Về nhà văn và luật sư Trần Thanh Hiệp ngày cũ-Du Tử Lê

logo Văn học

Trần Thanh Hiệp:

‘Thành công và Thất bại của nhóm Sáng Tạo?’

Du tử Lê bây giờ

Du Tử Lê

Nhà văn Trần Thanh Hiệp. (Hình: Triết Trần)


Như đã trình bày, theo tiết lộ của cố nhà văn Mai Thảo (4), chủ biên tạp chí Sáng Tạo từ số đầu tiên tới số cuối cùng, trước khi đình bản thì Sáng Tạo có hai lý thuyết gia. Một là nhà văn, Giáo Sư Nguyễn Sỹ Tế. Hai là nhà văn, Luật Sư Trần Thanh Hiệp.

Nhưng gần như chỉ có nhà văn Trần Thanh Hiệp xuất hiện đều đặn trên Sáng Tạo, như một lý thuyết gia, những khi ông trình bày quan niệm của ông về thơ tự do, hoặc nhận định về những đóng góp của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, thời kỳ Sáng Tạo có mặt ở Sài Gòn, trước 1975 và năm, tháng ông sống ở hải ngoại, sau 1975.

Ở khía cạnh này, nhà văn Trần Thanh Hiệp táo bạo hơn các thành viên khác của nhóm Sáng Tạo, đã phát biểu thay cho cả nhóm: “Tự Lực Văn Đoàn chưa bao giờ là thần tượng của mấy anh em chúng tôi.” Nửa thế kỷ sau, đọc lại ý kiến này, chúng ta thấy con người Trần Thanh hiệp thời trẻ sôi nổi với ý nguyện thay đổi văn chương, làm mới ngôn ngữ!

Nhưng nhiều chục năm sau, ở trang mạng Wikipedia-Mở,  người ta lại được đọc một bài viết khác của cựu chủ nhiệm đặc san Lửa Việt, tuyên dương những đóng góp mang tính mở đường của nhà văn Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam, con chim đầu đàn của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, thời tiền chiến. Nhà văn Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam tự tử ngày 7 Tháng Bảy, 1963, tại Sài Gòn, với di ngôn nổi tiếng: “Đời tôi để lịch sử xử…”

Đó là bài viết nhan đề “Để trả Nhất Linh Nguyễn Tường Tam về cho lịch sử.”

Trong bài này có đoạn, nhà văn Trần Thanh Hiệp nhận định lại về Tự Lực Văn Đoàn, ông nhấn mạnh: “Với bút danh Nhất Linh, một  nhà văn, nhà báo… ông là cha đẻ của một loạt nhân vật hư cấu, những Lệ Nương, Loan, Dũng, Nhung, Nghĩa, Phương, Thái, Triết, Trương, Thu, Mùi… Những nhân vật không có thật, nhưng rất sống động, tựa như họ có thực và đang sống ở ngoài đời.” (5)

Vẫn theo ông thì, vì thế mà những nhân vật ấy, đã phản ảnh được một bộ mặt nhất định của xã hội thời đó. Với tư cách nhà văn, tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng, Nhất Linh đã mở được một chiều hướng đi lên cho cuộc sống. Ông cũng cung cấp cho xã hội một kiểu mẫu sống, một rung cảm mới và nhất là một ngôn ngữ mới, một văn phong mới. Công trình mở đường này đã khiến cho Nhất Linh được đồng thanh nhìn nhận là người mở đường cho văn học sử Việt Nam vào thời điểm thập niên 1930, mang lại cho bộ môn tiểu thuyết một bước tiến bộ theo hướng nghệ thuật, và thổi vào báo chí tiếng Việt một sức sống tích cực, mới.

“Trong chừng mực đó, Nhất Linh đã đi vào lịch sử của đất nước.” Và tác giả ra khỏi bài viết của mình bằng câu: “Người Việt Nam có thể tự hào đã có một nhân vật Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam trong lịch sử.”

Tôi không đề quyết rằng với những cảm nhận như đã ghi lại ở trên, của nhà văn Trần Thanh Hiệp, dành cho nhân vật đứng đầu nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh/Nguyễn Tường Tam, khiến cho nhóm Tự Lực Văn Đoàn trở thành “thần tượng” của Luật Sư Trần Thanh Hiệp và các bạn của ông. Nhưng có người cho rằng sự nhìn lại của ông, có phần công bình hơn về Tự Lực Văn Đoàn: Tiêu biểu là tài năng và những đóng góp to lớn của Nhất Linh, cho văn học và đất nước!

Nói cách khác, thời Sáng Tạo ra đời, với những bài viết nằm trong “chiến dịch” chôn sống Tự Lực Văn Đoàn, khó ai có thể phủ nhận sự tham dự vào “chiến dịch” của nhà văn Trần Thanh Hiệp, với tư cách “lý thuyết gia” của tạp chí này. Dù cho nhà văn Trần Thanh Hiệp có “nhìn lại” hay không thì, lịch sử văn học Việt Nam cũng đã dành cho những đóng góp tài năng và trí tuệ  của Tự Lực Văn Đoàn, một vị trí trân trọng. (6)

Nhận định trên, theo chỗ tôi được biết, không phải chỉ riêng với tác giả Hoàng Lan Chi (thể hiện qua bài phỏng vấn nhà văn Trần Thanh Hiệp cách đây trên 10 năm), mà đó cũng là quan điểm của nhiều người thuộc đa số thầm lặng.

Tinh thần “nhìn lại” của nhà văn Trần Thanh Hiệp còn được thể hiện cụ thể hơn, qua bài ông viết về cố nhà văn Mai Thảo, tựa đề “Mai Thảo, người kể chuyện bằng văn” viết tại Paris, mùa Xuân 2008.

Ở bài viết có nhiều tiểu đoạn này, một trong những tiểu đoạn đó, có tiểu tựa bất ngờ là “Mai Thảo là Sáng Tạo nhưng Sáng Tạo không là Mai Thảo.”

Mở đầu tiểu đoạn này, nhà văn Trần Thanh Hiệp ghi nhận, tạp chí Sáng Tạo đã tự ý đình bản năm 1962. Nhưng những thành viên nòng cốt vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực văn chương và, Mai Thảo là người tích cực nhất…

Kế tiếp, với tiểu đoạn “Mai Thảo, người kể chuyện bằng văn,” Trần Thanh Hiệp cho biết, đại ý Mai Thảo đã viết xuống truyện của mình bằng những mới mẻ, nhất là ở phương diện hình thức, nếu không muốn nói rằng Mai Thảo đã làm thành một cuộc đổi mới cho cho văn học Việt. Có dễ vì thế mà sáng tác của Mai Thảo thường được phê bình từ lăng kính văn học sử. Trước khi ra khỏi bài viết của mình, nhà văn Trần Thanh Hiệp kết luận: “Tòa kiến trúc văn học đồ sộ Mai Thảo để lại cho đời sau, theo tôi quả thật Sáng Tạo chẳng có công lao gì.” Trần Thanh Hiệp đã thấy những đóng góp lớn của Mai Thảo xuất hiện sau khi tạp chí Sáng Tạo đã đình bản, còn phần sáng tác trong Sáng Tạo chỉ là bước khởi đầu.

Tôi nghĩ những ai, từng có dịp giao tiếp với các thành viên của nhóm Sáng Tạo, sẽ nhận ra rằng, họ chỉ được nghe Mai Thảo ngợi ca những bằng hữu trong nhóm của ông mà, hầu như không bằng hữu nào của tác giả “Tháng Giêng Cỏ Non,” công khai tuyên dương tài năng, trí tuệ của Mai Thảo, như nhà văn Trần Thanh Hiệp đã làm. Nếu tôi không lầm, đó là bài viết đầu tiên và duy nhất, tính tới hôm nay, của một thành viên sáng lập tạp chí Sáng Tạo.

Hơn thế, cũng lần đầu tiên, cách đây hai năm, khi chúng tôi tới Paris thăm, ở lại ăn Tết với bạn, là nhà văn Vũ Thư Hiên… thì trong một bữa ăn trưa do nhà văn Từ Thức/Trần Công Sung khoản đãi, nhà văn Trần Thanh Hiệp đã bất ngờ hỏi, theo tôi thì đâu là thất bại của Sáng Tạo? Tôi chưa kịp trả lời, ông đã nói: “Sáng Tạo đã thành công trong việc đổi mới thơ. Nhưng đã thất bại trong việc đổi mới thơ cho mọi người; thay vì chỉ đổi mới thơ cho một số người chủ trương nó.” (7)

Tôi muốn nhấn mạnh hai chữ “bất ngờ” vì, chưa bao giờ tôi có ý chờ đợi phong cách nhà-văn-thẳng-thắn-tự-tin, như phong-cách-Trần-Thanh-Hiệp, ở Paris, hôm đó. Vô tình, ông đã cho chúng tôi, một cái nhìn ấm áp về con người của ông. (Du Tử Lê)



Chú thích:

(4) Trang Wikipedia-Mở cho biết, nhà văn Mai Thảo sinh ngày 8 Tháng Sáu, 1927, tại thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, Nam Định, trong gia đình giàu có nhờ buôn bán và làm ruộng. Mai Thảo là cựu học sinh trung học Đỗ Hữu Vị (sau đổi tên là Chu Văn An, ở Hà Nội).

Ông có một thời gian tham gia kháng chiến, khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ. Năm 1951, Mai Thảo bỏ kháng chiến về thành đi buôn.Thời 16, 17 tuổi, ông làm thơ rất nhiều. Nhưng sau khi vào miền Nam, 1954, ông chuyên viết truyện, không làm thơ nữa. Năm 1956, ông là chủ biên tạp chí Sáng Tạo, gây được tiếng vang lớn. Năm 1974, ông trông nom tạp chí Văn.

Ngày 4 Tháng Mười Hai, 1977, Mai Thảo vượt biển, tới Pulau Besar, Mã Lai. Tháng Bảy, 1982, ở Hoa Kỳ, ông cho tái bản tạp chí Văn. Đến 1996, vì tình trạng sức khỏe, ông trao tạp chí Văn cho Nguyễn Xuân Hoàng. Ông có rất nhiều truyện nổi tiếng đã được xuất bản. Năm 1989, ông cho in thi phẩm “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền,” được đón nhận nồng nhiệt.

Nhà văn Mai Thảo mất ngày 10 Tháng Giêng, 1998, ở miền Nam California.

(5) Trần Thanh Hiệp, “Mai Thảo, người kể chuyện bằng văn.” Sưu tập của Lê Hoàng Tuấn Kiệt (Website dutule.com)

(6) Sau nhiều chục năm nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam, vì quan điểm chính trị, coi như trong lịch sử văn học Việt Nam, không hề có sự hiện diện của cái gọi là nhóm Tự Lực Văn Đoàn thì năm đầu thiên niên kỷ mới, năm 2000, cơ sở Văn Hóa-Thông Tin ở Hà Nội đã cho xuất bản tập sách tựa đề “Nhất Linh, cây bút trụ cột của Tự Lực Văn Đoàn.” Trong sách có bài của ông Nguyễn Tường Thiết, trưởng nam cố nhà văn Nhất Linh, hiện cư ngụ tại tiểu bang Washington, về cái chết của cha ông. Trước đó, tác phẩm của Thạch Lam (trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn) cũng đã được Hà Nội cho phép in lại.

(7) Nguồn: Facebook Tuyền Phan, video post ngày 7 Tháng Giêng, 2016.

TRẦN THANH HIỆP:

‘SINH VẬT LƯỠNG CƯ?’ 

“..Ông kết luận bài viết của mình trong niềm tin và hy vọng rằng, lịch sử, cũng như dân tộc, đang chất vấn trí thức Việt Nam. Và thời đại cũng đang đặt tầng lớp này trước những thử thách gay go…”

tranthanhhiep00
Nhà văn Trần Thanh Hiệp. (Hình: NguoiViet blog)

Đề cập tới nhà văn Trần Thanh Hiệp mà bỏ quên con người làm chính trị của ông, tôi cho là một khiếm khuyết lớn. Bởi vì, tiểu sử của ông, ngay từ thời còn là sinh viên, đã cho thấy năng khiếu ông có là năng khiếu thiên về chính trị. Cụ thể là ông đã giữ vai trò “chủ nhiệm” đặc san “Lửa Việt,” tiếng nói của Hội Sinh Viên Hà Nội Di Cư, ngay những ngày đầu ở miền Nam.

Trước khi được chọn đại diện cho chính quyền VNCH, tham dự hội nghị Paris đầu thập niên 1970, nhà văn Trần Thanh Hiệp cũng đã từng là bộ trưởng Lao Động và dành nhiều thời gian cho những phong trào chính trị, đảng phái,…

Ở cả hai lãnh vực văn học và chính trị, ông đều cho thấy khả năng chuyên môn bén nhạy, khiến cho hơn một nhà văn đã phải nói rằng, nhà văn Trần Thanh Hiệp có khả năng bẩm sinh của sinh vật “lưỡng cư,” (sống được trên bộ cũng như dưới nước) – tức ở môi trường nào, ông cũng xuất sắc, cũng thích hợp và đạt được những điều mình muốn.

Thời gian sống ở hải ngoại, ông đã cống hiến cho lãnh vực chính trị, nhiều luận thuyết. Một trong những luận thuyết của ông, có tên “Vai trò biểu tượng của tri thức Việt Nam trước nền văn hóa thứ ba,” in trong tuyển tập “Việt Nam Trên Đường Dân Chủ Hóa” do nhà xuất bản Thái Bình Dương ở Paris ấn hành, cách đây trên dưới 10 năm.

Bài viết hay luận thuyết này của ông đã nhận được quan tâm, chia sẻ của rất nhiều độc giả. (6)

Theo tác giả luận thuyết này thì có ba ngộ nhận liên quan tới cụm từ “trí thức,” bao gồm cả trí thức Việt Nam quá khứ và, hôm nay.

-Về ngộ nhận thứ nhất, nhà văn Trần Thanh Hiệp chỉ ra rằng, phương Đông đánh đồng “trí thức” với ý niệm hay vai trò của “kẻ sĩ.” Ý niệm đó, từ nền văn hóa Trung Hoa, du nhập vào Việt Nam.

Nói ngắn gọn thì “trí thức” hay “kẻ sĩ” theo quan niệm Việt Nam là một thứ giai cấp xã hội. Hoàn toàn không giống quan niệm về “trí thức” ở phương Tây. (7)

Còn từ ngữ intellectuel, tiếng Pháp hay intellectual, tiếng Anh, đã được dùng để chỉ những nhà văn, nhà giáo, nghệ sĩ nổi tiếng về học thuật, dám công khai phê phán hay lên án những xúc phạm trầm trọng tới nhân phẩm con người của giới cầm quyền… Do đó, nó trở thành trung tâm của ý thức xã hội đương thời. Nhưng trí thức Tây phương không mang ý nghĩa giai cấp xã hội, mà chỉ phản ánh tâm thái cá nhân cùng vai trò của mình trong xã hội. (8)

Tác giả Trần Thanh Hiệp nhắc nhở: “Bởi thế, khi bàn về trí thức ở Việt Nam, nên tránh đồng hóa “sĩ” với “trí thức.”

-Về ngộ nhận thứ hai, nhà văn Trần Thanh Hiệp cho rằng, người trí thức xuất phát từ chế độ chính trị nào, cũng đều là trí thức như nhau. Nhưng nếu căn cứ vào quan niệm về trí thức của Lênin trong bức thư trả lời nhà văn Maxim Gorky ngày 15 Tháng Chín, 1919, thì trí thức được đào tạo trong chế độ tư bản, trên thực tế “không phải là bộ não mà là cứt!” Sau này, Mao Trạch Đông cũng ví trí thức với phân người! (9)

Tới đây thì ông kết luận rằng, dưới chế độ Cộng Sản ở Việt Nam, đã không có những người “trí thức đúng như mẫu phương Tây.”

-Về ngộ nhận thứ ba, sau cùng là, một số ý kiến cho rằng ở Việt Nam đã có những nhà trí thức, hoặc là những người tiếp diễn, trong thời đại mới, nếp sống của những kẻ “sĩ” thời cổ đại ở Trung Hoa!? Nhà văn Trần Thanh Hiệp ghi lại cả hai quan điểm trong và ngoài nước, như sau:

Trí thức đầu tiên trong nước, được nhà văn Trần Thanh Hiệp dẫn chứng là Giáo Sư Chu Hảo.

Ông Hảo từng là cựu thứ trưởng Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường, hiện là ủy viên Hội Đồng Trung Ương Liên Hiệp Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam (Vusta) tuyên bố với đài phát thanh BBC nhân đầu năm mới 2012, rằng, theo quan niệm của ông thì, người trí thức phải có “…Khả năng độc lập tư duy, khả năng dám bảo vệ chính kiến của mình, khả năng dự báo và tạo ra dư luận lành mạnh trong xã hội…” Nhưng “chưa có nhiều.” Từ đó, ông Hảo kết luận, tầng lớp trí thức Việt Nam, chưa thành hình sau 1954 ở miền Bắc và sau 1975, ở miền Nam…”

Trước phát biểu của Giáo Sư Chu Hảo, ở hải ngoại, nhà văn Phạm Thị Hoài, một khuôn mặt văn nghệ nổi bật ở hải ngoại, cho rằng, những người mang danh là trí thức ở Việt Nam chỉ lo “phò chính thống.” Bà xếp ông Chu Hảo vào loại trí thức trung thành với đảng. Hay, ông ta (như nhiều trí thức khác), đã chỉ làm công việc mà bà gọi là “Giải phẫu thẩm mỹ cho một chế độ toàn trị, giúp nó tồn tại mỹ miều hơn,” để kiếm chút hư danh hoặc địa vị hão huyền mà thôi.

Qua một cách diễn tả khác, nhà toán học có tầm cỡ quốc tế, Ngô Bảo Châu, cũng xác nhận tình trạng ở Việt Nam không có trí thức kiểu phương Tây khi ông phát biểu rằng “Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm ‘trí thức’…”

Theo Giáo Sư Ngô Bảo Châu thì “giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biện xã hội.”

Nhà văn Trần Thanh Hiệp cũng trích dẫn một phát biểu của nhà văn Albert Camus khi nhà văn này nói, đại ý, không có trí thức phục vụ chế độ mà chỉ có trí thức “phục vụ con người.”

Trước khi bước vào nền “Văn Hóa Thứ Ba/ Third Culture,” nhà văn Trần Thanh Hiệp nhắc tới hiện tượng rồi đây, con người sẽ phải sống chung với máy (Cyborg-power society).

Ông nói, theo nhà tương lai học Edouard Cornish, sự thay đổi đầy đảo lộn này sẽ tạo ra những nhu cầu mới, gây nên những xung đột mới, khiến cho các cá nhân cảm thấy bất ổn trong đời sống. Nhưng không ai có thể “đứng ngoài cơn lốc đổi đời lịch sử này.”

Vì thế, muốn hay không muốn, nhân loại cũng phải tiếp tục xây dựng cuộc đời. Ở trường hợp này, Albert Einstein cho rằng, trí thức sẽ đóng vai trò đắc lực nhất.

Ông kể, trong cuốn sách “Văn Hóa Thứ Ba” (The Third Culture), xuất bản năm 1963, nhà tương lai học John Brochman cho biết các nhà trí thức của nền văn hóa thứ ba có khuynh hướng tránh né lớp người trung gian (middleman). Vì họ muốn tự chính họ tìm được cách biểu thị tư tưởng thâm hậu của mình, sao cho lớp trí thức bình dân có thể bắt kịp đà chuyển hóa đã tới cực đỉnh và khoa học trong đời sống con người, đã giữ một vai trò rất quan yếu…

Tóm lại, trí thức biểu tượng cho nền văn hóa thứ ba phải là nhân vật có khả năng gắn liền với quần chúng, hay đại chúng gồm đủ mọi tầng lớp của toàn thể dân tộc.

Nhà văn Trần Thanh Hiệp nhấn mạnh: Muốn trở thành biểu tượng trí thức của dân tộc thì con người trí thức phải gắn liền với lịch sử dân tộc, mang trong mình dấu ấn “tiêu thức sơ nguyên” (archetype) tức là những vang vọng đời sống tâm linh của dân tộc trong quá trình sống còn, nối tiến hóa trải qua sinh hoạt thăng trầm của cộng đồng.

Ông kết luận bài viết của mình trong niềm tin và hy vọng rằng, lịch sử, cũng như dân tộc, đang chất vấn trí thức Việt Nam. Và thời đại cũng đang đặt tầng lớp này trước những thử thách gay go. Nhưng theo họ Trần thì: “Đó lại chính là cơ hội cho trí thức Việt Nam triển khai tài năng và phẩm hạnh để mở đường phục hưng và tiến hóa cho dân tộc vậy.”

Du Tử Lê

Nguồn: nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tran-thanh-hiep-sinh-vat-luong-cu/

Chú thích:

(6) Dẫn theo VanhoamagazineOnline.com
(7) Nhà văn Trần Thanh Hiệp đã dẫn chứng bằng hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt, dân hữu tứ sĩ vi chi tiên” (tước có năm bậc thì sĩ cũng dự vào; dân có bốn nghề thì sĩ đứng đầu tiên).
(8) Phân đoạn này, nhà văn Trần Thanh Hiệp dựa theo một bài phân tích của tác giả Chức Sa Mộng, bài viết bằng Hoa Ngữ đăng trên mạng Internet, bản dịch của Quốc Trung.
(9) Tác giả trích dẫn Nguyễn Đình Đăng, Lênin Toàn Tập, tái bản lần thứ 5, nhà xuất bản Văn Học Chính Trị, 1978, tập 51, trang 48, 49).

 

 

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s