứt, không thỏa thuận được với nhau một chương trình hành động, chưa nghĩ ra sách lược cai trị nước. Sự xung đột tôn giáo ngày càng dữ dội hơn. Sinh viên xuống đường công khai tỏ thái độ về những vấn đề chính trị nóng bỏng. Chính quyền thay đổi lập trường thường xuyên, thỏa mãn sự phản đối ồn ào của bên nầy hay bên kia, hoặc vuốt ve, mị dân, mua lòng thành phần nào tỏ ra có chút thế lực.

Sau khi đảo chánh thành công Hội đồng Quân nhân cách mạng ra quyết nghị ngày 3 tháng 11 năm 1963, giải tán Quốc Hội và tạm ngưng thi hành Hiến Pháp. Ngày 4 tháng 11 chiếu Hiến Ước tạm thời cử cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đảm nhiệm chức vụ Thủ Tướng và thành lập nội các, trong đó có ba tướng lãnh, Trung Tướng Trần Văn Ðôn giữ bộ Quốc Phòng và Trung Tướng Tôn Thất Ðính giữ bộ Nội Vụ. Thiếu Tướng Trần Tử Oai giữ bộ Thông Tin.

Tân chính phủ không ổn định được tình hình kinh tế và chính trị. Dư luận quần chúng thông qua báo chí gán cho nội các Nguyễn Ngọc Thơ danh hiệu là “con rùa hành chánh”. Trong khi đó Hội Ðồng Quân Nhân Cách mạng và Chính Phủ muốn tạo một khuôn khổ pháp lý tạm thời cho chế độ bằng cách thành lập “Hội Ðồng Nhân Sĩ” gồm khoản 60 nhân vật có uy tín và đảng viên có thế lực do Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng mời tham gia với nhiệm vụ cố vấn cho Hội Ðồng. Về phía Phật Giáo các nhà lãnh đạo vừa ngấm ngầm vừa công khai buộc nhà nước phải thi hành đường lối chính trị theo ý của các ngài. Riêng Hội Ðồng nhân sĩ bầu một Ủy Ban Hiến Pháp và ra thông cáo yêu cầu đồng bào các giới đóng góp ý kiến. Mục đích chỉ để xoa dịu dư luận quần chúng đồng thời cũng muốn đánh tan sự hiểu lầm và đồn đãi là“quân đội làm độc tài, thi hành chính sách quân phiệt”. Sự thật nhóm quân nhân đảo chánh rất e dè vì bị áp lực trực tiếp của Mỹ luôn nhắc nhở họ phải tái lập một chính phủ dân cử.

Không đầy hai tháng sau lại xẩy ra một cuộc “Chỉnh Lý” do Trung Tướng Nguyễn Khánh, đương kiêm Tư Lệnh Quân khu II cầm đầu, lật đổ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ. Hai tháng qua Hội Ðồng Nhân Sĩ chưa kịp tiếp thu ý dân, chưa có thời gian và điều kiện hoạt động. Nội Các Nguyễn Ngọc Thơ mới thành lập, chưa biết phải làm gì, loay quay trong việc giải quyết những vấn đề thông thường. Không có một sáng kiến mới, không có một chương trình ngoạn mục nào đáp ứng với sự mong đợi của quần chúng, tương xứng với danh từ “Cách Mạng” được rao truyền sau ngày đảo chánh. Tướng Khánh giải thích: Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng chỉ thanh trừng nội bộ mà thôi. Mọi chủ trương đường lối lãnh đạo quốc gia không thay đổi. Nói nôm na là Trung Tướng Dương Văn Minh lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, bây giờ đến lượt Nguyện Khánh lật đổ Dương Văn Minh, viện cớ là trong chính phủ có những Tướng Lãnh thân Pháp, chủ trương trung lập. Các Tướng đó là Trần Văn Ðôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Ðính và Mai Hữu Xuân, bị bắt cùng với một số tùy tùng và bị giam lỏng trong một biệt thự ở Ðà lạt. Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng bầu Tướng Nguyễn Khánh làm Chủ Tịch, kiêm luôn Chức vụ Thủ Tướng và Tổng Tư Lệnh quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nguyễn Khánh giải tán Hội Ðồng Nhân Sĩ, thành lập chánh phủ.

Người ta khéo léo dùng danh từ “Chỉnh Lý” vì bốn Tướng Lãnh Ðôn, Kim, Xuân, Ðính chủ trương Trung lập. Tôi thiết nghĩ đó chỉ là mượn cớ mà thôi. Những điều tôi ghi nhớ và tài liệu trong sách của tác giả Ðoàn Thêm ghi lại hàng ngày có thể giải thích một cách khác.

Tranh chấp quyền hành

Sau khi Trung Tướng Nguyễn Khánh nhân danh Hội Ðồng Quân Lực tuyển nhiệm ông Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng, cắt cử ông Phan Huy Quát làm Thủ Tướng và quyết định thành lập Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp ngày 17 Tháng Hai, tình hình chính trị cũng không ổn định hơn được, bởi vì hai gày sau đó có một cuộc đảo chánh hụt. Bên trong khởi sự có những cuộc tranh chấp quyền lực mới với những lý do mới. Bên ngoài, ngày 3 Tháng Ba năm 1965, Tổng Thống Johnson tuyên bố mở rộng chiến tranh tại Việt Nam đồng thời khen binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa là thiện chiến nhứt thế giới. Thủ Tướng Phan Huy Quát ra thông cáo yêu cầu Hoa Kỳ gởi thêm quân tham chiến. Việt Nam tăng thêm 160.000 quân. Tàu Liên Sô chuyên chở vũ khí và hỏa tiễn cho Bắc Việt. Ðại Hàn và Phi luật Tân đưa quân vào chiến đấu tại Việt Nam. Ngày 28 Tháng Tư, Tướng Nguyễn Cao Kỳ tuyên bố nên lập mặt trận giải phóng Bắc Việt. Ngày 5 Tháng Năm, Hội Ðồng Quân Lực tuyên bố giải tán để các Tướng lãnh trở về nhiệm vụ quân sự thuần túy.

Việc tăng quân số lộ ra một vấn đề thật đáng chú ý là người Việt gốc Hoa trốn tránh bằng mọi cách. Sống an toàn để khai thác thương mại, hưởng lợi kinh tế thì có họ, bảo vệ quốc gia, chống xâm lăng cộng sản thì họ lẩn trốn. Thanh niên tuổi lính vượt biên sang Miên hoặc lẩn trốn theo các kiện hàng hay hầm tàu buôn về Hồng Kông, Ðài Loan, Trung Quốc. Ðến mức độ bộ Quốc Phòng phải ra thông cáo ngày 19 Tháng Năm năm 1965 kêu gọi tinh thần hiểu biết và trách nhiệm công dân của thanh niên người Việt gốc Hoa vì số người nhập ngũ quá ít so với số công dân chính thức.

Trong bối cảnh đó tin đồn đảo chánh loan truyền liên tục, dân Sài Gòn thường thấy phi cơ man bom đầy hai cánh lượn trên thành phố mà không biết chuyện gì đã hay sẽ xẩy ra. Ngày 21 Tháng Năm, Thủ Tướng tuyên cáo có âm mưu đảo chánh hụt, ngày 24 Tháng Năm văn phòng Quốc Trưởng thông báo những ngày 19 và 20 Tháng Năm Quốc Trưởng đi kinh lý nên không hề biết có âm mưu đảo chánh. Hai bản thông cáo gieo nghi ngờ, thắc mắc trong lòng dân chúng, thì ngày hôm sau 25 Tháng Năm, Thủ Tướng Phan Huy Quát trình diện nội các cải tổ. Giữa buổi trình diện Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu cho biết không hề ký bổ nhiệm hai ông Trần Văn Thoàn tân Tổng Trưởng Nội Vụ và Nguyễn Trung Trinh tân Tổng Trưởng Kinh Tế bởi lẽ hai ông Nguyễn Hòa Hiệp và Nguyễn Văn Vịnh không từ chức. Mâu thuẫn nội bộ trở thành công khai. Ông Quát dựa theo hiến chương ngày 20 Tháng Mười năm 1964 lấy quyền Thủ Tướng cách chức Tổng Trưởng, Ông Sửu nhân danh Quốc Trưởng không ký bổ nhiệm. Bên ngoài đồn đãi có sự tranh chấp Bắc Nam, lại thêm một vấn đề quan hệ đến sự ổn định tình thế. Vấn đề đã rối lại càng rối thêm.

Sự tranh chấp quyền hành một cách công khai làm hoan mang ngao ngán dư luận, gây bất mãn càng nhiều, cho nên ngày 27 Tháng Năm linh mục Hoàng Quỳnh và Lực Lượng Ðại Ðoàn Kết yết kiến Quốc Trưởng đua kiến nghị bất tính nhiệm Thủ Tướng Phan Huy Quát. Ngày 1 Tháng Sáu linh mục Hồ Văn Vui và Mặt Trận giáo dân Công Giáo cũng gặp Quốc Trưởng đưa kiến nghị bất tính nhiệm chính phủ Quát. Ngày 2 Tháng Sáu một kiến nghị khác do khối công dân Tổng Giáo Hội Phật Giáo, Thích Chân Bổn ký; khối công dân Hòa Hảo do cụ Lương Trọng Tường ký; khối công dân Cao Ðào do ông Lê Văn Trung ký; khối công dân Công Giáo do linh mục Hoàng Quỳnh ký gởi Quốc Trưởng bất tính nhiệm Phan Huy Quát. Cùng ngày Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo ra thông cáo phản đối chính phủ Quát hạn chế quyền tự do tôn giáo bằng một dự thảo quy chế tôn giáo.

Lực lượng Quốc Gia Thống nhứt, gồm một số đảng phái chính trị, Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Xã Hội, Tân Ðại Việt v.v.. ra thông cáo yêu cầu chính phủ tránh mọi hành động gây chia rẽ. Phái đoàn Việt-Hoa chống cộng, phái đoàn Phật Giáo Hòa Hảo Nguyễn Long Châu yêu cầu Quốc Trưởng ổn định tình thế. Hai trăm cụ già đến dinh Quốc Trưởng yêu cầu giải quyết cuộc khủng hoảng. Hơn 100 sinh viên cũng kéo tới dinh Quốc Trưởng yêu cầu giải quyết. Phái đoàn nam nữ thanh niên Phật Tử tới dinh Gia Long yêu cầu ổn định tình thế. Ngày 9 Tháng Sáu năm 1965 Thủ Tướng Phan Huy Quát họp báo giao trả quyền hành cho các tướng lãnh đảm trách việc cai trị đất nước cho đến khi có chính phủ dân cử. Ngày 14 Tháng Sáu các Tướng Lãnh thành lập Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia do Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu làm Chủ Tịch và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương do Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ Chủ Tịch. Nội các Phan Huy quát tồn tại được 3 tháng 26 ngày. Một giai đoạn mới bắt đầu.

Trong một phiên họp thường xuyên của Văn Phòng Liên Lạc Cạnh Tòa Tổng Giám Mục hai vị linh mục Hoàng Quỳnh và Hồ Văn Vui đặt vấn đề quân đội thi hành chính sách quân phiệt. Bàn thảo sôi nổi giữa hai ý kiến chờ xem và lập tức ra thông cáo phản đối. Phiên họp chấm dứt không có quyết định hẹn nhau chiều ngày hôm sau sẽ tiếp tục bàn. Cuối cùng Văn Phòng quyết định xin yết kiến Trung Tướng Chủ Tịch Hội Ðồng Lãnh Ðạo Quốc gia để bài tỏ sự lo ngại của phía giáo dân công giáo. Linh mục Hồ Văn Vui gọi điện thoại cho văn phòng Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu thì được yêu cầu tiếp xúc với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nói chuyện với linh mục Hồ Văn Vui, Thiếu Tướng Kỳ hẹn với ông 10 giờ sáng ngày hôm sau. Sáng hôm đó nhựt báo Xây Dựng của linh mục Lãm đăng bản nhận định của Văn Phòng Liên Lạc Cạnh Tòa Tổng Giám mục phản đối chế độ độc tài quân phiệt nếu quân đội có chủ trương thi hành chính sách đó. Các vị tu sĩ không muốn để tên mình chính thức và công khai can thiệp vào việc đời nên tôi và Lý Chánh Trung ký tên phổ biến bản nhận định nầy.

Phái đoàn của Văn Phòng gồm linh mục Hồ Văn Vui, Hoàng Quỳnh, Nguyễn Quang Lãm, LS Nguyễn Văn Huyền, ông Nguyễn Gia Hiến, Lý Chánh Trung và tôi. Ðúng 9 giờ 55 sáng chúng tôi có mặt tại văn phòng Tư Lệnh không quân trại Phi Long. Chờ đến 10 giờ 5 phút tôi lưu ý Thiếu Tá Phan Văn Minh, Chánh Văn Phòng đặc biệt của Thiếu Tướng Kỳ, sau này là Ðại Tá Ðổng Lý Văn Phòng Phủ Phó Tổng Thống, rằng chúng tôi có hẹn 10 giờ mà bây giờ là 10 giờ quá 5 phút rồi. Vị Chánh Văn Phòng trả lời Thiếu Tướng đang tiếp khách. Tôi bất bình thưa lại với các vị linh mục là phép xã giao không cho phép người có chức quan trọng sai hẹn quá 5 phút. Các vị linh mục trách tôi là quá nóng nảy.

Ðến 10 giờ 15 là sai hẹn một cách không thể chấp nhận được, tôi đề nghị phái đoàn ra về và ghi nhận Ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương coi thường và không muốn tiếp phái đoàn. Không ai đồng ý ngoại trừ linh mục Hoàng Quỳnh, tôi đứng dậy ra đi và nói quí vị cứ ở lại không có tôi, tất cả đành bỏ về theo linh mục Quỳnh và tôi. Ra đi khỏi văn phòng độ 10 thước Thiếu Tá minh chạy theo xin lỗi bảo rằng Thiếu Tướng mời quí vị vào. Phái đoàn trở lại gặp ngài Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Vừa bắt tay chào hỏi xong, Tướng Kỳ mời chúng tôi ngồi. Xong xáo vào đề ngay: “Chúng tôi chủ trương làm cách mạng. Các chính phủ dân sự không chu toàn nổi nhiệm vụ cho nên quân đội phải đứng ra lãnh trách nhiệm.” Tôi đang sùng trong bụng vì cách đối xử không đúng lễ nghi của ông, đồng thời cũng vì vậy mà các linh mục trách cứ phiền hà tôi về tội nóng nải quá đáng, nên tôi hỏi vặn ông ta một cách sỗ sàng gần như vô lễ.

Thiếu Tướng nói làm cách mạng mà thiếu tướng có hiểu và định nghĩa được hai chữ cách mạng cho chúng tôi nghe không?

Tướng Kỳ lại thao thao bất tuyệt, nói nhiều về sự hy sinh của quân đội, về tuổi trẻ, về đất nước, về kỷ luật quốc gia ông diễn tả gần như cả một ước mơ của ông không dính dấp gì với câu hỏi của tôi đưa ra cả. Tôi lại dặn hỏi: “Thiếu Tướng muốn làm người hùng như kiểu Ðại Tá Nasser của Ai Cập mà không biết Thiếu Tướng có đọc quyển sách “Triết Lý của Một Cuộc Cách Mạng” (Philosophie d’une révolution) do Ðại Tá Nasser viết chưa?”

Chưa.

Vậy thì Thiếu Tướng rêu rao làm một cuộc cách mạng mà không định nghĩa được cách mạng là gì, muốn làm người hùng kiểu Nasser mà không biết Nasser là ai, không dọc ông ấy đã viết những gì thì làm sao khẳng định và thuyết phục được chúng tôi là quân đội chủ trương và có khả năng làm cách mạng?

Ông Kỳ lại hăng say xác định tập thể quân đội là một tập thể hùng mạnh, thành viên của quân đội là do thanh niên, là trí thức từ trong dân chúng mà ra. Vậy còn ai xứng đáng và có khả năng hơn nữa?

Tôi trả lời: Thiếu Tướng lại xác định một cách trống rỗng. Cách mạng phải có chủ trương đường lối, phải có lãnh đạo. Cách mạng không phải lời nói suông, không phải một sự tưởng tượng, càng không phải là một sự ước mơ.

Hai vị Linh Mục Hồ Văn Vui và Nguyễn Quang Lãm can thiệp vào yêu cầu Thiếu Tướng Kỳ ghi nhận là Phái đoàn đại diện cho giáo dân công giáo cảnh báo và yêu cầu quân đội không nên áp đặt chế độ độc tài quân phiệt cho miền Nam.

Cuộc tiếp xúc tương đối ngắn chỉ có một mình tôi hằn học bắt bẻ, cho nên các vị linh mục và anh Nguyễn Văn Huyền lo lắng cho sự an ninh của tôi, e rằng tôi có thể bị bắt giam bất cứ lúc nào. Phần tôi thì có hơi sợ nhưng thấy hả dạ nhẹ lòng vì đã nói cho vị đại diện quân đội hiểu được rằng họ chủ trương làm việc lớn mà không được chuẩn bị, không hiểu biết phải làm sao? Bây giờ nghĩ ra đó chỉ là sự ngan bướng của tuổi trẻ, có nhiệt quyết nhưng chưa được tôi luyện bằng kinh nghiệm đời. Ngày hôm sau vào khoản 7 giờ tối, hai linh mục Nguyễn Quang Lãm, Hồ Văn Vui, anh Ly Chánh Trung và tôi đang ngồi ăn chả cá ở tiệm Như Ý đường Calmet gần chợ Tân Ðịnh, bỗng nhiên anh chiêu đãi viên đến hỏi vị nào là Chủ Nhiệm báo Xây Dựng có người điện thoại chờ ở đầu dây. Linh mục Lãm xin phép đứng dậy đi. Vài phút sau ngài trở lại xin lỗi vì có việc gắp phải đi. Ngài còn vui vẻ bảo “Tớ đã trả tiền rồi nhé”. Ăn xong tôi về nhà đánh máy bản Nhận Ðịnh thứ hai của Văn Phòng Liên Lạc Cạnh Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn nội dung viết rằng: Nếu chính quyền áp đặt một chế độ độc tài quân phiệt thì chẳng khác gì cộng sản và chẳng những sẽ không được sự ủng hộ của quần chúng mà còn gây xáo trộn cho miền Nam nhiều hơn. Ðiện thoại nhà tôi reo, bên kia đầu dây tiếng nói của cha Lãm:

Xe tớ bị pane ở đường Công Ly,ù trước cửa nhà số 168, “toa” làm ơn đến đây rước giùm “moa” được không?

Ðương nhiên là được, ở đó chờ “moa” đến ngay.

Thuở đó đường Công Lý còn chạy hai chiều, tôi từ ngã tư đường Trần Cao Dân chạy lên Công Lý, ngừng phía bên kia đường, ngoắc cha Lãm qua, ngài không qua, tôi kêu lớn: Không qua, “moa” chạy luôn về nhà đấy. Cha Lãm cứ một mực nài nỉ, tay ngoắc tôi lia lịa, bảo tôi quẹo sang bên kia đường. Ngừng xe tôi mời ông lên để chở về. Ông lại yêu cầu tôi khóa xe, xuống để nghe ông nói một việc quan trọng. Nguyên văn như sau:

“Thằng Kỳ gọi “tao” lên trại Phi Long, nó hỏi “tao”: “Cái thằng ngồi trước mặt chống đối tôi hung hăng trong buổi tôi tiếp kiến quí vị là tên gì? Ở đâu? Xin linh mục làm ơn cho tôi biết địa chỉ và số điện thoại nhà nó”. (mối thăm tình giữa cha Lãm và tôi có từ thời sinh viên ở Paris, cách xưng hô với nhau lúc thì “tao, mầy” vỉ ông là cha và tôi là con, lúc thì “ông tớ” lúc thì “toa moa” thân thiện tùy hứng, theo kiểu văn hóa Pháp). “Tao” đinh ninh 100% là nó sẽ ra lệnh bắt “mầy” nên “tao” khẳng định nếu Thiếu Tướng bắt anh nầy thì công giáo sẽ biểu tình ngay. Bởi vì thứ nhứt, Ðức Tổng Giám Mục và cha Hoàng Quỳnh rất thương nó, thứ hai, buổi tiếp xúc đó là chúng tôi đại diện cho giáo dân công giáo. Ông Kỳ trả lời:

“Tôi bắt nó làm gì? Nếu muốn bắt chẳng lẽ cảnh sát không tìm ra được địa chỉ của nó sao? Tôi có ý định mời nó tham gia nội các”.

“Tao” nhẹ nhõm nhưng lại nhủ thầm: Thôi bỏ mẹ rồi, chắc chắn là “mầy” không chịu, nên cho địa chỉ thì “mầy” sẽ kêu ầm lên, rồi lại gây gổ với “tao” nữa, còn không cho thì phải ăn nói với người ta làm sao đây? “Tao” một mực khẳng định là “mầy” không chịu đâu, bởi vì chính “mầy” lo ngại quân đội áp đặt chế độ độc tài mà. Ông Kỳ một mực yêu cầu “tao” dàn xếp cho ông ta gặp được “mầy”, rồi nhận tham gia hay không sẽ hay. Vậy “tao” chỉ còn có một đường là nói gạt cho “mầy” lên đây. Nói xong ông cười ha hả rất khả ố. Tôi trả lời:

Không gặp quân phiệt.

Cha Lãm nài nỉ: “mầy” đừng làm mất mặt “tao” tội nghiệp, “tao” đã lỡ hứa với ông ta rồi, thì “mầy” cứ vô đó gặp ông ta rồi sẽ trả lời không nhận tham gia có thiệt hại gì đâu?

Nể mặt ông tôi bằng lòng gặp Tướng Kỳ với điều kiện có mặt ông. Nghĩa là để giúp ông giữ lời hứa với người ta.

Tướng Kỳ mặc bộ hắc y, mang súng lục kè kè, vui vẻ nói:

Thế nào? Tôi mời anh tham gia nội các với chức Tổng Trưởng Thanh Niên, thay thế tôi, chúng ta sẽ cùng nhau làm một cuộc cách mạng thật sự.

Trong gần 15 phút thuyết phục tôi, lời nói cử chỉ của ông hiện rõ lòng thành, ý chí phấn đấu, mục đích muốn xây dụng một điều gì tốt đẹp, nhưng diễn tả bằng những đại ngôn trống rỗng, nào là hy sinh mạng sống, sẵn sàng lấy cái chế để đền nợ nước vân vân và vân vân, ngôn ngữ khôi hài với sự tự tin quá đáng, ông Kỳ cho tôi một cảm giác ngờ vực. Một ông Tư Lệnh không quân, từ nhỏ đến nay chỉ biết bay và giội bom. Tổ chức quốc Gia, xã hội phải như thế nào? Kinh tế, chính trị là gì chắc chắn ông không biết. Nếu có đọc, có học, có biết thì đã phơi bầy với tôi mấy ngày qua rồi và trong 19 tháng 17 ngày ròng rã, tình hình chính trị sôi sục tại sao ông không có một lời bình phầm? Bây giờ ông lại nắm quyền cai trị tôi không yên lòng hợp tác với tư cách một người lính tòng quân. Tôi chưa dám đứt khoát từ chối vì sợ thành tích chống đối của tôi có thể biến thành bất lợi, nên tìm cách hoãn binh để về nhà suy nghĩ.

Xin Thiếu Tướng cho tôi suy nghĩ vài ngày sau tôi sẽ trả lời.

Không còn kịp đâu, anh ngồi đây suy nghĩ, nửa giờ sau trả lời. Ngày mai chúng tôi phải trình diện nội các rồi.

Xin thưa với thiếu Tướng, lập nội các là một việc trọng đại, không thể trong vài giờ mà ông chọn được những cộng sự viên mà ông chưa hề quen biết, có tâm đồng ý hợp, cùng chung quan điểm chính trị với ông và giữa họ với nhau. Mỗi người làm cách mạng theo kiểu của mình à? Ông là Thủ Tướng, họ là Tổng Trưởng chớ đâu phải ông là Tư lệnh họ là lính? Nếu suy nghĩ trong nửa giờ mà tôi trả lời không, hay nhận chức vụ nầy thì ông cũng không nên dùng tôi, bởi vì chuyện trọng đại như vậy mà quyết đoán không có tính toán, không biết đồng viện của mình là ai? Không rõ lập trường của họ có đồng thuận với mình hay không thì làm sao tôi nhận lời mời của Thiếu Tướng được?

Thôi anh về suy nghĩ đi, 12 giờ khuya trở lại đây trả lời cho tôi rõ.

Thiếu Tướng Kỳ lễ phép đưa chúng tôi ra cửa, trên đường đi ông nói: Sợ gì, anh và tôi chúng ta mua sẵn hai cái hòm, thành công thì dân tộc nhờ, chết cũng vì tổ quốc. Tôi giựt mình, vừa buồn cười vừa cảm kích, phải chăng lời nói đó có nghĩa là ông đã kết tôi là bạn tâm tình, là đồng chí đồng hành rồi? Hay là dùng đại ngôn để dụ dỗ những kẻ ngây ngô?

Ra khỏi nhà, về sau tôi mới biết nhà nầy là tư thất của Tổng Trưởng Thông Tin, linh mục Lãm và tôi chỉ bàn việc từ chối có thể xem như chống đối và thách thức, có thể bị tù. Túng thế quá tôi đề nghị đến nhà anh Luật Sư Huyền hỏi ý kiến. Anh Huyền cũng loay quay chung quanh ý nghĩ không nên tham gia và có thể sẽ bị bắt. Tôi bèn nghĩ đến người bạn chí thân, người cha linh hồn, người cố vấn sáng suốt, có thể nói là người thầy đáng kính của tôi là linh mục Nguyễn bình An, bề trên dòng Phanxicô đêm nghĩ ở tu viện Thủ Ðức, chúng tôi lao xe đến nhà dòng, vị tu sĩ mở cửa, sửng sốt, linh mục An ngạc nhiên, chúng tôi kéo qua nhà của Lý Chánh Trung ở bên cạnh đó, làng đại học Thủ Ðức, để nói chuyện vì không tiện bàn viêỳc tại nhà dòng, Bàn thảo đủ mọi khía cạnh để đi đến quyết định cuối cùng là lựa một bộ chuyên môn như Canh Nông chẳng hạn, không nên lãnh một bộ khác có tính cách chính trị. Trở lại gặp Thiếu Tướng Kỳ, tôi thông báo quyết định chỉ nhận Bộ Canh Nông mà thôi viện cớ là tuổi thanh niên tôi đi du học, bây giờ trở về tôi không hề giao dịch tiếp xúc với thanh niên làm sao lãnh đạo được anh em, sự thật tôi nói dối. Vì trong khoản thời gian đó tôi tiếp cận với nhiều nhóm sinh viên, thanh niên thông qua các bạn sinh viên trường Cao Ðẳng Nông Lâm Súc mà tôi đang dạy kinh tế nông nghiệp và quản lý nông trại. Chúng tôi luôn luôn đặc câu hỏi: Tình hình nầy, đất nước nguy ngập như vậy, “Phải làm một cái gì”. Nhưng làm cái gì đây? không ai có ý kiến cho rõ ràng. Tôi còn nhớ câu nói nầy anh Trần Văn Ngô, sau là Giám Ðốc Tác Ðộng Tâm Lý của tôi ở Bộ Thanh Niên và là Tổng Giám Ðốc Việt Tấn Xã, hay diễu cợt anh em mỗi khi gặp nhau, anh vừa nói vừa cười, nữa chơi nữa thiệt, “phải làm một cái gì”. Lý lẽ tôi đưa ra không đứng vững và cũng không đúng. Tướng Kỳ lại đổi ý, đề nghị với tôi.

Bộ Canh Nông đã có người rồi, thôi tôi đề nghị anh giữ bộ Phủ Thủ Tướng.

Lại càng không thể nhận, bởi vì cái ghế đó phải dành cho người thân tính nhứt của Thiếu Tướng, còn tôi và ông chưa hề quen biết, chưa tiếp xúc với nhau được hai lần.

Thôi tôi đã hết lời mời anh nhập cuộc phục vụ cho đất nước mà anh vẫn một mực từ chối tôi đành ghi nhận vậy.

Bắt tay chào nhau, tôi thấy nhẹ nhõm, nhưng lòng cứ tự hỏi tại sao anh Tướng trẻ tuổi nầy, không có chút oán hờn đối với mình, người đã từng chống đối ông ta, thậm chí coi thường ông ta, mà nay ông lại ân cần mời mình giữ chức vụ quan trọng bên cạnh ông ta? Thú thật tôi chưa từng thấy ai có được thái độ bao dung nhẫn nhục, nhận xét người đối tượng với mình như vậy. Ðức tính nầy thật hiếm có ở một nhà lãnh đạo cao cấp. Ðiều nầy làm tôi phải kính phục ông. Thông thường đa số ưa thích người nịnh hót mình, trái lại bất bình, thậm chí oán giận những kẻ phê bình chỉ trích mình, bất cần biết lời chỉ trích đó đúng hay sai. Rồi Nội Các trình diện ngày hôm sau, bài diễn văn của Thiếu Tướng Kỳ đầy hứa hẹn chân tình, nhưng lòng tin của dân chúng được bao nhiêu thật khó biết được. Sau đó cứ vài ngày là có điện thoại của Phủ Thủ Tướng, Ông Kỳ hỏi ý tôi về nhiều chuyên liên quan đến tôn giáo, gút mắc chính trị, nhiều khi hình như ông cảm thấy cô đơn nên gọi tôi đến phủ nói chuyện bâng quơ, hay là có dụng ý khuyến dụ tôi nhập cuộc cũng không chừng. Tôi còn nhớ rõ có hai lần chính tôi điện thoại xin gặp ông. Lần Thứ nhứt, khi ông đóng cửa nhiều tờ báo, không biết ai khuyên mà đa số lại là báo của những chủ nhiệm người miền Nam. Dư luận nhao nhao lên là Thủ Tướng người Bắc chèn ép người miền Nam. Linh Mục Nguyễn Quang Lãm, người Bắc tìm gặp tôi ông nói: Coi bộ ông Thủ Tướng thích nghe “mầy” nói chuyện, thử gặp khuyên ông ta nên rút quyết định đó lại. Làng báo nhao nhao “tao” là thằng Bắc Kỳ thấy ngại quá. Tôi bèn điện thoại xin gặp Thủ Tướng, bên kia đầu dây, giọng nói ồ ề:

Gặp “moa” có chuyện gì?

Tôi xin gặp có chuyện trình bày, biết đâu có lợi cho Thiếu Tướng.

Lên ngay bây giờ đi.

Mười phút sau, chúng tôi chào hỏi nhau, rồi tôi vô đề ngay.

Thiếu Tướng nghĩ như thế nào mà quyết định đóng cửa một lược nhiều tờ báo như vậy?

Báo chí gì? Ðó là những tờ lá cải, đóng cửa là phải.

Tôi không biết tự Thiếu Tướng quyết định hay có người phúc trình mà tôi cho rằng quyết định như vậy là sai, là thất chính trị. Bời vì thứ nhứt, nếu thật sự muốn đóng cửa những tờ báo đó thì phải chờ họ có một lỗi lầm nhỏ lớn nào đó rồi mình bắt bẻ xé to ra lấy cớ đong cửa, như vậy dù tâm không phục lý phải phục. Thứ hai đóng cửa một loạt vô cớ đó là độc đoán, độc tài, là điều mà chúng tôi lo ngại quân nhân thi hành chính sách quân phiệt. Nghĩa là cầm súng đe dọa rồi muốn làm gì thì làm. Thứ ba, báo chí là một thứ “đệ tứ quyền” có khả năng hướng dẫn, xoay chiều, bóp mép dư luận có lợi hay bất lợi cho ông tùy họ muốn. Vậy thì mới vừa ngồi vào ghế Thủ Tướng, ông lại gây chiến với báo chí là một sai lầm chính trị to lớn. Hình như Thiếu tướng Kỳ nghe lọt tay, ông bèn chuyển sang chuyện khác, hỏi han tôi đang làm việc gì có ích nước lợi dân? Tôi trả lời đi dạy học và làm thống kê kiểm tra năng suất lúa và tổng sản lượng gạo của miền nam. Chiều hôm đó đài phát thanh phổ biến bài phỏng vấn Thiếu Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, tiếng ông Kỳ nhỏ nhẹ kể rằng “bà xã tôi đi chợ nghe dân chúng than phiền việc đóng cửa báo, thiếu tin tức bình luận khác chiều, rồi khi đi về bằng Taxi lại nghe anh tài xế nói tờ báo Tiếng Dội mà anh ta thường độc bị vô cớ đóng cửa. Vậy chiều theo ý dân tôi sẽ xét và có thể cho tái bản lại. Vài ngày sau lại có quyết định cho tái bản toàn bộ những tờ báo bị đình bản. Còn chuyện thứ hai tôi ghi nhớ là có một ngày tôi được Hội Chuyên Viên Kỹ Thuật Gia do anh Lương Thế Siêu làm chủ Tịch, mời tôi hợp tại trụ sở của mỏ than Nông Sơn mà anh Siêu là Tổng Giám Ðốc. Chuyên viên kỹ thuật gia bàn về luật tổng động viên trong đó đương nhiên có chuyên viên. Hiện diện trong buổi hợp có khoản hơn 50 người. Nhiều ý kiến lên án chính phủ không sáng suốt, sẽ làm tê liệt kinh tế kỹ nghệ quốc gia, vì chuyên viên đi lính, nhà máy, hãng xưởng đóng cửa. Có ý kiến đề nghỉ miễn dịch, có ý kiến chính phủ nên đồng hóa cấp bực theo chức vụ và văn bằng, có ý kiến xin cho đi lính vài tuần cho biết đời sống quân ngũ và cũng là một hình thức tôn trọng sự công bằng và luật pháp quốc gia, rồi biệt phái họ về ngay nhiệm sở cũ. Nhưng vấn đề là làm sao đạo đạt thỉnh nguyện của chúng ta đến tay ông nhà nước? Tóm lại đa số rất sợ bị động viên! Tôi ngồi yên đấu láo với anh Nguyễn Bá Nhẫn, Giám Ðốc Thương Mại nhà máy Xi Măng Hà Tiên và Nguyễn Khắc Thành Giám Ðốc nhà máy Tân May, không phát biểu ý kiến, vì tôi đã chuẩn bị tư tưởng trước khi hồi hương từ Pháp về, là không trốn lính trong thời chiến. Tôi đưa tay xin phát biểu:

Anh em ở đây muốn đạo đạt thỉnh nguyện của mình tại sao không xin gặp tổng Trưởng Quốc Phòng hay Thủ Tướng? Nhiều tiếng phát biểu nhau nhau, lộn xộn.

Bộ dễ gặp lắm sao?

Ai chịu tiếp mình mà gặp.

Ra tuyên cáo phản đối rồi muốn ra sao thì ra.

Làm reo nghĩ việc cái đã, mấy ổng thấy nguy cơ thì sẽ xét lại.

Tôi đề nghị anh em làm đơn xin yết kiến Thủ Tướng để trình bày sự việc. Lương Thế Siêu mỉa mai “toa” giỏi thì đưa đơn xin cho anh em gặp đi.

Nhiều người thuận theo ý kiến xin gặp, mấy ổng có cho gặp hay không rồi sẽ tính sau. Anh Nguyễn Bá Nhẫn đồng ý nói:

Chúng ta là công chức cao cấp không thể làm ngan được. Tôi bỏ ra ngoài gọi điện thoại cho ông Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, trình bày lý do va xin cho một phái đoàn anh em chuyên viên yết kiến. Ông chấp nhận ngay. Tôi còn gạn hỏi:

Ông cho phép chúng tôi đi bao nhiêu người?

Bao nhiêu cũng được. Ông còn nói đùa, càng nhiều càng tốt.

Trở vào phòng họp tôi thông báo quyết định của Thủ Tướng chấp nhận tiếp kiến anh em. Ða số tưởng tôi nói đùa, tôi phải nhiều lần khẳng định là thật và anh em đề nghị cử người đại diện, tôi bảo không cần, ai muốn đi thi cứ đi. Tôi lại ra ngoài diện thoại lại xin hẹn ngày giờ lên dinh Thủ Tướng trình bày sự việc. Sáng hôm đó Thủ Tướng tiếp kiến 21 anh em chuyên viên tại phòng họp của nội các, không có đủ ghế ngồi, một vài anh phải đứng. Cuộc tiếp kiến vắn tắt, kết quả chuyên viên được biệt phái về nhiệm sở cũ, sau những tuần lễ được huấn luyện quân sự. Trong phiên họp tại Mỏ Than Nông Sơn có một kỹ sư trẻ xong xáo nói năng mạch lạc tên Trương Văn Thuấn, tôi nhận xét lầm tên nầy nên mới giới thiệu anh vô nội các làm Ủy Viên Giao Thông Vận Tải, sự thực anh là một người không Lý Tưởng, chủ trương trốn lính, sẵn sàn đi cửa sau hạ mình đổi lấy danh lợi. Chuyện đời thường có hạng người như vậy.

Nói về Nguyễn Cao Kỳ, tôi phải ngay tình nhìn nhận, tôi có duyên mai biết được Hai Nguyễn Cao Kỳ. Một Nguyễn Cao Kỳ, có lòng với đất nước, có chí cao “đội đá vá trời”, trung thành với bạn. Và một Nguyễn Cao Kỳ chủ quan, mơ việc lớn nhưng không lượng được sức mình, có khí phách anh hùng nhưng vì thiếu sáng suốt nên ẩu tả, gan lì, bạt mạn theo kiểu cao bồi của phim truyện. Ðến đây tôi xin độc giả cho phép tôi trích đăng lại những bài tôi viết gần đây, phổ biến trên nhiều báo tiếng Việt tại Mỹ, về một Nguyễn Cao Kỳ vì chủ quan, tưởng mình là “con Phật”, vì lợi danh hay vì một lý do gì khác phản bội lý tưởng của chính mình, phản bội đồng đội, đồng hành, để rồi trong những bài kế tiếp nếu tôi có lời khen ngợi Nguyễn Cao Kỳ thì cũng là một sư công bằng, một hành động theo lương tri của người trí thức. Những bài ghi lại sự việc xẩy ra giữa Tướng Kỳ và tôi, hay những suy nghĩ của tôi về Tướng Kỳ cũng là một nét chấm phá trong những trang hồi ký về cuộc đời tôi.

Lạm bàn về chuyến đi Việt Nam của cựu Phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ

Hơn 50 năm nội chiến, 30 năm chia rẽ hận thù, đất nước Viện Nam đang ở trong tình trạng chậm tiến nhất thế giới, tuyệt đại đa số dân Việt Nam đang sống trong cảnh nghèo đói. Vậy những ai còn chút lương tri, có lòng yêu nước cũng phải động tâm nghĩ đến tương lai Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ cũng như bao nhiêu người khác có quyền tự do hành động theo sự suy nghĩ của mình. Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ.

Ðã là cấp lãnh đạo một thời của miền Nam Việt Nam có lẻ ông Kỳ nên hành động dè dặt hơn. Dù muốn dù không, chung quanh ông cũng còn một tập thể không ít những người đã từng cùng ông chung lưng đấu cật chiến đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ. Trước một đại sự quốc gia ông cần tỏ ra có tư cách của một nhà lãnh đạo biết tôn trọng tập thể quần chúng đã từng đứng dưới bóng cờ của mình. Thông thường ông phải giải thích ít nhiều về chuyến đi nầy. Cho dù ông không thể nói rỏ được thì cũng phải úp mở đủ để cho người ta hiểu được. Ðành rằng nhân danh cá nhân, ông có quyền tự do hành động. Ðành rằng một mình cá nhân ông sẽ gánh hưởng hậu quả. Nhưng đây là chuyện quốc gia hai chữ “Cá Nhân” trong hoàn cảnh nầy không còn giá trị và ý nghĩa như thông thường nữa.

Ðược mời hay cho phép về?

Theo lời tuyên bố của ông Kỳ với ký giả Ðổ Hiếu, đài Á Châu Tự Do, thì “Vào Tháng Bảy ông Thứ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Ðình Bin có nói rằng nhân danh tất cả các anh em trong nhà, ông muốn trân trọng mời tôi về thăm quê hương” rõ ràng là có mời. Theo nguồn tin thân cận với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì hình như ông Kỳ muốn đưa ra một thông cáo viết sẵn trước khi về, có sự đồng ý thông qua do Tổng Lãnh Sự Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trình về. Nhưng không biết lý do gì người ta không thấy thông cáo đó. Sự tráo trở lật lọng của cộng sản quốc tế, nhứt là cộng sản Việt Nam là điều thông thường, không ai lấy làm lạ. Năm 1992 trong một phiên họp tại Paris giữa các chủ nhân công ty và xí nghiệp Pháp, tôi được hân hạnh tham dự với tư cách là ký giả đài phát thanh quốc tế Pháp (RFI), ông cựu Ðại Sứ Pháp De La Louette nói rằng: “Nếu có một vị nào đó may mắn ký được hợp đồng, kể cả với Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, ngày hôm nay và nếu ngày mai ông ta tuyên bố ủy bỏ hợp đồng thì các ông cũng đừng lấy làm lạ” Cho nên sự việc báo công an Hà Nội viết rằng chính phủ cho phép tòa Tổng Lãnh Sự cấp chiếu khán cho ông Kỳ là đúng bởi vì bất cứ ai nhập cảnh cũng phải có chiếu khán, đó là sự thường.

Sự bất thường ở đây là thái độ trịch thượng, thiếu ngoại giao, tráo trở vô ý thức của một cơ quan ngôn luận đại diện cho quyền lực của nhà cầm quyền Cộng Sản, đã biến chuyện mời thành chuyện xin xỏ. Tờ báo nầy còn viết “người Việt Nam vẫn chưa quên rằng ông Kỳ là người chống cộng sản” ngay đoạn sau lại viết “đã đến lúc không nên nhìn về dĩ vãng.” Rõ ràng là mâu thuẫn có gian ý. Thật ra ông Kỳ không phải là người đầu tiên và duy nhứt trong giới lãnh đạo hay viên chức cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ được cộng sản mời về nước thăm nhà. Năm 1996 việt cộng đã mời Ðại Tướng Dương Văn Minh về nước. Họ còn bịa ra rằng cái nhà cũ của ông gọi là “Dinh Hoa Lan” đang được sửa chữa để đón ông về và hơn nữa nhà đó thuộc quyền sở hữu của ông Minh bởi vì chính phủ Ngô Ðình Diệm đả bán nó cho ông Dương văn Minh với giá tượng trưng là 1 đồng bạc. Ðại Tướng Dương Văn Minh tươi cười (cười ruồi) xác nhận với kẻ viết bài nầy không hề có chuyện đó. Sự thật những vị công chức cao cấp cũ đều biết nhà chính phủ không thể đem ra bán cho một cá nhân nào, ngoại trừ trong những cuộc đấu giá công khai nếu có. Và tôi còn biết có lần bà Luật Sư Nguyễn Phước Ðại nhân danh Ðỗ Mười, Võ Văn Kiệt mời nhân vật khác nữa!

Tại sao Cộng Sản phải mời?

Từ sau ngày xé bỏ hiệp định Paris xâm lược miền Nam, cộng sản Hà Nội bị thế giới lên án và cô lập. Nhân dân miền Nam căm thù chán ghét vì vậy mới có hàng triệu người liều chết vượt biên. Ðể chống đỡ phần nào tai tiếng gian ác, cộng sản tìm mọi cách dụ dỗ những người có chút danh ngày xưa, nay quen thói háo danh, còn muốn “theo voi hít bã mía”, để làm bông hoa cho chế độ ( dù là các loại hoa xấu xí của miền Nam như hoa “mắc cỡ”, hoa “thúi địch”, hay hoa “chó đẻ” cũng được).

Sau một thời gian làm băng hoại đất nước, bần cùng hóa nhân dân, việt cộng nhận thấy đàn anh đàn thầy như Trung Quốc, Liên Xô bị phá sản nên họ đành muối mặt tuyên bố đổi mới. Kêu gọi hòa giải, đầu tư. Những người có thân nhân ở nước ngoài bị coi là một thứ tội nhân, những người đã vượt biên bị gán nhãn hiệu là phản quốc, nay họ trở thành những đứa con quý mến gởi tiền và đồ vật về nuôi quê hương, phát triển đất nước. Những “bọn ngụy quân ngụy quyền” nay được mời gọi về thăm quê hương để cho thế giới thấy rằng cộng sản có đổi mới.

Ngày nay tình hình thế giới hoàn toàn thay đổi. Kinh tế tư bản chủ nghĩa có tính toàn cầu do Hoa Kỳ lãnh đạo là không thể đảo ngược được. Ðàn anh Trung Quốc đang ra sức đổi mới, thực tế là đang từng bước chối bỏ quá khứ cộng sản sai lầm của mình-mới đây nhất là công nhận quyền tư hữu về đất đai của người dân-để sống còn, thì Cộng Sản Việt Nam có con đường nào khác ngoài con đường đổi mới để khỏi tự đào mồ chôn tập thể với nhau? Mặt khác cộng sản đang gấp rút chuẩn bị để xin vô tổ chức World Trade Organisation (WTO). Muốn vào thì phải tương đối đủ mạnh về kinh tế để không bị chèn ép quá đáng. Muốn mạnh về kinh tế thì phải nhờ viện trợ, từ tiền bạc, kỹ thuật cho đến kinh nghiệm, kiến thức của các nước tiên tiến. Muốn được viện trợ thì phải ít nhiều đáp ứng được những yêu cầu chính đáng của họ trong việc thực hiện các giá trị văn minh của nhân loại về tự do, dân chủ, nhân quyền, chứ không thể treo tấm bảng chủ quyền quốc gia trước cửa rồi tự tung tự tác trong nhà như thời còn mồ ma “Hệ Thống Xã Hội Chủ Nghĩa Thế Giới”. Khổ hơn nửa là phải chấp nhận bài trừ tham nhũng bởi vì thế giới biết rõ 36% tiền viện trợ đi vào túi cán bộ nhà nước, vì vậy năm nay lại có chương trình viện trợ để điều tra tham nhũng.

Và, biết đâu còn có lời nhắn nhủ phía sau. Nếu anh muốn chơi với chúng tôi vì nhu cầu kinh tế hay vì sợ đàn anh Trung Quốc xỏ lá kề bên thì phải nghĩ cách “cư xử như thế nào” với hàng triệu người vừa là đồng minh cũ của chúng tôi vừa là công dân Mỹ góc Việt đang nắm lá phiếu trong tay có thể ảnh hưởng xa gần đến sinh hoạt chính trị của nước tôi.

Về để làm gì?

Ở vị thế của Nguyễn Cao Kỳ không thể nào về chơi thăm nhà mà thôi được. Ông đã tuyên bố trên đài Á Châu Tự Do “Tôi cũng nói rằng nếu các anh em đang có trách nhiệm với đất nước mà biết nghĩ đến chuyện đó, bỏ qua hận thù và dĩ vãng, rồi sửa sai những chuyện mình làm không đúng trong dĩ vãng để mà tạo ra một đại đoàn kết của dân tộc để mà chấn hưng lại đất nước.” Và trả lời phỏng vấn trên đài BBC, đại ý ông cũng kêu gọi đôi bên nên gác quá khứ để nhìn về tương lai đất nước. Ðiều đó đúng. Nhưng có điều ông nói sai là theo ông những người cộng sản thấy được chủ nghĩa của họ đã lỗi thời và chúng ta phải để cho họ thời gian sửa sai. Thời gian bao lâu nữa? Họ dùng chủ nghĩa cộng sản để mê hoặc dân chúng không được nữa thì bịa ra tư tưởng Hồ Chí Minh. Và kinh tế thị trường theo đinh hường Xã Hội Chủ Nghĩa là cái quái quỷ gì? Họ cần có thời gian để lột xác, hay họ đang quanh co để “sạch sành sanh vét cho đầy túi tham”? (Kiều).

Xét cho cùng ông Kỳ có can đảm rêu rao một sự thật là hận thù không thể kéo dài truyền kiếp được, dân tộc và đất nước là trên hết. Tôi cũng đã từng viết chế độ là nhất thời, dân tộc là vạn đại. Nhưng ký giả đài BBC hỏi câu rất xác đáng: liệu có thể nào thay đổi, nếu chế độ nầy cứ khăng khăng giữ lấy độc quyền. Những câu trả lời và phát biểu của Nguyễn Cao Kỳ đầy nhiệt huyết và lòng yêu nước. Ông sẵn sàng góp phần xây dựng vô điều kiện, cũng như lúc tuổi 20 ông hiến thân cho đất nước không có điều kiện. Xét trên bình diện cá nhân người ta có thể cho là tinh thần yêu nước đáng quý. Nhưng xét về mặt chính trị, nhứt là đối với một người đã từng lãnh đạo thì có thể nói đó là một thứ lý tưởng không tưởng (Pháp gọi là idéalisme irréaliste). Bởi vì ông Kỳ đang nói chuyện với tập đoàn xảo quyệt, một thứ Vua Bịp Bãi Thượng Hải, mà ông đem sự thành tâm thiện ý để trao đổi thì ông thua là cái chắc. Dù sao chuyến đi về của ông cũng có chút giá trị hay công dụng, nó đo lường được phần nào thâm ý của cộng sản, lật tẩy được lá bài gian lận nếu có, nó có thể hé lộ một chút ánh sáng nào đó ở cuối đường hầm nếu ông Kỳ có khả năng đột phá bức tường độc tôn.

Thông thường người ta nghĩ rằng ông kỳ rêu rao hòa giải cũng giống như đại văn hào Pháp Jean Jacques Rousseau đòi công bằng xã hội, bình đẳng công dân với bản văn “Contrat Social” của ông, dưới chế đo độc tài phong kiến của Pháp quốc. Trừ khi có một áp lực quốc tế nào đó quá mạnh buộc việt cộng đi vào thế chẳng đặng đừng thì may ra ông Kỳ mới hy vọng thành công.

Cho dù như thế đi nữa thì ông Kỳ phải thấy rằng bên kia cộng sản muốn hòa giải với ai? Nếu chỉ muốn hòa giải với ông Kỳ không mà thôi thì chuyện đã xong rồi nói làm gì nữa. Còn việc hòa giải với những người Việt Nam thuộc chế độ miền Nam đang sống trong nước cũng như ở hải ngoại thì lại là một việc khác. Sự kiện ông Kỳ Tuyên bố không mấy quan tâm đến ưu tư của người khác mà chỉ hành động theo lương tâm và cá nhân ông thôi, ông muốn kêu gọi đoàn kết mà ông không chịu tìm cách đoàn kết với những người đã từng là bạn đồng hành đồng chí với ông trước khi kêu gọi người gian ác bên ngoài, thì e rằng ông đang làm việc “Dã tràng xe cát biển Ðông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì”.

Còn một vấn đề phức tạp khác người ta cần phải nghĩ đến là Việt cộng và một thế lực nào đó manh tâm dùng ông Kỳ để gây bàn tán sôi nổi, chống đối ủng hộ, đấu tranh chia rẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại nhầm đốt cháy hết những bộ mặt xưa cũ để rồi sử dụng những người mà họ, đã an bài sẵn.

Ván bài mà vì quá tự tin, quá sốt ruột hay do ảo giác “Con Cầu Tự” mà ông Kỳ đem hết chút ít vốn liếng còn lại đặt vào, thật là oan uổng.

Nói theo ngôn ngữ của sồng bài thì nhà cái cộng sản chắc chắn sẽ thắng. Từ vừa đến lớn. Nhưng tôi thành tâm không mong ông Kỳ sạch túi, vì rằng ông ấy có tâm tư, tình cảm, và ước mơ như tất cả chúng ta về một đất nước Việt Nam sớm có tự do, dân chủ và thịnh vượng.

Thiết nghĩ những người bất đồng chính kiến với Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ cũng nên kềm chế đừng để cho cộng sản quá vui mừng vì chúng ta đấu đá nhau quá tồi tệ.

Vấn đề chính yếu là chúng ta phải đoàn kết với chúng ta trước khi nói đến chuyện bắt tay hay đoàn kết với người ngoài.

NHỮNG GÌ TÔI BIẾT VỀ VIỆC NGUYỄN CAO KỲ VỀ NƯỚC

Phần II

Những gì tôi biết, hình như có hai Nguyễn Cao Kỳ, một Nguyễn Cao Kỳ phản bội đồng đội, phản bội chính mình, khi chấp nhận làm con cờ cho cộng sản trong giai đoạn mà chế độ vô nhân nầy đang bị đảo điên, đang cần sự tiếp tay hỗ trợ về mọi phía. Và một Nguyễn Cao Kỳ Từ 1966 đến 1975, có lòng với đất nước, muốn đội đá vá trời nhưng không thành, vì thiếu hiểu biết việc quốc gia đại sự, biến chuyển quốc tế, thế chiến lược toàn cầu, vai trò của Việt Nam trong hoàn cảnh đó và nhứt là vì những đàn em dựa hơi phá bĩnh hay nhóm “Lương Sơn Bạc” cùng ăn thề uống máu với ông ỷ thế làm hư việc.

Ðể giữ sự công bằng đối với ông, để giữ sự trung thực theo lương tâm của nhà báo và sự đứng đắn ngay tình của một cộng sự viên đã một thời được ông kính trọng và tin tưởng, những gì tôi tường thuật về cựu Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, hiện còn những nhân chứng sống có thể xác nhận. Người đầu tiên trong đó chính là ông Nguyễn Cao Kỳ. Và đây là câu chuyện:

Chuông điện thoại reo, tiếng nói ồ ề từ đường dây bên kia:

– Triều đó hả? Nguyễn Cao Kỳ đây, nầy cậu có muốn về Việt Nam không?

– Về làm gì? Moa đã nói nhiều lần: “một ra đi không hẹn ngày về” rồi mà. Khi nào đất nước hết bóng công an cộng sản, có tự do dân chủ và nhân quyền thì có moa ở Saigon.

– Ði về với moa, tớ được tụi nó mời đường hoàng.

– Nói chơi hay nói thật vậy? Thằng ma nào cao hứng mời toa vậy? Cái trò nầy moa đã thấy qua rồi. Bỏ đi tám.

– Thật mà, Thằng Nguyễn Ðình Bin, Thứ Trưởng Ngoại Giao của tụi nó đích thân tỏ lời mời trong một bữa cơm ở San Francisco, sau khi gặp gỡ ở sân golf. Nó nói:“Anh em bên nhà muốn tỏ ý mời Thiếu Tướng về thăm quê hương, và nếu có dịp xin Thiếu Tướng cho ý kiến về tinh thần và cung cách liên hệ với Hoa Kỳ, ông là người thông suốt nhứt.” Và cũng nhân cơ hội để cho mọi người biết người Việt chúng ta đã sẵn lòng quên quá khứ và đang nghĩ việc xây dựng tương lai.

– Còn khuya, bá láp, toa vừa bước chân lên máy bay thì bên nầy anh em sẽ chửi toa như chửi “Ch…” để rồi toa xem.

– Sợ “Ðếch” gì? Cậu biết thừa, xưa nay tớ có sợ ai đâu, vả lại tớ luôn luôn nghĩ rằng sẽ có ngày vết thương cũ phải được hàng gắn bằng cách nầy hay cách khác. Tốt nhất là trong giai đoạn mình còn sống để về thăm quê cha đất tổ.

– Thằng nào lại không mong mỏi điều đó? Nhưng vết thương của đất nước sẽ được hàn gắn bằng cách nào? Bằng cách đầu hàng “Bẩm ông xin tha thứ, ban luật đại xá cho chúng con” như thằng Phó Bá Long van xin năm 1992 chăng? Chuyện đó không có moa!

– Làm gì có chuyện đó. Ðây là chuyện “sérieux” (nghiêm chỉnh), Khi nào về đến Việt Nam, gặp nhau mình có thể cùng với anh em bên kia bàn thảo.

– Moa không tin có chuyện đó. Moa có kinh nghiệm với ông Ðại Tường Dương Văn Minh ở bên Pháp rồi, toa thử biểu tụi nó viết thư chính thức mời toa đi.

– Dĩ nhiên rồi sẽ có.

– Nếu thật sự là như vậy thì ít ra toa phải phổ biến một bản thông cáo xác định lập trường và mục đích của toa trước khi bước lên cầu thang máy bay. Như vậy thì rõ ràng minh bạch.

– OK, hay lắm, cậu làm ơn thảo giùm cho tớ một lời tuyên bố đi, nhưng mà lần nầy phải làm gấp, không được hứa rồi kéo dài như lần trước bắt tớ chờ đôi ba tháng rồi cút luôn đấy.

– Ðược rồi, để moa thảo giùm cho, sẽ có ngay.

Sở dĩ ông nguyễn Cao Kỳ giao điều kiện như vậy là vì thời gian trước đó khá lâu, ông tuyên bố lăng nhăng gì đó, báo chí và truyền thông truyền hình chỉ trích phê bình ông rất gắt gao, làm ông mất mặt. Khi đó tình cờ tôi đang đi vào Restaurant Song Long ở đường Bolsa thấy một xe chạy ngang, qua khỏi tôi lại ngừng, người bước xuống đó là Thiếu Tướng Kỳ, có cựu Thiếu Tá Liệu nguyên là tùy viên của ông ngày trước cùng đi. Ông Kỳ chận tôi lại. Sau khi nói chuyện qua loa tôi hỏi liền:

– Tại sao toa tuyên bố lăng nhăng làm báo chí sỉ vả tùm lum vậy?

Ông Kỳ đính chánh:

– Tụi nó xuyên tạc ý kiến moa.

– Phát biểu bố láo bố lếu là nghề của toa, gây hiểu lầm và bị phê bình lên án là phải, khi nào thấy cần đưa ra một ý kiến gì đó thì nên viết thành một bản văn, phổ biến rộng rãi, không ai có thể hiểu lầm xuyên tạc được.

– Ðồng ý, vậy cậu có thể thảo giùm một bản văn cho tớ không?

– Ðược rồi để moa thảo cho, nhưng với một điều kiện là từ nay không nên bốc đồng nói bậy nữa thì moa mới thảo.

Ông Kỳ nhanh chống biểu đồng tình. Tôi lỡ miệng hứa cho qua đường, đến khi về nhà tôi có than với bà xã là “bản tính của ông Kỳ là hay bốc đồng nói không suy nghĩ. Bây giờ mình có giữ lời hứa, bỏ công thảo bất cứ thứ gì, rồi nay may ổng lại bốc đồng ham ăn ham nói thì ai bịt miệng ông ta được? Ðời anh chưa thất hứa với ai bao giờ nhưng lần nầy chắc phải đành lỗi hẹn làm thinh.

Sau đó lại gặp ông Kỳ ở Santa Ana một lần nữa, ông trách:

– Ð.M… chỉ gặp toa ở ngoài đường không thôi, tại sao không ghé qua nhà chơi? Và lời tuyên bố của moa toa hứa viết đâu?

Tôi giả vờ lấy cớ:

– Moa không có tài liệu báo chí sỉ vả toa như thế nào làm sao viết được.

– Thôi được rồi, để moa biểu thằng Liệu nó gởi cho toa.

Tuần lễ sau tôi nhận được nhiều bài báo và một video cassette do cựu Thiếu Tá Liệu gởi đến nhưng tôi vẫn làm ngơ. Còn về việc lần nầy tôi xét thấy vấn đề hơi nghiêm chỉnh hơn trước, nên trong lúc điện đàm tôi hứa sẽ có ngay. Vài giờ sau tôi gọi điện thoại lại và đọc cho ông Kỳ nghe lời tuyên bố nguyên văn như sau.

LỜI TUYÊN BỐ CỦA THIẾU TƯỚNG NGUYỄN CAO KỲ CỰU PHÓ TỔNG THỐNG VNCH

Ý thức rằng công việc góp phần xây dựng đất nước được phú cường, mưu tìm đời sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho dân tộc và tạo thế đứng xứng đáng cho Việt Nam trong cộng đồng quốc tế ở thế kỷ 21 là trách nhiệm của mọi công dân.

Ý thức rằng do bối cảnh quốc tế. Việt Nam đã bị lôi cuốn vào cuộc nội chiến cốt nhục tương tàn, nhưng thời gian nữa thế kỷ qua đủ để làm cho lòng người phản tỉnh và nhận thức là đã đến lúc phải hàn gắn và xây dựng lại quê hương.

Quan niệm rằng lòng yêu nước không thuộc độc quyền của một phe nhóm. Ðất nước là gia sản của ông cha để lại. Người quốc gia hay cộng sản vẫn là con người Việt Nam, mang cùng một giồng máu, gánh chịu cùng một trách nhiệm đối với dân tộc.

Quan niệm rằng lịch sử thế giới từ xưa đến nay đã chứng minh: Chế độ là nhất thời, dân tộc là vạn đại.

Quan niệm rằng gần đây chủ nghĩa cộng sản tại nhiều quốc gia đã tự biến thể hoặc bị xóa bỏ vào cuối thế kỷ 20 nầy.

Vì vậy sau 21 năm đất nước bị chia cắt và 49 năm dân tộc bị ly tán, tôi nghĩ rằng đã đến lúc mọi người bên nầy và bên kia, đều có bổn phận trong phạm vi trách nhiệm và khả năng của mình, làm mọi cách để hàn gắn, tái tạo sự ổn định cho Việt Nam.

Với tinh thần đó chúng tôi, Nguyễn Cao Kỳ, với tư cách cá nhân, đã nhận lời mời của chính phủ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt NAM, về thăm quê nhà, tiếp xúc với chính quyền, để nhận xét tình hình, trong tinh thần xây dựng và khách quan nhầm mục đích, nếu có thể được, góp phần nhỏ mọn của mình trong công cuộc tái lập sự hài hòa và uy thế cho đất nước, đem lại tự do hạnh phúc cho dân tộc.

Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ

Los Angeles ngày… tháng… năm

Sau khi nghe xong ông Kỳ nói: “Perfect”. Ông yêu cầu tôi gởi ngay bản văn nầy cho ông. Tôi còn dặn dò thêm: “Toa nên đưa lời tuyên bố nầy cho Tổng Lãnh Sự Hà Nội ở San Francisco, yêu cầu nó chuyển về cho thượng cấp của nó, hỏi có vui lòng thấy bản văn nầy được phổ biến trước khi toa về Việt Nam không? Ngoài ra hai đoạn nói về “chế độ là nhất thời” và “cộng sản biến thể hay bị xóa bỏ” nếu họ không vừa ý thì toa có thể bỏ đi cũng được.

Ðiều quan trọng là khi về đến Saigon toa phải đòi cho bằng được vào đại học, đọc một bài diễn văn trước mặt sinh viên. Trong đó toa có thể ca ngợi chế độ về đổi mới, về những chuyện đâu đâu vô tích sự… Nhưng quan trọng nhứt là phải có bốn chữ: “Tự do dân chủ”. Bên nầy tụi moa khai thác bốn chữ nầy như thế nào toa khỏi lo”.

Ông Kỳ đồng ý.

Bản thảo lời Tuyên bố nầy tôi có đọc cho rất nhiều người bạn nghe, trong đó có một tướng lãnh biết ông Kỳ nhiều, vài anh em ký giả chủ báo ở California và một vài bạn bè bên Pháp. Mục đích là để yêu cầu họ suy nghĩ giùm xem tôi có viết điều gì hớ hênh không? Tất cả tán thành ý kiến diễn đạt trong bản văn. Nhưng đa số ngạc nhiên và nghi ngờ cộng sản sẽ tráo trở.

Trước khi đi San Franciaco ông kỳ có điện thoại cho tôi biết là ông sẽ gặp Tổng Lãnh sự Hà Nội và được ông nầy mời dùng cơm trưa. Ông hứa trên đường về Los Angeles sẽ ghé qua Fresno thăm tôi và bàn việc. Hai ngày sau, lúc 9 giờ đêm tôi nhận điện thoại của ông Kỳ nói ông đang rời San Francisco mà nếu ghé qua Fresno gặp tôi nữa thì về đến Los sẽ trễ đến sáng, nên xin hẹn ngày khác gặp nhau. Bây giờ chỉ nói chuyện sơ qua bằng điện thoại thôi. Tôi hỏi:

– Hà Nội có tán thành lời tuyên bố của toa đưa ra trước khi về không? Nguyễn Ðình Bin sẽ gởi giấy mời chính thức không?

– Tụi nó đồng ý 100% về bản văn và sẽ có thơ mời chính thức. Ðồng thời Hà Nội sẽ gởi hai nhân vật qua để thảo luận chương trình đi đứng ăn ở với moa.

– Mọi chuyện hình như tốt đẹp. Nhưng tại sao quá suông sẽ như vậy làm tôi thấy hơi lạ. Rồi ông Kỳ im hơi luôn cho đến một ngày trước khi lên máy bay ông mới điện thoại báo tin cho tôi biết. Tôi hỏi:

– Toa có được giấy mời chính thức không?

– Không.

– Toa có phổ biến lời tuyên bố mà toa đã nhờ moa viết và được tụi Hà Nội thuận ý 100% như toa nói không?

– Không có phổ biến.

– Tại sao toa không chịu phổ biến? Toa có biết rằng ngang nhiên đi về làm bông hoa cho tụi nó là toa chôn vùi tên tuổi và chịu nhục nhã cả đời không?

– Sợ gì, đợi về bên đó gặp tụi nó rồi sẽ thảo luận sau.

– Toa tưởng toa là ai? Ngay những lời hứa sẽ có thơ mời, ngay quyết định đua ra lời tuyên bố cũng không có thì một là toa tự dối gạt mình, hai là toa bị hai thằng sứ giả Hà Nội dối gạt toa, ba là toa dối gạt moa. Một trong ba, hay là cả ba đều đúng, toa làm ơn nói rõ cho moa biết được không?

– Toa yên trí, toa biết moa là thằng liều, để moa về đột phá bức tường cộng sản nầy cho tụi toa thụ hưởng về sau.

– Toa đừng có giở cái vọng nói đó với moa. Thứ nhứt toa không có khả năng đột phá, thứ hai moa không phải là thằng ngồi chờ sung rụng để hưởng, thứ ba tuổi moa đã già đủ cơm ăn áo mặc rồi không cần thụ hưởng bất cứ thứ gì khác ngoại trừ thấy dân tộc mình được giải thoát. Thôi nói nhiều mích lòng vô ích, chúc toa gặp được nhiều may mắn. Nhưng có điều moa cho toa biết trước là trong tương lai, nếu moa có lập trường khác biệt, nếu moa có lời phê phán nặng nề không nể mặt anh em thì toa phải hiểu rằng mỗi thằng chúng mình bênh vực lập trường và theo lý tưởng của cá nhân mình.

– Ðược rồi. Ðể tớ về có gì hay ho tớ sẽ điện thoại cho cậu.

Từ đó và vĩnh viễn Nguyễn Cao Kỳ, theo tôi nghĩ, không còn mặt mũi nào liên lạc với tôi nữa và tôi cũng quyết định sẽ không bao giờ gặp gỡ, tiếp nhận điện thoại bởi lẽ tôi không còn gì để nói với ông ta.

Chuyện Nguyễn Cao Kỳ về nước làm giấy lên dư luận xôn xao phê phán nặng nề. Những lời tuyên bố nịnh bợ Hà Nội, phản bội đồng đội, làm cò mồi dẫn mối kinh tế của ông làm dư luận phẫn nộ phỉ nhổ.

Tôi có hỏi qua một vài người bạn quen biết ông khá nhiều như Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị thì ông ta nói:

“Thằng Kỳ có điện thoại cho moa, nó nói khá nhiều nhưng moa trả lời về trong điều kiện không rõ ràng, bất lợi đó không có moa”.

Tôi cũng có dịp hỏi qua anh Ðại Sứ Bùi Diễm, anh nói: “Ông Kỳ có điện thoại cho tôi nhưng tôi nói với ông ta về trong điều kiện hạ mình nhịn thua kiểu Hàn Tín ngày xưa thì không có tôi”.

Có những bạn bè thân hữu hỏi tôi, báo chí phỏng vấn, tôi chỉ suy đón rằng ông Kỳ một là vì háo danh tưởng mình là con cầu tự. Ông nhiều lần thố lộ với tôi có một ông thầy tướng số Thái Lan nào đó, bói rằng đời ông còn vang vẽ tiếng tăm (tốt hay xấu ông thầy nầy quên nói). Bà vợ chắp nối sau nầy là người thường lợi dụng tên tuổi của ông để làm ăn với thương gia Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Chính bản thân Nguyễn Cao Kỳ cũng nhiều lần khoe với tôi là ông quen biết nhiều phú ông, vua dầu hỏa, người Á Rập cùng đánh golf với ông và hứa sẽ hỗ trợ ông đầu tư xây dựng lại Việt Nam khi ông cần đến. Những ông bạn nầy lâu lâu tặng ông món quà một hai trăm đô la dễ dàng, coi như không có. Từ đó tôi phải suy diễn rằng Nguyễn Cao Kỳ yêu nước ngày xưa, nay bị mù lòa vì tiền hoa hồng dẫn mối cho các thương gia Á Rập hay vì quyền lợi vật chất do cộng sản hứa hẹn như trường hợp của Dương Văn Ðức con của Dương Văn Minh, và đáng buồn hơn nữa vì đàn bà thúc giục mà Nguyễn Cao Kỳ phải nghe theo! Sự suy diễn nầy đúng hay sai, bất công hay đó là sự thật chỉ có Nguyễn Cao Kỳ và bà vợ ông mới biết thôi.

Phần tôi đã viết ba bài đăng trên nhiều báo: “Lạm Bàn Về Việc Nguyễn Cao Kỳ Về Nước”. “Hai Hình Ảnh Một Âm Mưu”. và “Chuyện Nhuyễn Cao Kỳ Chấm Xuống Hàng Lật Sang Trang”.

(Còn tiếp)

Võ Long Triều

Tại sao Cựu Ðại Tướng Dương Văn Minh không về nước ?
Friday, November 17, 2006

Tôi đang viết bài trên máy vi tính bỗng nhiên có tiếng chuông kêu cửa. Mở cửa ra tôi thấy có một ông khách lạ, còn đứng ngay trước cửa, ông liền tự giới thiệu:

– Tôi là Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài, “ba tôi muốn xin yết kiến với anh, xin anh vui lòng cho tôi một cái hẹn tôi sẽ đưa ba tôi đến gặp anh”.

– Xin lỗi đại tá, ba của đại tá là ai?

– Tôi là con rể của Ðại Tướng Dương Văn Minh…

– Ô! xin lỗi, tôi thành thật xin lỗi Ð.T. vì chúng mình không thường gặp nhau nên tôi không nhận được Ð.T. là con rể của Ðại Tướng Minh, bạn của thân phụ tôi ngày xưa mà, khi Ðại Tướng còn là Trung Tá commandant secteur Long An (Chỉ Huy Trưởng vùng Long An gồm ba tỉnh Long An, Mỹ Tho, Bến Tre) còn ba tôi là Thiếu Tá Phó tỉnh trưởng nội an sous secteur Bến Tre (vùng phụ). Anh dùng hai chữ yết kiến sẽ làm tôi giảm thọ chết không được đâu. Xin anh cho tôi biết khi nào Ông Ðại Tướng rảnh tôi sẽ đến hầu chuyện với Ðại Tướng.

– Tùy ngày giờ rỗi rảnh của anh, tôi sẽ đến chở anh đi thăm ba tôi.

Buổi sáng ngày tháng nào của năm 1993, tôi không còn nhớ, anh Nguyễn Hồng Ðài đến chở tôi đi gặp Ð.T. Dương Văn Minh ở ngoại ô thành phố Paris. Buổi tiếp xúc đầu tiên rất thân mật, sau khi trò chuyện xã giao, nhận định tình hình chung quốc nội và quốc tế lúc đó, ông Minh không ngần ngại nói thẳng cho tôi biết rằng theo cái nhìn và quan sát của ông thì các nhân vật chính trị định cư ở hải ngoại không có ai ngoài tôi hiểu biết cộng sản nhờ qua bao nhiêu năm tù đầy và ở lại sống với tụi nó. Cũng theo ông, tôi hội đủ điều kiện và khả năng đấu đá với cộng sản, đặc biệt tôi có thể giúp ông thực hiện mưu đồ đòi lại tự do dân chủ cho dân tộc. Dĩ nhiên tôi đối đáp lại và giải thích rất nhiều về những lời khen tặng quá đáng của ông Ðại Tướng, có lẽ vì tình bạn đối với ông già tôi hay vì muốn tâng bốc để thuyết phục tôi giúp ông thực hiện toan tính của ông.

– Anh biết không anh Triều, thằng Ngô Công Ðức có qua thăm tôi và cho biết Thủ Tướng Võ văn Kiệt mời tôi về nước để chứng tỏ cho đồng bào và thế giới thấy tôi và họ đang thực hiện chủ trương hòa giải dân tộc. Ðó cũng là chính sách mà tôi chủ trương ngày trước. Gần đây bà Nguyễn Phước Ðại cũng có nhắn nhủ lời mời của ông Võ văn Kiệt. Theo ý anh thì thấy như thế nào?

– Thưa Ðại Tướng tôi muốn nói một điều mà chắc sẽ làm mích lòng Ðại Tướng nhiều lắm nên tôi không dám thốt ra.

Ông Minh cứ hỏi và nhấn mạnh rằng ông sẽ không cố chấp dù tôi có nói gì đi nữa. Tôi bèn nói thật: Ðại Tướng là bạn của ba tôi thì tôi cũng ví ông như cha mẹ, nếu tôi nói ra mà ông có giận, có chửi thì tôi cũng coi như nước đổ đầu vịt, cha chửi con là sự bình thường. Vậy tôi xin thưa: “Ông là tượng trưng cho sự thất bại”, cờ đã tới tay bao nhiêu lần mà ông không biết phất. Ðời người không có hai ba cơ hội. Ðại Tướng nghĩ lại xem, đời ông có bao nhiêu lần Trời cho cơ hội? Tôi không muốn nói đoạn chót tháng tư năm 1975. Theo tôi, ông sẽ không làm gì được do tự bản thân ông. Nhưng hiện tại ông có một cái thế . Nếu ông biết cách khai thác cái thế đó thì cộng sản Hà Nội sẽ mệt lắm. Chắc chắn sẽ không phải ông làm cho tụi nó ngã mà ông có thể làm cho tụi nó gặp rất nhiều khó khăn rắc rối. Ðó là tương kế tựu kế ông cứ về nước đi. Về để làm gì thì anh em sẽ cố vấn cho ông nếu ông chịu nghe và dám hành động.

– Anh Triều à, người ta nói “Trâu già không sợ dao phay” tôi năm nay trên tám mươi tuổi rồi còn mong ước gì? Còn sợ gì nữa anh thử nghĩ xem?

Khi bắt tay ra về ông Minh cầm tay tôi thật lâu, có vẻ trầm tư suy nghĩ và nói:

– Anh có thể tạo một équipe để giúp tôi việc đó không?

– Xin Ðại Tướng cho tôi thời gian suy nghĩ.

Trên đường về nhà, tôi gạn hỏi anh Ðài về sự toan tính của ba vợ anh. Về sự suy nghĩ của ông, về sự quyết tâm của ông đến mức độ nào. Anh Ðài không cho tôi thêm được một chút thông tin nào ngoài những gì Ðại Tướng Minh đã thố lộ tâm tình với tôi. Về đến nhà, tâm trạng tôi có chút bàng hoàng, tôi tự hỏi tại sao ông Minh không tìm những người thân cận ông ở nước ngoài như anh Nguyễn Hữu Chung, nếu ông về trong nước thì có Lý Quí Chung cũng là cựu Tổng Trưởng trong chính phủ một ngày rưỡi của ông, Hồ Văn Minh, Ngô Công Ðức, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Chánh Trung…( Tôi sẽ đề cập đến những tên tuổi nầy khi tôi bàn về quyển “Hồi Ký Không Tên của Lý Quý Chung). Tại sao ông lại tìm đến tôi. Tôi đem những bàng hoàng suy nghĩ nầy tâm sự với một số bạn bè thân thiết như Bác Sĩ Trần Công Phát, Phó Chủ Tịch hội y sĩ Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Anh Tuấn đồng nghiệp của tôi ở radio RFI, Giáo Sư Lê Ðình Thông v.v… Ý kiến của tôi là: Nếu ông Minh về nước, danh nghĩa là sống những ngày tàn của cuộc đới nơi quê cha đất tổ, Cộng sản Hà Nội sẽ lợi dụng rêu rao là chế độ của họ đã cởi mở tối đa. Bằng cớ là một cựu Tổng Thống VNCH cũ mà còn chấp nhận trở về yên sống với chế độ. Nhưng trong khi đó ông Minh cũng có thể tuyên bố những điều mắt thấy tay nghe, một đúng mười sai, một hay mười dở để cho bên ngoài dựa vào đó mà khuếch đại tuyên truyền bất lợi cho cộng sản. Ðiều chắc chắn là bọn chúng không dám bắt bớ giam cầm ông bởi vì chính chúng nó mời về. Cùng lắm là cô lập ông như Tăng Thống Huyền Quang thì lại càng hay hơn nữa, chừng đó có thêm một nạn nhân có tầm cỡ quốc tế. Ðó là chưa kể vài tháng ông xin đi thăm Tăng Thống Huyền Quang, vài tháng ông xin thả Bác Sĩ Nguyễn Ðan Quế, Giáo Sư Ðoàn Viết Hoạt v.v… Những cái gai châm chích trường kỳ vào chế độ. Thiết nghĩ nếu ông Minh làm được thì cũng là một sự góp phần trong việc tranh đấu nhằm thay đổi chế độ độc tài cộng sản Hà Nội.

Về Paris tôi đem chuyện gặp gỡ Ð.T. Dương Văn Minh thuật lại cho một vài anh em nghe. Các anh đưa ý kiến: nên khuyên ông Minh “Tương kế tựu kế”, khai thác cái thế của ông ấy trong giai đoạn hiện tại. Bởi vì bọn cộng sản đang cần “bôi son trét phấn” cho cái bộ mặt tàn bạo, gian ác, độc tài, dốt nát của họ trong giai đoạn mà cộng sản Hà Nội hô hào “Ðổi Mới để sống còn” họ cần chứng minh cho thế giới thấy Việt Nam đang đổi mới chẳng những về kinh tế, khi họ tuyên bố: “mượn kinh tế thị trường để phát triển xã hội chủ nghĩa!…”, về chính trị, họ tìm mọi cách chiêu dụ nhân vật chế độ cũ trở về Việt Nam, hoặc hợp tác, hoặc hồi cư để chứng minh sự đổi mới của Hà Nội là thật, là tốt đến nỗi người của chế độ cũ cũng đồng ý tán thành!…

Nếu ÐT Dương Văn Minh biết lợi dụng hoàn cảnh, khai thác được cái thế chính trị của ông trong giai đoạn nầy, thì sẽ có lợi cho đại cuộc và đồng thời ông cũng hóa giải được phần nào sự phê phán của dư luận về lệnh buông súng đầu hàng của ông ngày 30 Tháng Tư năm 1975.

Sau khi thảo luận với anh em, tôi gặp lại Ð.T. Minh nhiều lần, mỗi lần đều có mặt Ð.Tá Nguyễn Hồng Ðài để xác nhận rằng tôi và một số anh em bằng lòng giúp ông thực hiện kế hoạch đã bàn định. Về Paris tôi lo nghĩ phải mời những ai? Bạn bè thì đông, “tài tử chính trị” có nhiều! Nhưng, người còn nhiệt tình với đất nước, chịu khó suy nghĩ một cách khách quan thì tôi biết ít (mặc dù số người đó có thể đông ở Paris). Cuối cùng tôi quyết định mời các anh chị: B.S. Trần Công Phát, T.S. Lê Ðình Thông. Anh Chị K.S. Lê Như Quốc Khánh, K.S. Lê Văn Song, D.S. Nguyễn Anh Tuấn và Ð.Tá Nguyễn Hồng Ðài (rể D.V. Minh), K.S. Dương Văn Ðức (con D.V. Minh). (Tất cả những anh chị em nầy là nhân chứng sống của cuộc mưu toan lót cầu đưa Việt Nam đến dân chủ nhân quyền của Ð.T. Minh; âm mưu quỉ quyệt của phía cộng sản; sự tham lợi háo danh của người con Dương Văn Ðức đã làm hư việc, đưa đến quyết định hủy bỏ chương trình về nước của Ð.T. Minh).

Rất nhiều phiên họp giữa các anh em và Ð.T. Dương Văn Minh được tổ chức tại nhà tôi, kéo dài cả năm trời, mỗi lần đều có thu băng video và cassette để giữ làm tài liệu khi cần tham khảo những gì đã bàn tính với nhau. Ð.T. Minh xác định sẽ về với con trai là Dương Văn Dức để có người thân bên cạnh trong lúc già yếu bệnh hoạn.

Những cuộc bàn thảo xoay quanh nhiều vấn đề có thể tóm tắt như sau:

Ð.T. Dương văn Minh sẽ lợi dụng tình thế và cơ hội khi ông trở về nước, để gây sự chú ý của dư luận thế giới bên ngoài. Ông là nhân chúng sống để liên lạc, tìm hiểu những vấn đề quan trọng của Việt Nam.

Phương pháp thực hiện là Ð.T. về nước mở một trận “giặc mồm”, nghĩa là bằng những lời tuyên bố của ông, lúc khen lúc chê, lúc yêu cầu, lúc đề nghị, lúc góp ý, lúc khuyên can, nhằm gây khó khăn thậm chí trong một chừng mực nào đó có thể tạo sức ép đối với chế độ. Anh em tiên đoán rằng Việt cộng không dám bắt ông Minh. Tối đa là cô lập hoặc làm cho ông bất mãn đến độ phải tự ý quay trở về Pháp.

Ðiều kiện trở về là nhứt định phải có thơ mời chính thức của nhà nước cộng sản. (mặc dù Ngô Công Ðức và bà Nguyễn Phước Ðại có chuyển lới mời của Võ văn Kiệt rồi). Anh Dương văn Ðức được chỉ định về Việt Nam lấy thơ mời chính thức. Như vậy Việt cộng sẽ “há miệng mắc quai” về sau vì họ đã chính thức mời. Ðây cũng là một sự bảo đảm an toàn cho Ð.T. Minh và anh Ðức trong tương lai. Nếu có thơ mời thì mình phải có thơ phúc đáp chính thức rồi mới về. Nếu phía cộng sản dụ dự chưa chịu mời hay không mời thì mình chờ xem diễn biến như thế nào.

Nếu chưa có điều kiện thuận lợi để trở về thì ngay bây giờ ở tại Pháp ông Ð.T. nên đưa ra những lời Tuyên bố có lợi cho đất nước, đúng với tâm tư đa số người Việt, hợp với chủ trương của các nước Tây phương. Với sự kiện đó, thời gian sẽ biến dần hình ảnh của ông thành con người của thời cuộc.

Ðặt cơ sở liên lạc thật chặt chẽ giữa những người thân ở Pháp – Việt Nam – Mỹ.

Tìm một hoặc nhiều người, ngoài anh D.V. Ðức, có khả năng đi đi về về Việt Nam khi cần liên lạc bên trong với bên ngoài. Thành lập nhiều nhóm trong nước, do người tin cậy đứng đầu. Những người nầy phải thuộc hạng gan lì. Nếu đổ bể phải một mình chịu đựng và gánh trách nhiệm.

Tìm những sĩ quan đàn em, thân cận của Ð.T. Minh ngày xưa còn lưu lại trong nước hoặc đang ở nước ngoài, sẵn sàng tiếp tay với ông trong cuộc vận động nầy.

Ðặc biệt chú trọng đến giới sinh viên học sinh và giáo sư trẻ. Chỉ có thanh niên mới có đầy đủ nhiệt quyết và can đảm “đội đá vá trời”

Khi nào chưa tìm được người đồng tình dấn thân thì ngồi yên chờ cơ hội. Nên nhớ rằng “tình báo nhân dân” của cộng sản hơn ta gắp bội phần. Có khi chính tụi nó gài , cho người tự nguyện hoạt động hăng sai với mình để biết rõ kế hoạch mình đang làm gì? Với ai? Và khi cần sẽ hốt trọn ổ. Khi mới chiếm miền Nam bọn chúng áp dụng phương pháp nầy để bắt hàng ngàn người chống cộng.

Giặc mồm: Ð.T. Minh phải tuyên bố hòa hợp là chính sách của nhà nước nhưng muốn có được sự hòa hợp thì trước tiên phải có sự hòa giải. Chính sách hòa hợp của nhà nước còn thiếu nhiều điều kiện để cho dân chúng Việt Nam trong và ngoài nước hưởng ứng. Chúng ta không thể hợp tác xây dựng lại quê hương khi mà trong lòng người còn giữ sự nghi kỵ, căm thù, tức hận lẫn nhau.

Hòa giải là kẻ nào đã phạm sai lầm phải công khai nhìn nhận với quần chúng. Sau đó mới đề nghị xóa bỏ quá khứ để hướng về tương lai.

Hòa giải hòa hợp không thể thực hiện một chiều. Nghĩa là thuận theo ý kiến và điều kiện của phe nhóm bên nầy hay bên kia. Muốn hòa giải nhà nước đương quyền phải thả hết những người tù thuộc chế độ cũ và những người vì bất đồng chính kiến với nhà cầm quyền mà bị bắt bớ giam cầm. Phải có một đạo luật về hỏa giải hòa hợp dân tộc qui định rõ ràng nguyên tắc… hình phạt… cấm đoán trả thù… phân biệt đối xử.. v.v.. Tối thiểu phải mở rộng dân chủ để cho mọi công dân tự thấy có quyền và bổn phận tham gia việc nước.

Ý nghĩa của hai chữ “Dân Chủ” phải hiểu theo nghĩa khoa học được toàn thế giới chấp nhận chớ không thể hiểu một trìu theo nghĩa méo mó có dụng ý của cộng sản. Nói tóm gọn: quốc gia không thể phát triển nếu không có sự cởi mở tối thiểu về chính trị. Quốc gia không thể phát triển theo độc quyền chỉ đạo của đảng cộng sản.

Về Tôn giáo: Tôn giáo là dân tộc. Người Việt Nam vốn là hữu thần. Ð.T. phải khéo léo hỗ trợ các tôn giáo trong hành động và qua lời tuyên bố mỗi khi có cơ hội. Mình phải vận động để các tôn giáo mời Ð.T. tham dự những ngày lễ lớn của họ. Luôn luôn tuyên bố trong những cơ hội đó “Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hữu thần”. Chùa chiền, nhà thờ, thánh that, đình miếu ở khấp nơi trong xứ đủ chứng minh điều đó. Làm sao cho quần chúng thấy ngay sự đối kháng giữa dân tộc hữu thần và cộng sản vô thần. Ð.T. phải lợi dụng mọi cơ hội để thăm viếng những vị lãnh đạo tôn giáo.

Về Kinh Tế: Sẽ thành lập một nhóm anh em chuyên viên kinh tế nghiên cứu những sai lầm của Hà Nội và đường hướng đứng đắn để phát triển đất nước. Ð.T. có thể thường xuyên tuyên bố về luật đầu tư, về điều kiện dễ giải nhầm thu hút vốn đầu tư quốc tế, về chất xám và nguồn tài chánh của cộng đồng người Việt hải ngoai v.v…

Ðặc biệt lưu ý đến điều kiện sinh sống của thương phế binh và các chiến hữu vô phúc còn kẹt lại trong nước. Mục đích chính là không khiêu khích, không đối đầu mà uốn theo tình thế, để tạo một cái gai không thể nhổ ra được, một cụm tế bào ung thư không bao giờ lành, bằng cách thường xuyên xin viếng thăm Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Ðộ… Xin chính quyền trả tự do cho BS Nguyễn Ðan Quế, GS Ðoàn Viết Hoạt hiện còn bị cầm tù… Với những lời tuyên bố, viếng thăm, can thiệp, yêu cầu, khuyên giải, thường xuyên sẽ kết lại thành một bản cáo trạng nhẹ nhàng êm ấm nhưng có tầm ảnh hưởng tai hại cho Hà nội.

Trước khi anh D.V. Ðức về lần thứ nhứt, đại diện cho Ð.T. Dương Văn Minh, sẽ gặp Thủ Tướng Võ Văn Kiệt có hẹn trước, chúng tôi họp bàn về chuyến đi nầy. Mục đích là anh Ðức phải đích thân gặp Thủ Tướng Võ Văn Kiệt để lấy thư mời. Hỏi những câu thông thường về điều kiện sinh sống tự do tại Saigon, nếu ông Ð.T. bằng lòng về nước. Ð.T. có tự do nhập cảnh và xuất ngoại dễ dàng không? Có quyền đi lại tiếp xúc với bạn bè thân hữu không? v.v… Tóm lại anh Ðức phải nghe nhiều hơn nói và nhiệm vụ của anh là phải ghi nhớ thật chính xác những gì ông Kiệt phát biểu và trở về Paris tường thuật lại nguyên văn, chi tiết, cho anh em nghe để anh em đoán hiểu ý đồ của chính quyền Hà Nội như thế nào?

(Còn tiếp)

Tại sao ông Dương Văn Minh không về nước?
Friday, November 24, 2006

Gợi ý cho Dương Văn Ðức phòng khi bị Võ Văn Kiệt hỏi vặn

Ngoài ra anh em cũng có dự trù những câu hỏi mà Thủ Tướng Võ Văn Kiệt có thể hỏi lại anh Ðức nên đã đặt giả thuyết những câu hỏi phòng bị và trả lời viết rõ ra như sau:

H- Về đến Việt Nam nếu chính phủ mời ông Ð.T. tham gia Mặt trận tổ quốc thì Ð.T. có vui lòng chấp nhận không?

TL- Tôi không biết được ý kiến của ba tôi như thế nào? Nhưng theo tôi nghĩ thì MTTQ là cơ quan của đảng và nhà nước, ở vị thế của ba chắc ba nên đứng độc lập ngoài các cơ quan của đảng và nhà nước, như vậy ba có thể giúp ích cho xứ sở nhiều hơn chăng? Bằng những lời tuyên bố hướng về phía người ngoại quốc hay đồng bào Việt nam.

H: Ð.T. có còn ý định gián tiếp hay trực tiếp tham gia sinh hoạt chính trị không?

T.L: Con người Dương văn Minh là con người chính trị, do hai lần đứng đầu lãnh đạo Miền Nam trong những trường hợp rất đặc biệt, nhứt là lần thứ hai ngày 30-4-75. Vì vậy bất cứ một hành động, một cữ chỉ, một lời nói nào của Dương Văn Minh người ta cũng có thể gán cho nó một ý nghĩa chính trị. Ðó là điều không thể tránh được. Thí vụ như việc trở về Việt Nam của Dương Văn Minh sẽ có người xem đó là điều có lợi cho chế độ Hà Nội.

H: Ð.T. có còn giữ những mối liên hệ với các chính phủ nước ngoài không?

T.L: Tôi không có hỏi ba tôi về vấn đề nầy, nhưng theo tôi nghĩ thì sau ngày 30-4-1975 mọi sự liên hệ trở thành vô ích và vô nghĩa. Tuy nhiên nếu muốn liên hệ lại, chắc là điều không khó.

H: Nếu nhà nước muốn nhờ ba liên lạc với một chính phủ nước nào đó để đặt một vấn đề gì đó có lợi cho quốc gia thì ba có sẵn lòng không?

T.L: Tôi nghĩ rằng trên nguyên tắc chắc ba sẽ không từ chối, nhưng cái đó phải tùy xem vấn đề gì và với mục đích nào?

H: Ông Ð. T. ở Pháp thường hay liên lạc với những ai?

T.L: Hiện ba đang ở với người em của tôi ở ngoại ô thành phố Paris, nên chắc ít có người tới lui thường vả lại ba cũng không muốn tiếp xúc với nhiều người nữa. Tuy nhiên với một quá khứ như của ba thì sự quen biết và bạn bè tương đối khá đông và rất rộng rãi, vì vậy cũng có một số người, kể cả ở Mỹ hay Canada có qua Pháp thăm ba (như Nguyễn Hữu Chung, Tôn Thất Thiện… ở Paris như Lâm ngọc Diệp, Trần công Phát… Nếu họ có hỏi thêm thì giả vờ suy nghĩ rồi nói là không để ý đến khách của ba và vì không có ở chung một nhà nên không biết… Câu nầy không khi nào họ dám hỏi trực tiếp ông Ð.T. vì vậy chắc họ sẽ tìm hiểu thông qua anh Ðức…)

H: Ở Pháp Ð.T. sống bằng cách nào? (câu nầy chắc họ cũng không dám trực tiếp hỏi ông Ð.T., nhưng chắc chắn họ phải tìm hiểu bởi vì nó có tác dụng đối với họ về sau… (cung phụng vật chất để lấy lòng v.v…)

T.L: Ba tôi sống bằng tiền trợ cấp xã hội của Pháp như mọi người già hưu trí. Ngoài ra anh chị em chúng tôi cũng đống góp đủ cho ba sống dư giả trong tuổi già.

H: Nếu có về Việt Nam thì Ð.T. dự tính chừng nào về?

T.L: Khi nào ba thấy thuận tiện thì về, tôi chưa nghe ba nói khi nào?

H: Ð.T. có thường liên lạc với những thân hữu ngày xưa mà hiện nay còn ở lại Việt Nam không?

T.L: Anh Ðức nên nói tất cả sự thật nếu Ð.T. có liên hệ với bất cứ ai? Bởi vỉ họ đã biết rõ và biết lâu rồi. Anh nói ra sự thật có lợi điểm là ngăn chận và lật tẩy được những người lợi dụng danh nghĩa của ông Ð.T. để buôn thần bán thánh.

H: Về Sài gòn Ð.T. có dự tính đi đâu không?

T.L: Tôi không nghe ba nói sẽ đi đâu, nhưng chắc cũng đi du ngoạn một vài nơi trong nước và đi thăm bà con thân hữu chỗ nầy chỗ khác.

H: Theo anh ông Ð.T. có thể làm gì trong hiện tại để góp phần xây dựng quê hương?

T.L: Câu nầy xin quí vị trực tiếp hỏi ba tôi, bởi lẽ chỉ có ba mới có tư cách và thẩm quyền trả lời mà thôi.

Anh Dương Văn Ðức về Việt nam lần thứ nhứt có gặp Thủ Tướng Võ Văn Kiệt. Không có thơ mời chính thức. Nhưng theo anh Ðức nói lại thì chờ lần sau, khi Ð.T. xác nhận ý định sẽ về Việt Nam. Anh Ðức thực sự có tường trình tương đối đầy đủ những gì hai bên trao đổi. (V.L.T)

Theo sự tường trình của anh Ðức thì Võ Văn Kiệt chỉ hỏi về sức khỏe của Ð.T? Thường liên lạc với ai? Chừng nào về? Có liên lạc với những thân hữu trong nước không? Vấn đề quan trọng được xoay quanh là chừng nào về để nhà nước chuẩn bị chỗ ở. Ð. T. về sẽ ở lại “Dinh Hoa Lan”.

Anh em có đặc biệt lưu ý anh Ðức là về lần thứ hai nầy phải dứt khoát đặt vấn đề thơ mời và nói rỏ ông Ðại Tướng không thể đương nhiên trở về nước được nếu không có một thơ mời chính thức. Và cũng như lần trước anh em có đặt một số câu hỏi mà anh Ðức có nhiệm vụ phải tìm hiểu ý đồ của phía công sản, Những câu hỏi đó là:

– Thủ Tướng khuyên ba tôi về ở yên dưỡng già chờ chết hay nên có những cử chỉ hành động gì có thể đóng góp cho đại cuộc?

– Trong điều kiện nào sự trở về của ba tôi có thể góp phần cho công cuộc đổi mới, hòa giải hòa hợp dân tộc để phát triển đất nước?

– Các vị lãnh đạo của đảng và nhà nước có biểu đồng tình với thủ tướng về việc mời ba tôi về không?

– Thủ Tướng thấy tôi có nên nhân danh ba tôi để đi viếng thăm xã giao các vị Tổng bí Thư và Chủ Tịch Nhà Nước không?

– Tình hình đất nước có thể nào đi đến cởi mở hơn, dân chủ hơn không?

– Ba tôi có thể làm gì để giúp cho qua trình tự do dân chủ thiến nhanh và thành công không?

– Báo chí ở hải ngoại loan tin Thủ tướng đang gặp nhiều khó khăn nội bộ có đúng không?

– Chừng nào Thủ Tướng mới có thư chính thức mời ba về? Ba tôi không thể tự nhiên trở về vô điều kiện như vậy. Ðiều nầy Thủ Tướng cũng thừa biết vậy rồi?

Anh Dương Văn Ðức trở lại Paris sau lần về Việt Nam thứ hai. Anh em hợp đông đủ cùng với ông Ð.T. và con là Ðức và Rể là Ð.Tá Ðài. Anh Ðức báo cáo là không có gặp Võ Văn Kiệt chỉ gặp được chánh văn phòng của ông Kiệt mà thôi. Những điều ông chánh văn phòng nầy nhắn lại đáng được ghi nhớ là:

– Sẽ có thơ mời Ð.T. sau.

– Ðang sửa chữa “Dinh Hoa Lan” để tiếp đón Ð. T. trở về.

– Ðiều kiện sinh sống và đi lại sẽ dễ dãi.

– ”Dinh Hoa Lan” hoàn toàn thuộc về sở hữu riêng của Ð.T. bởi vì chính phủ Ngô Ðình Diệm đã bán cho ông Minh với giá một đồng bạc danh dự rồi.

– Sẽ mời anh Dương Văn Ðức giữ một chức vụ Giám Ðốc gì đó trong bộ ngoại giao.

Anh em nhận định: nếu Cộng Sản Hà Nội chịu để cho Ð.T. tự do sinh hoạt, đi lại bình thường thì có thể xoay trở để thực hiện mục tiêu như đã định.

Vấn đề chính phủ đã bán Dinh Hoa Lan cho ông Minh làm ông Ð.T. cười ngất. Ai cũng thấy ngạc nhiên vì mọi người hiểu rằng một “nhà chức vụ” (maison de fonction) là của nhà nước không thể bán cho tư nhân dễ dàng như vậy. Nếu muốn bán thì phải qua một cuộc đấu giá công khai, ai cũng có quyền mua được. Loại nhà nầy dành riêng cho người có chức quyền tương xứng. Khi rời nhiệm sở phải trả nhà lại cho người kế vị. Trường hợp Dương Văn Minh, chức Tướng là mang suốt đời, nhưng nhà nầy được cấp cho ông là khi ông giữ chức Cố Vấn Quân Sự cho Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Sau ngày đảo chánh ông Diệm, Tướng Minh là chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng. Và về sau vì nể nang và kính trọng quá khứ của Ð.T. Minh nên không một chính phủ nào đòi nhà lại để cấp cho người khác.

Dù vậy nếu một khi ông Minh qua đời thì gia đình ông phải dọn ra, trả nhà lại cho chính phủ. Cộng Sản Hà Nội không biết gì về thể lệ hành chánh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa nên bày ra trò gian dối nầy để dụ dỗ lòng tham của ông Ð.T. Bởi vì cái Dinh Hoa Lan rộng lớn mênh mông ở giữa thủ Ðô Sài Gòn giá bán hiện tại cũng phải hàng chục triệu đô la. Còn việc mời Dương Văn Ðức làm Giám Ðốc lại càng rõ ràng là một sự dụ dỗ và lợi dụng tiếng tăm.

Ðiều đáng tiếc là anh Dương Văn Ðức không nói hết sự thật. Trước mặt anh em và cha của anh là Ð.T. Minh, anh dấu việc đã gặp riêng Thủ Tướng Kiệt. Và ông nầy đã hứa giúp anh Ðức làm ăn bằng cách để cho anh độc quyền mua bán và cung cấp máy vi tính cho các cơ quan nhà nước cộng sản. Một mối lợi hàng triệu đô la. Và còn những gì bí ẩn khác mà anh Ðức không nói ra, kể cả với người cha của anh. Bắt đầu từ đó anh Ðức mở những cuộc hợp riêng với một vài anh em trẻ trong nhóm như k.s. Lê Như Quốc Khánh, k.s. Lê Văn Song và bạn bè khác. Anh Ðức thố lộ với những người bạn nầy là sự thật anh có gặp Võ Văn Kiệt. Các anh ấy bàn với nhau việc làm ăn mua bám máy vi tính cho chính quyền Hà Nội. Một hôm anh Song thố lộ với tôi là thấy chuyện bất ổn, vì anh Ðức không thành thật, không thể tin cậy được.

Sau khi biết được sự thật nguy hại như vậy tôi liền gặp riêng Ð.T. Minh đặt vấn đề. Không thể tin cậy và để anh Ðức tiêu lòn như vậy được. Ông Minh tức giận tột cùng, thốt ra những lời nặng nhẹ đối với người con mà ông nghĩ rằng sẽ trông cậy vào tuổi già yếu một khi trở về Việt Nam. Ông than thở nhiều. Trong buổi gặp mặt khá lâu nầy có thu băng đầy đủ. (Mỗi lần gặp chung ở nhà tôi thì thu video cassette còn gặp riêng thì ghi âm máy cassette của nhà báo). Hai câu nói của ông Minh làm tôi phải ghi nhớ mãi là: “ il devient dangeureux celui là” (tạm dịch: Thằng nầy trở thành nguy hiểm)

– Mà anh Triều, anh có biết dangeureux (nguy hiểm) là cái gì không?

– Trời ơi! Tội nghiệp quá Ð.T! Ông quên rằng tôi đã học ở Pháp 10 năm và đã tốt nghiệp đại học ở đây sao? Vì cơn giận còn tiếp, nên tôi trả lời như vậy ông cũng chưa nhận ra là mình nói hớ. Ông không cười, không để ý, cứ tiếp tục.

– Hèn gì chị hai của nó nói với tôi: “Ba coi chừng thằng Ðức nó bán ba nó ăn à”!

Ðại Tướng Minh và tôi đặt lại toàn bộ vấn đề. Tôi hơi bối rối, ông Minh buồn và chán nản. Vấn đề đặt ra là ai sẽ đi về Việt Nam với ông? Nếu Dương Văn Ðức cứ tiếp tục đi đêm vì lợi ích cá nhân thì một lần nữa tên tuổi của Dương Văn Minh sẽ vùi trong bùn và lần nầy ông thật sự đắc tội với lịch sử vì đã tiếp tay đánh bóng cho chế độ cộng sản độc tài gian ác.

Ðột nhiên ông Minh nói:

– Anh Triều nếu anh chịu về với tôi thì ngày mai tôi về liền. Anh cùng sống cùng ở với tôi. Tôi sống anh sống tôi chết anh chết”.

– Ð.T. à, không phải tôi sợ chết mà không dám về với ông. Thử nghĩ tôi về Việt Nam với ông, ai ở ngoài tiếp tay làm ống loa cho ông? Năm 1991 khi Cộng Sản bị buộc phải cấp chiếu khán cho tôi xuất xứ thì anh thiếu tá công an tên Thắng nói với tôi là cấp trên của anh ta nói rằng thả Võ Long Triều ra nước ngoài là thả cọp về rừng. Câu nói đó sai 100%, nhưng tôi trở về trong điều kiện nầy thì không bị “xe cán” cũng phải ăn trúng độc phẩm mà chết oan uổng. Ð.T. nghĩ xem có đúng không?

Ông Minh lặng thinh buồn bã. Trong biết bao nhiêu lần gặp gỡ tôi chưa khi nào thấy ông buồn chán như vậy. Mọi chuyện đang tiến hành như anh em sắp xếp, đột nhiên bây giờ phải ngừng lại, giậm chân tại chỗ vì ông Minh và tôi chưa biết ai phải cùng về với ông và làm sao ngăn cản được sự háo danh ham lợi của đứa con bất hiếu toan tính bán cha cầu lợi.

Mãi cho đến khi tôi phải sang Mỹ thăm gia đình ở San Jose, bất ngờ tôi nhận được fax từ Paris và thấy báo chí loan tin bài phỏng vấn của ông Minh đăng trên Nguyệt San Nhân Bản của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Pháp đại ý như sau:

– Tại sao phải về?

– Tôi muốn sống những ngày cuối cùng trên đất nước với dân tộc của mình.

– Về để làm gì?

– Với tuổi nầy tôi chẳng còn tham vọng gì cả, tôi muốn thấy tự do và hòa bình dân tộc trên đất nước Việt Nam, điều nầy ai cũng đề cập liên miên, người thì thấy theo kiểu nầy, người thì thấy theo kiểu khác, bây giờ tôi muốn tự tôi thấy.

– Sau ngày 30 Tháng Tư ông có thấy làm việc với cộng sản được không?

– Tôi không thấy chỗ nào để hợp tác được, có lẽ đầu óc họ có muốn thân thiện với tôi, cái đó tôi không xét đón được. Tôi từ chối mọi thuyết phục thân thiện vì tôi không còn tinh thần nữa.

– Vậy thì bây giờ có những thay đổi gì để ông nhận xét phải về?

– Bây giờ, tôi làm được cái gì để giúp cho dân có thêm được dân chủ và tự do thì làm. Tôi không hợp tác, nhưng tôi sẽ đem tiếng nói của tôi để thuyết phục bên kia tại quê nhà. Vì thế tôi mới về. Tôi biết người dân trong nước cũng quan tâm đến tụ do dân chủ.

(trích nguyệt san Nhân Bản số đặc biệt 30-4-1997, trên đây là nguyên văn một số những đoạn hỏi và trả lời)

Sau lần gặp gỡ đầu tiên với Dương Văn Ðức Hà Nội bắt đầu chiến dịch bôi lọ nhằm tách rời hoàn toàn Ðương Văn Minh và Cộng đồng quốc gia Việt Nam Cộng Hòa. Báo Tuổi Trẻ phát hành tại Sài Gòn ngày chủ nhật 1 tháng 9 năm 1996 viết rằng sau khi vượt Trường Sơn Thiếu Tá Việt Công Dương Văn Nhựt, tức mười Ty, được lệnh của ban binh vận Trung Ương Cục phải quan hệ và tranh thủ người anh là Dương Văn Minh, đã bị thất sủng thời chính phủ Ngô Ðình Diệm. Theo báo Tuổi Trẻ thì Dương Văn Nhựt có tiếp xúc với Dương Văn Minh và ở trong nhà ông Minh một tuần lễ, có đi ra nước ngoài để tiếp xúc với anh mình. Theo lời tâm tình của Ð.T. Minh nói với tôi “Nó có về thăm bà già một lần mà nó có dám gặp tôi đâu! Thời kỳ thương thuyết hiệp định Paris nó có qua Paris gặp thằng Ðức một lần, chỉ có vậy thôi”.

Hãng thông tấn AFP loan tin ngày 4 tháng Mười Hai năm 1996 rằng: phát ngôn viên bộ ngoại giao thông báo: “Le gouvernement a accepté la requête de Duong Van Minh de rentrer au Viet Nam” (tam dịch: chính phủ đã chấp nhận lời thỉnh cầu của Dương Văn Minh xin trở về Việt Nam).

Trước những sự kiện nêu trên tôi hiểu rằng Dương Văn Ðức muốn lợi dụng thế chính trị của cha mình, đi đêm với Việt cộng nhằm mục đích trục lợi cho cá nhân. Nói nôm na như chị của anh ta lưu ý ông Minh là thằng Ðức nó bán ba nó ăn!

Về tới Paris tôi nói chuyện nhiều lần với ông Minh bằng điện thoại và gởi cho ông một văn thơ nguyên văn như sau:

Paris ngày 10 Tháng Năm năm 1997

Kính thưa Ðại Tướng,

Hôm tôi còn ở bên Mỹ, bận sắp xếp một số công việc về truyền thông báo chí và những hoạt động thông thường, tôi nhận được fax từ Paris gởi bài phỏng vấn của Ðại Tướng đăng trên báo Nhân Bản. Tôi có một vài nhận xét về vấn đề nầy xin viết ra đây. Ðồng thời tôi cũng mới viết một bài phân tích về việc hồi hương của Ðại Tướng sẽ đăng trên các báo Người Việt, Ðông Phương (ở Orange County), Thời Luận (Los Angeles), Quê Hương, Thị Trường Tự Do, Việt Nam Nhật Báo (San Jose) Ði Tới, Kinh tế Thị Trường (Canada) Thông Luận (Paris). Tôi gởi tất cả những bài báo nói về vấn đề nầy cho Ð.T. xem trước để thứ năm mình gặp nói chuyện đỡ mất thì giờ hơn. Hẹn sẻ gặp Ð.T. thứ năm 15-5-97 khoản 10 giờ như đã hẹn.

Sau đây là một vài nhận xét của tôi:

Lời Tuyên bố chỉ phổ biến trên Nguyệt San Nhân Bản không mà thôi, tỏ vẻ mình hoạt động theo kiểu “cò con”, không huy động được giới truyền thông báo chí trước một vần đề trọng đại như vậy. Ðáng lẽ phải là một cuộc hợp báo long trọng, minh định lập trường chính trị một cách rõ ràng. Tiếc rằng trong bài phỏng vấn không nêu rõ những điều đó.

Cộng Sản Hà Nội có thể coi thường và tưởng mình cô đơn không nắm chính nghĩa.

Quá khứ cũng như hiện tại, dư luận quần chúng trong và ngoài nước đã và đang lên án gắt gao sự hòa giải với Việt cộng vì lý do bản chất của cộng sản là lừa đảo. Ngoài mặt Cộng Sản hòa giải, bên trong ộng Sản muốn mình đầu hàng, qui phục và tìm mọi cách để gài mình vào cái thế đó. Ðối với đa số người Việt hiện nay, Hòa Giải là tiếp tay, là đầu hàng cộng sản. Vì vậy Ð.T. cần phải minh định rõ ràng lập trường về hòa giải bằng một bản văn. Chỉ có trong điều kiện đó Ð.T. mới hy vọng có sự ủng hộ của đồng bào trong và ngoài nước để thực hiên tự do và dân chủ. Tất cả vấn đề nầy chúng ta chủ trương ngay từ lúc ban đầu. Tiếc rằng không được áp dụng đúng như đã định. Trên nguyên tắc như chúng ta đã định, Ð.T. lên máy bay rồi thì bên nây mới tung ra lời tuyên bố đó hoặc hợp báo trước khi lên máy bay. Việt cộng sẽ không còn ngăn chận, sửa đổi gì được nữa.

Dù sao thì cũng chưa phải muộn lắm. Nếu Ð.T. còn giữ những ý định lúc ban đầu, như Ð.T. đã xác nhận khi gặp tôi, trước khi tôi đi Mỹ, là Ð.T. không hề thay đổi lập trường, nếu là như vậy, mình còn có cách sắp xếp lại gián bài nầy theo kiểu cách khác.

Trước khi đi Mỹ tôi có hứa sẽ thảo giùm cho Ð.T. lời tuyên bố về chủ trương hòa giải hòa hợp dân tộc. Nay chắc không còn cần nữa. Nhưng dù sao tôi cũng tóm tắt lại đây những ý chính mà chúng mình đã thảo luận nhiều lần và đã đồng ý với nhau. Nó có thể giúp cho Ð.T. trong những lần khác nếu thật sự Ð.T. chưa thay đổi lập trường.

Một vài ý kiến về hòa giải:

Tại sao phải hòa giải? Tại vì không những chỉ có đối lập về ý thức hệ mà thôi, còn bao nhiêu hận thù chồng chất, vì nhà tan cửa nát, gia đình phân ly.

Trong tình cảnh đó Hà Nội không thể nào kêu gọi suông: hòa hợp để xây dựng được. Phải nhìn nhận có những sai lầm và tỏ một vài thiện chí sửa sai có ý nghĩa.

Cộng sản Hà Nội chỉ có một mục tiêu: Xây dựng đảng cộng sản và nắm độc quyền cai trị đất nước Việt Nam. Họ xem quyền lợi của đảng Cộng Sản là trên hết. Quyền lợi quốc gia dân tộc là vô nghĩa hoặc thứ yếu.

Hòa Giải Hòa Hợp không có nghĩa là qui hàng, chấp thuận phục vụ chính quyền Cộng Sản theo sự lãnh đạo độc tài của đảng. Hòa hợp nghĩa là hợp tác trong sư hài hòa, hợp tác để xây dựng lại tổ quốc chớ không phải xây dựng đảng Cộng Sản phục vụ cho Liên Sô, Trung Quốc và quốc tế cộng sản.

Trân trọng kính chào Ð.T.

Sau khi gặp Ð.T.Dương Văn Minh, thảo luận khá nhiều về những sai sót lầm lẫn của DV Ðức gây ra. Ông Minh có yêu cầu tôi gặp riêng DV Ðức để đặt vấn đề cho hợp lý chiếu theo những sự bàn thảo và quyết định của ông Ð.T. và số anh em đã từng hợp bàn với ông. Tôi gởi cho anh Ðức một văn thư như sau:

Paris ngày 15 tháng 5 năm 1997

Anh Ðức thân,

Sau chuyến đi Hoa Kỳ trở về, sáng ngày hôm nay tôi có tới thăm ông Ð.T. và ăn cơm trưa chơi với ông. Tôi có thuật cho ông nghe phản ứng của giới truyền thông bên đó, Ðài phát thanh phanh phui những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa với những nhân chứng đã từng gặp ông Ð.T. trong giai đoạn chót. Tương đối bất lợi. Ð.T. và tôi Trao đổi nhiều ý kiến liên quan đến vấn đề chính trị và việc hồi hương của ông.

Ð.T. xác nhận với tôi một lần nữa là ông không hề thay đổi lập trường, ông cùng với tôi ôn lại những ý kiến, những dự định mình đã từng toan tính và thảo luận với nhau từ mấy năm qua cho tới ngày nay vì đại cuộc và vì cảm tình với Ð.T. tôi có hứa viết giùm cho ông bản thông cáo minh định lập trường chính trị để ông nghiên cứu và phổ biến khi cần.

Trong thâm tình, xem nhau như người cùng một gia đình, Ð.T. có yêu cầu tôi gặp anh để bàn thảo về một số vấn đề có liên hệ trực tiếp về việc hồi hương của ông trong tương lai.

Tôi có điện thoại cho anh hồi chiều nầy khi về tới nhà lúc 3 giờ 45 mà không gặp, vậy hân hạnh mời anh đến nhà tôi chơi, chúng mình cùng ăn bữa cơm đạm bạc như thường lệ để thảo luận về những vấn đề quan trọng mà Ð.T. yêu cầu mình nghiên cứu. Xin anh vui lòng thông báo cho tôi biết ngày giờ nào thuận tiện cho anh.

Thân mến chào và chúc anh nhiều may mắn.

Bản sao kính gởi:

Ðại Tướng Dương Văn Minh để tường.

(Còn tiếp)

Hồi ký Võ Long Triều (kỳ 19)
 

Dương Văn Ðức không hề hồi âm và tôi quyết đoán là anh ta đã ăn phải bả của Việt Cộng rồi, sẵn sàng bán cha cầu vinh. Tôi quyết định chấm dứt mọi hoạt động và liên hệ trong vụ này. Vì vậy tôi viết bức thư cuối cùng cho Dương Văn Minh với sự tiếc rẻ và lòng buồn bã thương tâm đối với một nhân vật có tiếng tâm, có tư thế, còn muốn cống hiến một cái gì đó cho đất nước.

Paris ngày 23 Tháng Mười Hai năm 1997

Kính thưa Ðại Tướng,

Cách đây 3 năm khi Ðại Tướng nhờ Ð.Tá Nguyễn Hồng Ðài đến gặp tôi để dàn xếp cuộc tiếp xúc giữa Ðại Tướng và tôi ngõ hầu chúng ta có thể trao đổi ý kiến về tình hình chính trị ở Việt Nam tôi sẵn lòng đáp ứng. Ðại Tướng và tôi đã bàn thảo, xác định lập trường là hòa giải hòa họp dân tộc có điều kiện, hợp tình hợp lý đối với cả đôi bên, hợp với quyền lợi của dân tộc để xây dựng đất nước trong sự hài hòa. Chúng ta không chấp nhận hòa giải trong gian dối, lừa đảo như cộng sản đã tuyên truyền và hành động.

Mục đích của chúng ta là tiến tới một chế độ dân chủ trong đó nhân quyền phải được tôn trọng.

Phương thức hành động là qua sự hiện diện của Ðại Tướng ở trong nước, qua những lời phát biểu, và nhận định, sự góp ý một cách xây dựng của Ðại Tướng về tình hình kinh tế chính trị và xã hội của Việt Nam. Chiếu hoàn cảnh và giai đoạn hiện tại, vị thế chính trị của một nhân vật như Ðại Tướng có đủ sức nặng để ảnh hưởng đến tình hình đất nước nếu Ðại Tướng biết vận dụng mọi khả năng và cơ hội.

Nói tóm lại bằng mọi cách, ôn hòa và bất bạo động, nhưng Ðại Tướng phải kiên trì và can đảm đương đầu với chính quyền cộng sản để tạo ảnh hưởng mình muốn có, mở đường cho Việt Nam đi đến tự do dân chủ và tôn trọng nhân quyền.

Ngoài ra, Ðại Tướng có tỏ ý muốn nhờ một số anh em góp phần bàn thảo về những vấn đề nói trên. Trong tinh thần đó, một số anh em đã tiếp xúc nhiều lần với Ðại Tướng tại nhà tôi và đã nhiệt tình đóng góp ý kiến, đặt giả thuyết, đề ra kế hoạch hành động và sẵn sàng giúp Ðại Tướng thành công trong ý nguyện tốt đẹp này.

Gần đây sau hai lần anh Dương Văn Ðức- người con sẽ cùng về với Ðại Tướng và có nhiệm vụ giúp Ðại Tướng thực hiện ý định nêu trên- đã về Việt Nam xem xét tình hình với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho Ðại Tướng về nước. Sau khi trở lại Paris lần thứ hai, qua nhũng sự trình bày của anh Ðức, với những dự định và mưu tính riêng tư của anh ấy, chúng tôi nhận thấy mục tiêu chính trị đã được bàn thảo xưa nay, với sự đồng ý hoàn toàn của Ðại Tướng đã biến mất. Nhường chỗ cho ý định kinh tài và hợp tác nhờ sự trở về của Ðại Tướng và sự hứa hẹn giúp đỡ của chính quyền cộng sản. Thực tế chắc sẽ không dễ dàng như vậy, nhưng chúng tôi không muốn lạm bàn về việc nầy vì nó hoàn toàn trái ngược với những điều Ðại Tướng và chúng tôi chủ trương.

Ngoài ra những lời nói, cử chỉ và hành động của anh Ðức có thể cho phép chính quyền cộng sản hiểu khác nên mới có những bài báo, lời tuyên bố của bộ ngoại giao Việt Nam, gây hiểu lầm phương hại đến thanh danh của Ðại Tướng, đến mục đích và chương trình đã định.

Những sự kiện đó cho thấy sự trở về nước của Ðại Tướng rất bất lợi cho danh dự của cá nhân Ðại Tướng và một phần nào đó, trong một chừng mực nào đó, bất lợi cho danh dự chung của những thành phần thuộc chế độ VNCH cũ đang đối kháng với cộng sản. Ðồng thời cũng ảnh hưởng xấu cho công cuộc vận động xóa bỏ chế độ độc tài độc đảng mà toàn dân đang nỗ lực.

Trong tinh thần và với ý nghĩ đó tôi thành khẩn khuyên Ðại Tướng nên hủy bỏ ý định trở về Việt Nam trong điều kiện hiện tại, hay ít ra đình hoãn sự trở về cho đến khi nào mình tạo được tình thế thuận lợi theo chiều hướng mà Ðại Tướng đã cùng bàn thảo trước đây với anh em.

Nếu Ðại Tướng vẫn giữ nguyên ý định trở về ngay, trong những điều kiện hiện tại, chúng tôi xét thấy sự đóng góp của chúng tôi không còn cần thiết nữa. Vậy trân trọng xin Ðại Tướng ghi nhận sự khác biệt lập trường giữa chúng ta qua văn thư này.

Tự hậu nếu trong hoàn cảnh chính trị nào đó buộc chúng tôi phải xác định hay công khai hóa một lập trường đối lập, hay những ý kiến trái ngược với những gì Ðại Tướng chủ trương và hành động thì xin Ðại Tướng thông cảm trước rằng chúng tôi làm điều đó là nhân danh quyền lợi tối thượng của đất nước. Bởi lẽ giữa Ðại Tướng và chúng tôi chỉ có thể đồng thuận trên căn bản tranh đấu cho tự do dân chủ và nhân quyền chớ không thể đồng thuận trong sự tiếp tay củng cố một chế độ độc tài cộng sản hay quân phiệt.

Trân trọng kính chào Ðại Tướng.

Bản sao kính gởi:

B.S. Trần Công Phát

T.S. Lê Ðình Thông

Anh Chị K.S. Lê Như Quốc Khánh

K.S. Lê Văn Song

D.S. Nguyễn Anh Tuấn

Ðại Tá Nguyễn Hồng Ðài

để kính tường.

Văn thư này là sự liên lạc cuối cùng giữa Ðại Tướng Dương Văn Minh và tôi! Tiếc cho một đời người gặp được nhiều cơ hội để thực hiện lý tưởng của mình mà không được toại nguyện. Về sau có lẽ vì lý do gia cảnh nên Ðại Tướng Minh sang Mỹ ở với người con gái và qua đời tại California. Dự tang lễ của ông tôi vô cùng bồi hồi cảm xúc, nhớ lại nhiều kỷ niệm giữa ông và tôi. Ngày xưa khi ông ra ứng cử tổng thống ông mời tôi đứng phó, ông nói rằng: “Tôi không đứng với anh thì tôi không đứng với ai hết.”

Tôi từ chối và giới thiệu anh Hồ Văn Minh cho ông, cũng là cộng sự viên của tôi, làm việc trong chương trình phát triển quận 8 Sài Gòn, đương kiêm phó chủ tịch quốc hội thời đó. Còn bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, tâm sự về đời tư, về thời cuộc, lúc tôi còn ở Pháp. Ngâm ngùi nhớ lại bài thơ đăng trong sách “Tam Quốc Chí” tôi không cầm được nước mắt!

(nguyên văn):

…………………………………………………………….

Lãng hoa đào tận anh hùng

Thị phi, thành bại: chuyển đầu không!

Thanh sơn y cựu tại.

…………………………………………………………….

(bản dịch):

Sóng xô các dập anh hùng.

Tàn mơ: thành bại… cũng là không!

Non xanh trơ vẫn đó

Lần lữa bóng chiều hong…

(Còn tiếp)

Hồi ức về chương trình Phát Triển Quận 8

Trở lại sự liên hệ giữa Tướng Nguyễn Cao Kỳ và tôi, như đã nói trên, ông hay gọi tôi lên phủ Thủ Tướng để kể cho tôi nghe thành tích hay tham khảo ý kiến, và cũng nhiều lần ông than cô đơn bất lực trước sự trì trệ của guồng máy hành chánh hay tinh thần vô trách nhiệm của quan chức nhà nước. Thật ra có thể đó là sự ù lì và ngấm ngầm thách thức bởi vì những người công chức già dặn không tin rằng mấy ông Tướng trẻ có khả năng cai trị lâu dài.

Có lần Thủ Tướng gọi mà tôi không có mặt ở sở, ông gọi về bộ cũng không gặp tôi, ông Kỳ nổi giận mắng nhân viên bộ: một ông chánh sở đi đâu mà bộ cũng không biết, vậy bộ quản trị nhân viên như thế nào? Cả bộ nhao nhao sợ hãi, chạy đôn chạy đáo kiếm tôi cho bằng được, bởi vì thông thường một lời khiển trách của ông Thủ Tướng thật là ghê gớm đối với một cơ quan của chính phủ. Nhứt là đối với một công chức cấp nhỏ ở bộ như tôi, cho nên ai cũng lo sợ giùm. Riêng tôi thì biết đó chẳng qua là ông thủ tướng cảm thấy cô đơn hay bực tức điều gì muốn tìm người chia sẻ, nên tôi tỉnh bơ coi thường, làm mọi người tưởng tôi phách lối. Hôm đó, tôi lên phủ Thủ Tướng không nhớ chúng tôi đã nói về những vấn đề và sự đối đáp qua lại như thế nào. Duy tôi chỉ nhớ có một điều là ông Kỳ đã mỉa mai, thách thức tôi:

-Anh giỏi tài nói phét, xúi bẩy, nhưng chết nhát không dám dấn thân làm bất cứ việc gì, miệng thì nói đất nước, lòng thì cầu an. Hạng người như anh tôi đã thấy rất nhiều.

Sự kiện tôi gặp được ông Kỳ và ông vẫn tiếp tục mời gọi tôi nhiều lần tôi cho đó là một cơ duyên, mặc dù tôi đã từng tỏ thái độ chống đối ông và đôi khi còn dùng lời lẽ khiếm nhã mà ông không cố chấp, trái lại còn tỏ ý tin cậy, mời gọi hợp tác, thật lòng ông làm cho tôi kính nể ông.

– Thiếu Tướng nói khích tôi đấy à? Vô ích thôi.

– Vậy tôi nói sai chỗ nào nào?

– Thì cứ xem như ông nói đúng đi. Nhưng tôi muốn hỏi: ông tin tôi mà ông dám tin những người tôi tin không?

– Tại sao không?

– Ông tin những người thanh niên trẻ tuổi, nhưng đầy nhiệt huyết và lòng hy sinh không?

– Tôi càng tin họ hơn tin anh nữa. Rồi ông lại cười.

Hỏi như vậy là vì tôi thoáng có một ý nghĩ: tôi sẽ giới thiệu người cho ông ta, hoặc đích thân tôi lấy một tỉnh làm thí nghiệm những gì tôi đã suy nghĩ từ lâu. Tôi tiếp tục hỏi:

– Ông dám giao cho tôi một Bộ nhưng ông có dám giao cho tôi một tỉnh không?

– Dám chứ sao không? Mà anh có dám nhận không nào? Ðó là vấn đề.

Rồi ông bật cười ha hả… đắc chí. Tôi cũng cười theo. Nhưng mỗi người cười theo chiều suy nghĩ của mình. Có lẽ ông Kỳ đắc ý vì tưởng “đánh trúng tim đen” làm tôi xấu hổ. Còn tôi thì nghĩ rằng ông này muốn có sự hợp tác của mình nên cứ mời tới mời lui hoài. Rồi tôi có một thoáng hồ nghi, biết đâu ông chưa gặp được người hợp tác chân thành. Tôi nín cười trước, đăm chiêu suy nghĩ, trong khi ông ta chấp tay trước ngực dựa lưng vào ghế, bật tới bật lui, lộ vẽ đắc ý nhìn tôi tiếp tục cười! Không biết do những lời ông nói khích làm tôi lọt vào tròng mà không biết hay là tại đầu óc tôi lúc nào cũng nghĩ làm thế nào để trở thành người hữu ích. Thật vậy, khi quyết định hồi hương trong lứa tuổi sẽ bị động viên, dù cả gia đình ngăn cản, tôi vẫn về vì tôi không muốn trốn trách nhiệm trong thời chiến, tôi có thể ở lại Pháp an cư lạc nghiệp nơi xứ người. Ý định tham gia hợp tác với Tướng Kỳ hình như đã rõ nhưng chưa biết với tư cách gì, trong phạm vi nào? Tôi từ giã ông:

– Tuần sau, giờ này, tôi có thể xin gặp lại Thiếu Tướng để bàn chuyện nghiêm chỉnh hơn được không?

– Ðồng ý, nhớ đúng hẹn nhé.

Lại thêm một lời nói khích:

– Ðừng cáo lỗi nữa chừng rồi trốn luôn nhé !

Ý nghĩ làm một việc gì có ích cho đất nước dân tộc đã có trong đầu, lúc tôi còn chà lết trên ghế nhà trường. Những năm theo đại học, tôi thường suy tư và bàn thảo với bạn bè về những phương cách nào có thể đem lại sự hữu ích cho xã hội miền Nam Việt Nam. Ðứng trước hiện tình đất nước, chung qui chỉ có hai vấn đề kinh tế và chính trị, công bằng xã hội là một phụ đề lệ thuộc hai vế trên. Tôi sinh ra và lớn lên trong thời loạn nên ảnh hưởng của chiến tranh đã in sâu trong đầu. Mười tuổi, tôi đã nghe những lời đe dọa. Ông Bộ Ngởi, thợ hớt tóc nói với tôi: “Nay mai cộng sản về lấy hết điền đất của ông nội mày đem chia đều cho tá điền và dân trong làng, mày cũng có phần như mọi người, đừng lo”. Câu nói đùa nhưng cũng có dụng ý của ông Bộ Ngởi làm tôi lo sợ. Càng lo sợ hơn nữa là trong thời gian đó tin đồn “cộng sản dậy” hết chỗ này đến chỗ khác.

Có một đêm nghe tin “cộng sản dậy” bên làng Châu Hưng lân cận, cả nhà tôi phải chạy trốn bên rừng chồi nhỏ gọi là “mỏ neo” đến gần sáng mới về. Ít lâu sau lại nhìn thấy hình ảnh những “thây ma, thằng chổng” trôi trên sông Cửu Long do cộng sản giết (gọi là “cho đi mò tôm”) mỗi khi tôi đi ghe máy từ Phú Thuận lên Mỹ Tho học. Những ký ức đó in sâu trong đầu khó quên. Rồi sau này lại có thêm vụ “cải cách ruộng đất” của cộng sản Bắc Việt, khiến tôi càng muốn tìm hiểu về cái thuyết cộng sản vô thần. Càng lớn khôn tôi càng nhận ra chủ thuyết đó đi ngược với nhân tính.

Khi còn học ở trường, Giáo Sư kinh tế học, Chambard de Lawe, phân tích quyển sách Tư Bản Luận của Karl Marx, ông có dẫn giải một thử nghiệm của Trung Cộng tại một xã, theo đúng tiêu chuẩn và lý thuyết trong giai đoạn “cộng sản chủ nghĩa” toàn hảo, nghĩa là ở giai đoạn đó, của cải vật chất có dư thừa, do lao động con người sản xuất ra mà không bị bóc lột. Trong cái xã hội chủ nghĩa toàn hảo đó con người chỉ cần làm việc theo khả năng mà được hưởng theo nhu cầu. Nhưng kết quả đảng cộng sản Trung Quốc phải nhìn nhận cuộc thử nghiệm không thể thành công. Như vậy cái lý thuyết mà cộng sản tuyên xưng là “hoàn chỉnh” để rao bán cho dân nghèo, cho những xứ chậm tiến bị đô hộ, đi ngược với bản chất con người, khiến tôi suy nghiệm mình có thể tìm một phương cách nào khác không? Ðể tạo sự công bằng, đồng thời giữ được sự hài hòa trong xã hội, khác với cộng sản, thuận theo bản chất và tình cảm con người.

Rời phủ Thủ Tướng về nhà, mấy ngày liền, ý nghĩ tham gia hay không tham gia nội các, dằn vật bộ óc non nớt, thiếu kinh nghiệm nhưng giàu tưởng tượng và ý cương quyết của tôi. Tôi xác định trong đầu và cũng nhiều lần thố lộ với bạn bè khác:

Cộng sản chủ trương thực hiện một cuộc “cách mạng xã hội” bằng hận thù và sắt máu. Hận người giàu, thù điền chủ, đấu tố, giết hại. Một sai lầm đầy tội ác. Thế giới lên án. Ðồng bào nguyền rủa!

Vậy thì chúng ta đề nghị cái gì với đồng bào dân tộc mình? Xã hội chúng ta đang sống phải được tổ chức như thế nào? Chúng ta có thể vận động và kết hợp được những người có khả năng và thiện chí để thực hiện một cuộc “cách mạng”khác hơn cộng sản không?

Bằng tình thương đối kháng với hận thù, bằng cảm thông và đồng thuận không cần sắt máu. Giàu nghèo đồng tâm hợp tác để phát triển, không cần phải đấu tranh giai cấp. Tôi đã từng phân tích và thảo luận với bạn bè người Pháp khi tôi còn trong đại học, người Việt Nam khi tôi về xứ, với đàn anh đàn thầy như linh mục Nguyện Bình An. Nhưng tôi chưa gặp cơ hội, tôi chưa có điều kiện. Phải chăng sự mời gọi và lời thách thức của ông Kỳ là một cơ may mà vận số đẩy tôi vào con đường phục vụ đất nước theo lý tưởng và ước mơ của mình?

Tôi khai thác cái cơ may đó bằng cách mời rủ một số bạn trẻ đến nhà, bàn kế hoạch phát triển xã hội. Nhóm người này có một mẫu số chung là “tuổi trẻ” và động cơ thúc đẩy là muốn phục vụ đất nước. Ngoài ra số đông gần như xa lạ đối với tôi và giữa họ với nhau. Chúng tôi định lấy tỉnh Mỹ Tho, gần Sài Gòn, nếu thành công thì như một “vết dầu loang” sẽ tràn qua các tỉnh khác. Tôi quen với Chuẩn Tướng Nguyễn Bảo Trị, đương kim Tư Lệnh Sư Ðoàn 7. Tôi xin gặp ông vào một buổi trưa, dùng cơm với nhau tại nhà ông ở Mỹ Tho, tôi nói rõ ý định của tôi, ông ủng hộ hết tình. Trên đường về Sài Gòn tôi sực nghĩ, nếu ngày nào chương trình thành công, chắc chắn Việt cộng sẽ tìm mọi cách để phá hoại, và nếu lúc đó Chuẩn Tướng Nguyễn Bảo Trị không còn chỉ huy sư đoàn 7 nữa thì ai bảo vệ an ninh cho chương trình của mình. Hoặc nếu vị tân Tư Lệnh Sư Ðoàn không thuận ý với bọn mình thì ta sẽ gặp sự thất bại là cái chắc. Tôi liền đổi ý, phải lấy một quận nghèo nhất đô thành, an ninh sẽ được bảo đảm. Anh Âu Trường Thanh giới thiệu với tôi người bà con của anh ấy, đã từng là quận trưởng quận 8 tên là Nguyễn Thanh Thời, đã hưu trí, biết nhiều về tình trạng của quận nghèo khó này ở khu Phạm Thế Hiển gần ranh giới Phú lâm, nơi mà đồng bào nghèo khó từ miền Tây bị bắt buộc phải lên Sài Gòn tìm việc hay lánh nạn, tạm ở đó dung thân.

Anh Thời đưa tôi đi xem nhiều nơi lầy lội, nghèo khổ. Có chỗ phải cất sàn cây thô sơ trên những vũng lầy thối tha hôi hám. Trẻ sơ sinh, đa số chết vì bệnh tật, cha mẹ nào may mắn có bà con nơi khác thì đem gởi nuôi. Tôi tập hợp mấy anh sinh viên học trò của tôi và bạn bè của họ đang hoạt động trong “chương trình công tác hè”, khởi điểm một sự dấn thân hoạt động của tuổi trẻ, có người thuộc các hội đoàn khác. Họ tập hợp tại nhà tôi bàn việc làm công tác xã hội thông qua một chương trình phát triển lấy quận 8 làm thí điểm. Dĩ nhiên, tôi phải khai thật với họ là tôi có liên hệ mật thiết với Tướng Kỳ và bảo đảm việc này là nghiêm chỉnh. Ðể chứng minh tôi đề nghị những anh em nào muốn gặp Tướng Kỳ sẽ cùng đi với tôi vào ngày giờ tôi sẽ hẹn trước. Có bảy tám anh hay nhiều hơn nữa tôi không nhớ cùng đi với tôi đến dinh Thủ Tướng, ông Kỳ tiếp chuyện vui vẻ thoải mái, mặc dù có vài anh nói năng gay gắt hoặc nói “móc họng” đặc biệt là anh Nguyễn Hữu Doãn sinh viên luật khoa. Hình như ông Kỳ tự đồng hóa mình với thanh niên trẻ tuổi, cùng thế hệ với ông trong lứa tuổi trên dưới 30 một cách dễ dàng, không lộ vẻ mình có chức quyền cao sang.

Những ngày đầu tiên thảo luận về một chương trình lấy tên là “Phát Triển Quận 8” có tất cả ba mươi hai anh bạn họp tại nhà tôi, trong một căn phòng không có đủ ghế, đa số ngồi trên sàn nhà, thảo luận tương đối hăng say, nhiệt tình, đề ra những kế hoạch cấp bách là chỉnh trang các khu nhà ổ chuột, đổ đất lấp sình lầy cải thiện những đường hẻm, giáo dục thiếu nhi, lập trạm y tế chẩn mạch phát thuốc. Sau những cuộc bàn thảo, khảo sát tại chỗ, điều chỉnh những quyết định hợp với thực tế, ước tính phí tổn, viết thành kế hoạch nghiêm chỉnh. Ðúng lý chúng tôi phải nghiên cứu một cách có hệ thống, dựa trên căn bản những số thống kê về diện tích, dân số, doanh thương, tiểu công nghệ, lợi tức đầu người của quận 8 so với tổng lợi tức đô thành Sài Gòn và so với lợi tức trung bình đầu người trên toàn quốc… Nhưng đã nói cách mạng thì cần gì phải theo một khuôn khổ. Vấn đề chính yếu là tạo được sự ủng hộ của quần chúng, lôi cuốn được sự tham gia của họ trong mọi công tác đem lợi ích cho xã hội. Tôi lạm dụng quyền chánh sở, nhờ nhân viên của tôi đánh máy bản văn, họa viên của sở tôi vẽ đồ biểu, dùng máy ronéo và giấy mực của sở in thành bản văn đệ trình Thủ Tướng phê duyệt. Sau đó tôi xin yết kiến Thủ Tướng, đưa bản văn, bìa in giấy màu tím có chữ to “Chương Trình Phát Triển Quận 8 Sài Gòn”, đồng thời tôi cũng trình sự ước tính ngân khoản là 22 triệu đồng. Ông Kỳ chìa tay lấy bản văn, lật trang đầu, không xem một chữ, phê ngay mấy dòng và ký tên quăng vào rổ kẽm có đề “công văn đi”. Quay sang tôi ông nói:

– Xong rồi, chúc anh thành công, nhưng anh phải gặp ông Ðô Trưởng để sắp xếp việc bàn giao và bổ nhiệm người.

Công việc gay go kế tiếp là thảo luận việc chỉ định ai làm Quận Trưởng? Tôi thầm nghĩ muốn đạt tới sự thành công thì những người phụ trách chương trình phải: Thứ nhứt tạo được niềm tin trong quần chúng bằng một vài hành động cụ thể, đem lại kết quả vật chất hay tinh thần cho người dân thấy được. Thứ hai dùng tình cảm để thuyết phục quần chúng tham gia công tác chỉnh trang hay phát triển. Thứ ba chứng minh cho dân chúng thấy sự hy sinh của mình bằng cách trực tiếp tham gia làm công việc của họ, với họ và cho họ trong mục đích giúp họ và gia đình tạo một đời sống tốt đẹp hơn. Ða số những người bạn ngồi thảo ra chương trình này tại nhà, tôi không hề quen biết với ai trước, ngoại trừ 7 anh em sinh viên hay kỹ sư Nông Lâm Súc mới ra trường, học trò của tôi, muốn theo ủng hộ thầy. Vài anh trong số đó lộ vẻ hân hoan tin rằng thầy sẽ chỉ định mình làm Quận Trưởng.

Anh em đề cử anh Mai Như Mạnh, tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh, người đương nhiên có đủ khả năng và điều kiện để giữ chức vụ then chốt này. Tôi nhìn nhận là đề nghị hợp lý, nhưng tôi không tán đồng, vì đây không phải là một công tác thuần túy hành chánh. Qua nhiều ngày gặp gỡ và thảo luận tôi nhận ra một anh mà tôi chưa hề biết về lý lịch của anh ta, nhưng lời lẽ, thái độ, ý kiến của anh phảng phất một chút gì mà tôi đoán anh có am hiểu ít nhiều về ba điểm tôi thầm nghĩ trên đây. Người đó là Hồ Ngọc Nhuận. Tôi đề nghị anh Nhuận làm quận trưởng. Gần như toàn thể anh em hiện diện phản đối, kể cả anh Nhuận. Tôi giải thích những nhận xét của tôi, nhưng không thuyết phục được ai cả. Một số anh không quyết liệt phản đối nữa vì họ không muốn mích lòng tôi vô ích. Còn tôi thì bào chữa rằng đây không phải là một công tác quản trị hành chánh mà là một sự thuyết phục quần chúng và tạo diều kiện để hợp tác với dân nhằm mục đích rõ rệt là chỉnh trang và phát triển quận nghèo khó nhứt Sài Gòn lúc bấy giờ. Vài anh nêu ý kiến rất thiết thực là chính quyền đô thành sẽ cười chê chúng ta không có người xứng đáng, đủ tư cách, mà đòi quản trị một quận phức tạp nhứt Sài Gòn. Các anh ấy đề cử Bác Sĩ Hồ Văn Minh, người có khoa bảng, có tư cách làm cho đồng nghiệp ở đô thành phải nể nang, nếu cũng không đồng ý, thì cử một anh Kỹ Sư Nông Lâm Súc nào đó. Còn anh Hồ Ngọc Nhuận không có đến bằng tú tài đôi! Thú thật đề nghị của tôi là nghịch lý rõ ràng, là một sự quyết đoán, nhưng đôi khi trong một vài trường hợp nào đó, sự quyết đoán rất cần thiết.

Cảm giác của tôi càng rõ hơn là người khác không thể chu toàn được công tác này. Vậy thì thà dẹp nó đi còn hơn là mang tiếng thất bại. Cuối cùng tôi vẫn nhìn nhận đề nghị của tôi là phi lý, nhưng tôi khẳng định nếu anh em không chấp nhận đề nghị của tôi thì tôi đành hủy bỏ chương trình này vì người chịu trách nhiệm trực tiếp với Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương là tôi. Cuối cùng anh em đành phải thuận theo vì họ muốn duy trì một cuộc thí nghiệm của tuổi trẻ xem sao. Nhiều anh em sững sờ bất mãn nhưng không nói ra. Những phiên họp sau chỉ còn lại khoản 15-20 anh. Các anh khác bỏ cuộc vì bất đồng trong việc đề cử quận trưởng một cách phi lý. Trong số người bỏ cuộc có 7 vị học trò thân thương của tôi.

Công tác gay go thứ hai là họp bàn với Ðại Tá Ðô Trưởng Văn Văn Của và toàn bộ các ty sở hành chánh và chuyên môn đô thành. Theo tôi nghĩ thì vấn đề thay đổi một ông quận trưởng thuộc quyền bổ nhiệm hay cất chức do Ðô Trưởng quyết định, nhứt là ông này chỉ thi hành theo lệnh của Thủ Tướng mà thôi. Còn những vấn đề khác có tính cách chuyên môn thì do quận trưởng trực tiếp trình Ðô Trưởng hay liên lạc với các ty sở về sau, việc gì phải họp đông đủ, vặn hỏi, buộc phải thuyết trình, giải thích cặn kẽ với dụng ý thấy rõ là họ muốn bác bỏ kế hoạch. Dù ngạc nhiên, khó chịu, anh em vẫn nhẫn nại trình bày chi tiết, phần tôi rất bực bội muốn “xù” hết, rút lại những gì chúng tôi chủ trương làm, hoặc tôi sẽ trực tiếp yêu cầu Thủ Tướng ra lệnh cho Ðại Tá Của phải thi hành nguyên văn không sửa đổi một ly, nếu ông Kỳ thật lòng muốn làm cách mạng như ông đã rêu rao nhiều lần với tôi. Nhưng tôi lại nhủ thầm phải nhẫn nại và tỏ thiện chí tối đa. Cái gai mà Văn Văn Của nắm được là Hồ Ngọc Nhuận không chuyên việc hành chánh, dù có phó đốc sự Mai Như Mạnh phụ tá bên cạnh. Cuối cùng Ðại Tá Của quyết định đặt cựu quận trưởng Cao Minh Chung làm cố vấn cho anh Nhuận. Dĩ nhiên ông Chung lấy hết tâm sức ra mà phá để chương trình phải thất bại, ông sẽ trở lại chức vụ cũ.

Vừa ra khỏi phòng họp, bác sĩ Ðỗ Cao Huệ, Trưởng Ty Mục Súc Ðô Thành vừa là Chánh Sự Vụ Sở Mục Súc của bộ, người bạn đồng nghiệp chí thân của tôi trong Bộ Canh Nông, kéo tôi sang một bên, sỉ vả nặng lời:

-Toa làm moa mắc cỡ quá, toa cũng là đường đường một Chánh Sự Vụ của bộ mà đi nài nỉ xin chức quận trưởng như thằng thất nghiệp, ăn mày chức vụ. Thật hết ý kiến!

-Toa biết cái con khỉ khô gì mà nói, dẹp toa đi.

Ðỗ Cao Huệ vừa còn cảm giác bị mắc cỡ lây vừa chán cái bản mặt đi xin chức vụ của tôi, anh bỏ đi một nước không thèm nói thêm một lời. Anh em về nhà tôi, hợp chuẩn bị việc nhận bàn giao. Kiểm điểm lại còn hiện diện lối hơn chục người. Tất cả đều quyết tâm: chúng ta phải thắng cuộc thách thức này. Mai Như Mạnh lo việc hành chánh, Hồ Văn Minh quản lý chương trình, Hồ Ngọc Nhuận quận trưởng, sau đó anh lôi được một vài đệ tử trẻ lo việc ăn ở cấp bách, Ðoàn thanh Liêm xông xáo, bao sân, chỗ nào cũng có anh, các bạn khác tiếp tay tùy theo sự rỗi rảnh giờ giấc của mình. Những ngày đầu không có một xu kinh phí, Liêm đi vận động xin tiền, xin vật liệu, cũng chẳng đủ nuôi số thanh niên thiện nguyện. Sự chận đứng kinh phí làm ngã lòng những anh em khác, họ lần lượt bỏ rơi chương trình, chỉ còn lại “Tứ Ðại Gan Lì” kể trên. Những bạn trẻ mới tự nguyện gia nhập, rộng lòng hy sinh, hăng say sẵn có, ham vui mà tụ tập ngày càng đông. Cái khó là làm sao kích động được lòng hăng say, sự hy sinh tình nguyện của tuổi trẻ. Làm sao nhóm được ngọn lửa để hâm nóng lòng yêu nước, yêu dân, thương những người kém may mắn trong xã hội đang ở gần mình nhứt. Làm sao nung nấu được ý chí trách nhiệm, làm sao gợi được niềm tự hào và sự rộng lòng bác ái của tuổi trẻ. Chỉ có một cách là hội nhập với họ, đưa sáng kiến và tạo điều kiện cho họ thực hiện lý tưởng, dù mình chủ xướng, nhưng phải làm cho họ hiểu là của chính họ vạch ra. Vì vậy mà tôi đã dài công tụ hợp bạn bè và sinh hoạt với họ đã từ lâu. Cũng như sau này khi ngồi vào chức vị Tổng Trưởng tôi tiếp xúc hằng tuần với những vị lãnh đạo hội đoàn để khuyến dụ họ nhập cuộc trong những công việc, dù đơn giản, nhưng rất có lợi ích.

Việc đầu tiên là giải quyết tình trạng lầy lội của những ngõ hẻm bằng cách đi xin “xà bần” (một thứ gạch vụn gạch nát người ta sửa chữa nhà còn dư không biết đổ đâu, không biết làm gì) chúng tôi mướn “xe ba bánh” chở về lấp những đường hẻm lầy lội. Chúng tôi phụ với chủ sửa vách, lợp nhà. Quận Trưởng Nhuận có khi ngồi trên mái nhà ký công văn khẩn cấp do người đem tới. Quận trưởng không dùng xe ô-tô của mình để cho anh em lấy xe công đó mà chuyên chở hay chạy việc khác quan trọng hơn, còn ông ta khi thì mượn xe vespa, khi thì nhờ người “đèo” đi chỗ này chỗ khác. Thật là buồn cười nhưng cũng, thật đáng khen, ông quận đi lợp nhà dân, nhanh chóng “Nhóm Quận 8” khởi sự chiếm được cảm tình của đồng bào tại đây vì họ thấy bọn trẻ này xông xáo, hy sinh thật, sẵn lòng giúp bất cứ việc gì. Bác Sĩ Minh khám bệnh miễn phí còn đi xin thuốc đầu này đầu kia phát không cho đồng bào. Trong khi đó anh Mai Như Mạnh lo hành chánh, cứ gởi tờ trình đều đều, liên tục, xin giải ngân, nhưng chương trình phát triển không có một xu của chính phủ bỏ vào. Tôi phải rút tiền nhà cung cấp cho anh em, mua cây cất trường, mua lá lợp nhà, mua thức ăn nuôi các bạn trẻ, may mắn cho tôi là thời đó tôi có trường anh văn London School, mỗi chiều ngồi chờ ông quản lý thu tiền lấy về đưa cho quận trưởng Nhuận mua gạo nuôi những em tình nguyện làm công tác không công. Có ngày không tiền mua cá hay tép để kho ăn, mấy em leo lên trần nhà của ông quận trưởng bắt dơi đem xuống, nấu cháo ăn, hay kho khô cho có món mặn. Khó khăn thật, nhưng vui thú thật, an ủi thật, hãnh diện thật.

Cứ như thế kéo dài đôi ba tháng trời, cho đến khi chúng tôi hoàn thành một ngôi trường lá ba lớp, có sinh viên tình nguyện thay nhau dạy trẻ em, có một trạm y tế nhỏ do bác sĩ Minh khám bệnh phát thuốc ít nhiều. Chúng tôi mời Ðại Tá Ðô Trưởng khánh thành, Nghị viên La Thành Nghệ đến đọc diễn Văn, Ðô Trưởng ban huấn thị. Quan khách ngồi chễm chệ trên vài hàng ghế. Tôi đứng giữa đám đông dân chúng lòng mừng rỡ thấy tuổi trẻ hăng say, dân chúng hưởng ứng, nhưng bực tức vì quan chức vô ý thức, ganh tị, nhỏ nhen, buồn phiền vì không có kinh phí để thực thi một chương trình thấy rõ sự thành công. Bực tức, khinh khi lẫn lộn.

Tức giận tràn hông, tôi quyết định thông báo cho Tướng Kỳ là chúng tôi sẽ trao trả chương trình này cho Ðô Trưởng Sài Gòn sau lễ khánh thành chấm dứt. Bởi vì tôi tin chắc đô thành sẽ không giải ngân, họ chờ cho bọn trẻ hết hơi, thất bại thì mọi việc đâu sẽ vào đấy. Tôi cố nhẫn nại chờ cho cuộc lễ kết thúc. Tất cả vui vẻ ra về, bốn vị “Tứ Ðại Gan Lì” còn lại của chương trình là Hồ Văn Minh, Ðoàn Thanh Liêm, Hồ Ngọc Nhuận và Mai Như Mạnh. Hình như họ vẫn hy vọng kết quả này sẽ khiến cho đô thành Sài Gòn giải ngân và chúng tôi sẽ có đủ tài chánh hoạt động tiếp. Tôi vào quận mượn diện thoại xin gặp Thiếu Tướng Kỳ. Dĩ nhiên tôi được tiếp kiến ngay. Sau khi chào hỏi tôi ngồi trước mặt ông Kỳ và cố gắng lấy giọng hết sức bình tĩnh thưa rằng:

– Thiếu Tướng có lòng tốt mời tôi hợp tác, đề nghị hết chức vụ này đến chức vụ khác, tôi từ chối vì biết rõ đa số quân nhân các ông, chỉ biết ra lệnh một cách độc đoán, hoặc thi hành lệnh một cách mù quáng. Ðã vậy khi nắm được quyền hành thì ganh tị không muốn phân chia. Mấy ông lợi dụng quyền để thỏa mãn sự tự hào cá nhân và nhu cầu bản thân. Các ông không dùng quyền để phục vụ quần chúng…

Tôi chưa nói hết ý nghĩ và trút hết sự bực tức của tôi thì Tướng Kỳ vừa ngạc nhiên, vừa tức giận:

– Ê, anh muốn nói gì thì làm ơn nói cho rõ ràng chút. Ðây không phải chỗ để anh thóa mạ quân đội nhé.

– Tôi không thóa mạ, nhưng tôi muốn trình bày một sự thật mà chính ông sẽ gặp phải và ông không thể nào có điều kiện thực hiện cái ảo tưởng làm cách mạng của ông được.

– Tôi thấy hình như anh có gì bất mãn, anh cứ nói thẳng có được không? Ðừng ú a ú ớ tôi bắt đầu mất kiên nhẫn rồi đây này.

– Thiếu Tướng còn nhớ cách đây mấy tháng gặp tôi, ông chê tôi chỉ có tài “nói phét” mà không dám dấn thân làm. Tôi chấp nhận lời mỉa mai và giải tỏa thách thức đó bằng cách đệ trình một chương trình phát triển quận nghèo nhứt của đô thành. Các ông tự gán cho mình cái mỹ danh là “Chính Phủ Của Người Nghèo”. Ấy vậy mà cái chương trình của tôi giúp đỡ người nghèo ở quận 8 có dự trù một ngân khoản tí hon là 22 triệu đồng, ông đã phê chuẩn, nhưng cho đến ngày nay biết bao nhiêu tờ trình của ông quận trưởng xin giải ngân, ông Ðại Tá Ðô Trưởng không cho giải ngân một cắc. Tôi đã chứng minh tôi nói được là tôi làm được, nước lã tôi đã khuấy nên hồ. Tay trắng chúng tôi dựng được một ngôi trường ba lớp, một trạm y tế khám bệnh phát thuốc không tiền. Ðại Tá Ðô Trưởng của ông và quan chức của ông đến khánh thành, ban huấn thị mà không có chút gì hổ thẹn, trái lại còn hãnh diện được tôn vinh nữa là khác.

Nguyễn Cao Kỳ nổi trận lôi đình, con mắt trợn tròng, lộ ra to hơn trước, tay trái vuốt nhẹ hàm râu mép, tay phải cầm điện thoại quay bằng ngón út:

– Của hả? Lên biểu tức khắc.

Mặt ông hơi sầm, ấm ức tức giận, không nói không rằng. Tôi bồi thêm:

– Hôm nay tôi đến đây để báo cho Thiếu Tướng biết, anh em chúng tôi xin giao trả quận 8 lại cho vị Ðại Tá Ðô Trưởng của ông. Và xin ông ghi nhận thiện chí của tuổi trẻ có thừa. Ông Kỳ chẳng thèm trả lời, chẳng đếm xỉa đến tôi. Tôi lại tiếp:

– Bây giờ thì trễ rồi, cho dù chúng tôi có tiếp tục cũng đã có một sự ngỡ ngàng giữa ông Ðại Tá Ðô Trưởng và chúng tôi, cũng có sự ngã lòng thối chí, mất tin tưởng của nhóm trẻ tình nguyện, vậy xin Thiếu Tướng ra lệnh cho Ðô Trưởng thu hồi quân 8, trả chức lại cho cựu quân trưởng Cao Minh Chung, ông này vì mất quyền lợi, rao bán tiếng xấu, phá phách bằng cách khuyến dụ nhân viên, làm thất lạc hay chậm trễ giấy tờ vân vân. Tốt nhứt là chúng tôi chấm dứt sự thử nghiệm tại đây.

Ông Kỳ lại nín thinh mắt đăm đăm nhìn cửa ra vào, hình như ông cố ý chờ Văn Văn Của. Khoảng vài phút qua, Thiếu Tá Liệu, tùy viên mở cửa, Văn Văn Của xuất hiện đứng nghiêm chào, tay chưa kịp bỏ xuống.

– Ð. M… anh, không làm việc, ngồi chơi không mà người ta làm anh phá.

– Dạ…

Ông Của chưa kịp nói gì thì bị Tướng Kỳ làm cho một hơi:

– Ð.M… anh, tại sao anh không giải ngân cho người ta làm việc?

– Dạ…

– Ð. M… anh có biết đọc tờ trình của quận trưởng quận 8 không? Tại sao không chịu giải ngân cho người ta?

– Dạ…

– Ð. M… anh, đã cử quận trưởng mới rồi mà anh còn cử thằng quận trưởng cũ làm cố vấn là cái nghĩa lý gì?

– Dạ…

– Ð. M… các quận khác anh có cử cố vấn không? Như vậy không phá hoại là cái gì? Ð. M… đi về, nếu không tôi “nhúc” anh bây giờ.

Sau này tôi mới biết đối với Thiếu Tướng Kỳ chữ nhúc có nghĩa là bắt giam. Ông Của chưa kịp bỏ tay chào xuống, còn đứng chết trân nghe mắng cho đến khi bị đuổi về, ông bỏ chân theo kiểu nhà binh, quay đằng sau, đi mất. Dĩ nhiên Ðại Tá Của về đến văn phòng là ra lệnh giải ngân trong ngày. Từ đó trở đi ông Của hết tình ủng hộ và thỏa mãn mọi yêu cầu của quận 8.

Quay sang tôi ông Kỳ khởi sự phân trần:

– Ðấy anh thấy không tôi ngay tình. Một mình tôi, làm sao kiểm soát hết tất cả những sự bê bối trong guồng máy hành chánh nặng nề này. Vừa nói ông Kỳ lại một tay cầm điện thoại quay bằng ngón út, gọi ông Tổng Trưởng Thanh Niên: Hồng, lên biểu.

Khoảng hơn 15 phút sau, Bác sĩ Nguyễn Tấn Hồng đến, dù mặc thường phục nhưng ông Hồng cũng chào theo kiểu nhà binh, vì ông là Trung Tá quân y, thuộc binh chủng không quân của Thiếu Tướng Kỳ. Ông Kỳ mời ngồi xong, đối diện với tôi. Giới thiệu tôi với Bác Sĩ Hồng một cách hằn học, gọn lỏn. Ông gằn vọng:

– Ð. M… tối ngày chỉ biết đánh tennis thôi. Chẳng làm con mẹ gì hết mà anh Triều làm việc anh còn phá.

– Trời ơi, Thiếu Tướng, tôi chưa hề gặp anh Triều bao giờ, tôi không hề biết anh Triều làm việc gì thì tôi làm sao phá anh ấy? Mà phá cái gì mới được chứ?

Nhìn sang tôi, ông Hồng nói:

– Anh Triều, anh nói giùm tôi một tiếng, tôi không hề phá anh về bất cứ chuyện gì phải không?

– Tôi vẫn giữ im lặng không can dự vào. Thì ra ông Kỳ chỉ giận cá chém thớt bậy bạ thôi, còn ông Bác Sĩ Hồng thì bị vạ lây. Ðây là một tai nạn, ông Hồng bị lạc đạn.

Ông Kỳ lấy lại bình tĩnh dịu giọng nói:

– Thôi mời anh về.

(Còn tiếp)

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s