“Trò chơi nguy hiểm nhất/The most dangerous game- Truyện Richard Connell/Trần Thị Cổ Tích dịch

 

đọc sách2

truyenngan3

Trò chơi nguy hiểm nhất

connell1

Richard Connell

Trần Thị Cổ Tích
Trần thị cổ tích (dịch)
Giới thiệu
connell1

RICHARD CONNELL(Mỹ)

(1893 – 1949)

RICHARD CONNELL sinh ngày 17/10/1893 tại hạt Duchess County, ven bờ sông Hudson River(New York). Lúc 10 tuổi, ông đã được biết đến như một “phóng viên nhí” chuyên đưa tin về các trận đấu bóng chày cho tờ Poughkeepsie News Press của người cha với thù lao 10 xu mỗi trận. Năm 16 tuổi, cũng trên tờ báo ấy, ông phụ trách mục tin tức địa phương trước khi chuyển đến Washington, DC để theo học cao đẳng tại Georgetown College, đồng thời giữ vai trò thư ký riêng cho cha mình tại Quốc hội. Sau cái chết của người cha vào năm 1912, ông vào đại học Harvard. Tại đây, ông trở thành biên tập viên có ảnh hưởng lớn của hai tờ báo học đường là Daily Crimson và Lampoon. Tốt nghiệp, ông về làm phóng viên cho tờ New York City. Suốt Thế chiến I, là một quân nhân trong quân đội Hoa Kỳ, Richard Connell được chỉ định phụ trách biên tập cho tờ Gas Attack. Từ năm 1919 cho đến khi qua đời, ông là một trong những nhà văn viết khỏe nhất vào đầu thế kỷ 20 với kỷ lục đáng nể: hơn 300 truyện ngắn được đăng trên nhiều tạp chí tên tuổi thời bấy giờ, The Saturday Evening Post and Colliers là một điển hình. Năm 1925, sau khi truyện ngắn The Most Dangerous Game được tái bản liên tục, đem lại cho Richard Connell giải thưởng danh giá OHenry Memorial Award, ông đã trở nên rất nổi tiếng ở mảng truyện giả tưởng rất được giới trẻ bấy giờ hoan nghênh. Chuyển đến Bevery Hill, California, ông tiếp tục viết lách vẫn với tư cách một nhà văn nhà báo tự do. Ông có nhiều truyện được in trên 3 tuyển tập The Sin of Monsier Petipon (1922), Apes and Angels (1924) và Ironies (1930). Ông chẳng bao giờ quan tâm đến thể loại tiểu thuyết mà giốc toàn bộ sức lực và thời gian vào thể loại văn học sở trường và yêu thích: truyện ngắn.

 Xin giới thiệu THE MOST DANGEROUS GAME, một truyện ngắn được xem là tiêu biểu nhất trong văn nghiệp của Richard Connell

bản dịch của TRẦN THỊ CỔ TÍCH…

TRÒ CHƠI NGUY HIỂM NHẤT

(The most dangerous game)

bai-bien-long-son-mui-ne-2

“Đâu đó ở ngoài kia, về phía tay phải, là một hòn đảo lớn”, Whitney nói, “Và khá bí hiểm”.

“Đảo gì vậy?”, Rainsford hỏi.

“Theo các hải đồ cũ, đó là Đảo Bẫy Tàu”, Whitney ra vẻ hiểu biết, “Một cái tên ẩn chứa nỗi chết chóc phải không? Cánh thuỷ thủ tỏ ra rất khiếp sợ nơi ấy. Không hiểu tại sao. Có lẽ bọn họ quá tin vào những lời thêu dệt sặc mùi huyền thoại của dân đi biển”.

“Không thể thấy nó đâu cả”. Rainsford căng mắt nhìn xuyên qua màn đêm nhiệt đới ẩm ướt như một tấm chăn dày phủ chụp lên chiếc du thuyền.

Vẻ giễu cợt, Whitney vừa nói vừa cười lớn: “Anh có đôi mắt thật tinh tường kia mà. Tôi đã từng chứng kiến anh bắn hạ một con nai lớn đang lẫm đẫm bên bụi cây với cự ly gần bốn trăm mét, nhưng tôi dám chắc anh chẳng thể nhìn thấy gì cả trong vòng bốn dặm vào một đêm không trăng sao ở vùng biển Caribê này đâu”.

“Thậm chí chừng bốn mét thôi cũng chịu nữa là…”, Rainsford buộc miệng, “ Quái! Sao mà nó giống hệt một tấm màn đen ướt sũng thế này!”.

“Đến Rio sẽ sáng sủa hơn”, Whitney trấn an, “Độ vài ngày nữa thôi. Hy vọng ở đó chúng ta sẽ gặp các tay săn báo đốm đến từ Purdey. Sẽ diễn ra dăm ba cuộc săn bắn thú vị ngược lên vùng Amazon. Săn bắn quả là môn thể thao tuyệt vời”.

“Phải nói là môn thể thao tuyệt vời nhất thế giới”, Rainsford phụ họa.

“Nhưng chỉ tuyệt vời đối với cánh săn bắn chúng ta chứ không tuyệt vời đối với bọn báo đốm”, Whitney triết lý.

“Đừng vớ vẩn, Whitney”, Rainsford không tán thành, “Anh là một tay săn thú chứ không phải một triết gia. Hơi sức đâu mà quan tâm đến việc bọn báo đốm ấy cảm thấy thế nào?”.

“Nhưng có lẽ họ nhà báo đốm thì quan tâm đấy”, Whitney trả lời, “Ối dào! Chúng thì hiểu cái quái gì. Nhưng tôi nghĩ chúng cũng có các cảm giác sợ hãi, sợ đau đớn và sợ chết”.

“Khéo nói xàm”, Rainsford cười lớn, “Thời tiết oi bức đã làm anh xìu mất rồi, Whitney ạ! Hãy thực tế một chút. Thế giới được hình thành bởi hai hạng người: kẻ đi săn và kẻ bị săn. May thay, anh và tôi là những kẻ đi săn. À này, chúng ta đã đi qua khỏi cái hòn đảo quỉ quái ấy chưa nhỉ?”.

“Trời tối quá không thể biết được. Mong là như vậy”.

“Sao thế?”, Rainsford thắc mắc.

“Nó được biết đến như một hòn đảo tử thần ấy mà”.

“Có bọn mọi ăn thịt người a?â”.

“Có lẽ còn hơn thế nữa. Ngay đến bọn mọi ăn thịt người cũng không thể sống nổi ở một nơi đã bị Chúa bỏ quên đó. Nó đã trở thành huyền thoại đối với cánh thủy thủ. Anh không nhận ra ngày hôm nay mặt mày gã nào gã nấy luôn biểu hiện vẻ căng thẳng, bồn chồn, thậm chí hoảng loạn nữa đó sao?”.

“Anh nói tôi mới để ý. Chúng có vẻ gì đó rất khác thường. Ngay đến thuyền trưởng Niesel…”.

“Phải đấy, ngay cả cái lão người Thuỵ Điển có cái đầu bằng đá, kẻ đã dám đích thân gặp quỉ sứ để xin mồi lửa ấy. Cặp mắt xanh của loài cá lão sở hữu đang xuất hiện cái ánh nhìn là lạ mà tôi chưa hề thấy trước đây… Tất cả những gì tôi moi được ở lão là: với dân đi biển, một cái gì đó cực kỳ tàn độc vô hình đang ngự trị trên hòn đảo chết tiệt đó… Với vẻ mặt khá nghiêm trọng, lão hỏi tôi như để thăm dò “Có thật anh không cảm thấy điều gì khác lạ sao? Anh xem, không khí xung quanh chúng ta nặng chình chịch như thể đang bị nhiễm độc, không một chút gió, mặt biển thì phẳng lặng đến khó tin. Mà này, xin anh đừng cười khi tôi nói với anh rằng càng nhích gần tới hòn đảo tôi càng cảm thấy ớn lạnh, nổi gai ốc khắp người. Một nỗi khiếp sợ vô hình cứ chờn vờn khiến tôi chốc chốc phải rùng mình…”.

“Chỉ toàn tưởng tượng!”, Rainsford nổi cáu, “Một thuyền trưởng dày dạn mà yếu bóng vía vì mê tín vớ vẩn như thế sẽ làm nhụt chí cả thủy thủ đoàn mất thôi”.

“Có lẽ lão ta không nên như thế. Nhưng tôi vẫn thỉnh thoảng nghĩ rằng cánh thủy thủ đều có cái giác quan thứ sáu cho phép họ linh cảm được mối nguy hiểm sắp xảy ra. Cái ác đôi khi lại là một vật thể hữu hình có thể sờ mó được, giống như sóng của âm thanh và ánh sáng vậy. Có thể nói một nơi hiểm ác vẫn thường được bao trùm bởi một làn sát khí mà những ai nhạy cảm rất dễ dàng nhận biết. Dù sao tôi cũng mừng vì chúng ta đang xa dần cái vùng biển hắc ám kia. Thôi, đã đến lúc tôi phải vào ca-bin đây, Rainsford ạ!”.

“Tôi không buồn ngủ chút nào cả”. Rainsford đáp, “Tôi sẽ ra boong tàu phía sau hút thêm điếu thuốc nữa”.

“Thế thì chào nhé, Rainsford. Sáng mai gặp lại”.

“Ừ. Chúc ngủ ngon, Whitney”.

Đêm hầu như không còn một âm thanh nào khác ngoài tiếng máy tàu rì rì và tiếng chân vịt loẹt soẹt đẩy chiếc du thuyền lướt nhanh vào đêm tối. Rainsford ngả mình trên chiếc ghế đệm hơi êm ái, uể oải bập phà điếu thuốc ưa thích. Cơn ngái ngủ bềnh bồng của đêm đen phủ chụp lấy anh.

“Trời tối quá”, anh nghĩ, “Tối đến nỗi mình có thể ngủ mà không cần khép mắt. Màn đêm là mí mắt của mình”.

Bỗng một âm thanh vang lên đâu đó về phía bên phải chiếc du thuyền làm anh giật thót. Cảm thấy hơi lạ, nhưng với đôi tai của một thợ săn chuyên nghiệp anh tuyệt không thể nhầm lẫn được. Và anh lại nghe âm thanh tương tự một lần nữa cũng phát ra từ hướng vừa rồi. Trong vũng đêm đặc quánh, ai đó đã bắn ba phát súng… Rainsford bật dậy, lao nhanh đến lan can tàu, lòng đầy nghi hoặc. Anh căng mắt phóng tầm nhìn về hướng vừa phát ra mấy tiếng súng, nhưng chỉ là một nỗ lực vô ích khi nhìn xuyên qua màn đêm đen kịt. Anh chồm người lên lan can, ráng giữ thăng bằng để nhìn cho rõ ràng từ chỗ cao hơn. Ống tẩu va vào một sợi dây thừng văng ra khỏi miệng anh. Anh rướn người lên để chụp lại nó. Ngay lúc đó, anh thét lên thảng thốt khi nhận ra mình đã nhoài người quá xa và không còn giữ thăng bằng được nữa. Tiếng kêu bị tắt ngấm khi nó chạm vào những đợt sóng nóng hổi của vùng biển Caribê đang cuốn xoắn lấy anh. Phản xạ đầu tiên của anh là vùng vẫy ngoi lên khỏi mặt nước, ráng hết sức gào thật to để may ra ai đó trên chiếc du thuyền nghe thấy, nhưng những làn sóng từ con tàu đang chạy băng băng không ngớt tát vào mặt vào miệng anh mặn chát làm anh sặc sụa muốn nghẹt thở. Tuyệt vọng, anh cố sức bơi theo ánh đèn của chiếc du thuyền đang mỗi lúc một xa dần. Đuổi theo khoảng mười lăm mét, chừng như ý thức được mình đang lãng phí sức lực một cách vô ích vì khó thể có ai đó trên chiếc du thuyền đang ngon trớn nghe thấy tiếng kêu cứu quá mong manh của anh giữa biển trời tối mìn mịt thế này, nên anh kịp quyết định không bơi tiếp nữa. Sau vài giây tự trấn an, anh vặn mình cởi bỏ quần áo và lấy hết sức bình sinh thử gào hú họa thêm lần nữa. Ánh đèn của chiếc du thuyền vẫn cứ mờ dần mờ dần như con đom đóm lập lòe trước khi bị màn đêm nuốt chửng.

Rainsford nhớ đến những phát súng ban nãy. Chúng đã vang lên từ phía bên phải. Và thế là anh quyết định bơi về hướng ấy, tự nhủ hãy kiên trì và bền bỉ. Anh bơi thong thả chẫm rãi, cố ý giữ sức. Không rõ anh đã âm thầm chiến đấu với biển cả trong bao nhiêu lâu . E rằng mình sẽ khó thoát hiểm, anh bắt đầu đếm từng sải bơi để lấy tinh thần. Có lẽ anh đã đếm được hơn một trăm và rồi…

Rainsford bỗng nghe một âm thanh. Nó thoát ra từ bóng tối. Một tiếng rống muốn xé rách màn đêm, hình như của một con thú bị thương đang đau đớn và sợ hãi cùng cực trong cơn dẫy chết.

Nhất thời anh không nhận ra đó là loài thú nào. Anh cũng không dư thời gian để quan tâm. Với một niềm phấn khích tột độ, anh bơi về hướng đó. Đột nhiên, anh lại nghe thấy lần nữa tiếng rống thảm thiết đó trước khi nó bị át đi bởi một phát súng chát chúa và đanh gọn…

“Tiếng súng lục”. Rainsford lẩm bẩm trong lúc tiếp tục bơi.

Mười phút cật lực sải tới, anh được chào đón bằng một âm thanh rất quen tai đáng mong đợi nhất trong hoàn cảnh này khiến anh mừng quýnh: tiếng sóng vỗ rì rầm vào bờ đá! Anh gần như tấp ngay trên những tảng đá trước khi anh kịp nhận ra chúng. Nếu vào một đêm biển ít tĩnh lặng hơn đêm nay thì có thể anh đã bị đập mạnh vào đá tan xác như chơi rồi. Bằng tất cả chút hơi tàn còn sót lại, anh lê người ra khỏi vùng nước xoáy tít. Những khối đá lởm chởm xuất hiện, nhô lên trong bóng đêm mờ đục. Anh cố sức trườn lên, bấu vào chúng hết tay này đến tay khác. Thở hào hển, tay rướm máu… Cuối cùng anh cũng bò đến một chỗ bằng phẳng trên gờ đá… Rừng cây rậm rạp tràn xuống đến sát rìa dốc đá hiểm trở. Tai họa giấu mình trong những lùm cây dày đặc và trong những bụi gai rậm rịt kia có thể phọt ra bất cứ lúc nào Runsford cũng đếch quan tâm. Tất cả những gì anh biết lúc đó là anh đã được an toàn, đã thoát khỏi bàn tay thần biển và cảm giác toàn thân mỏi nhừ rời rã. Chưa kịp hoàn hồn, anh ném mình xuống bìa rừng và trôi tuột vào giấc ngủ, một giấc ngủ có lẽ là sâu nhất trong đời.   

Khi mở mắt, nhìn vị trí của mặt trời, Rainsford biết đã xế chiều. Giấc ngủ đã giúp anh hồi phục một phần sức lực nhưng chẳng thể xua đi cơn đói cồn cào đang hành hạ cái dạ dày trống rỗng. Anh nhìn quanh và gần như quên mất nỗi hãi hùng đêm qua.

“Nơi nào có tiếng súng, nơi đó có con người. Nơi nào có con người, nơi đó có thức ăn”, anh thầm nghĩ. Nhưng anh liền tự hỏi kẻ nào mà dám sống ở cái nơi hui hút này? Hẳn phải có một đồn luỹ kiên cố nằm đâu đó giữa những cụm rừng già gai góc và đầy đe dọa ven bờ biển.

Rainsford không thấy dấu vết gì khác lạ trên những đám cỏ dại và cây cối ken dày kia. Đi dọc theo bờ biển có lẽ dễ hơn và thế là anh quyết định bơi xuôi theo dòng nước. Anh dừng lại không xa nơi anh đã lên bờ trước đó.

Rõ ràng có một con vật bị thương, có lẽ là một con gì đó khá lớn, vừa dẫy dụa ở đây. Cây cỏ bị cày nát, những đám rêu xơ xác, một vạt cỏ nhuốm màu đỏ thẫm… đã nói lên điều ấy. Rainsford chợt nhìn thấy một vật nhỏ lấp lánh gần đó. Anh vội nhặt lên xem. Thì ra là một băng đạn trống rỗng. “Hai mươi viên”, anh phán đoán. “Thật ngu ngốc. Tay thợ săn này thật là táo bạo khi hạ sát một con mãnh thú bằng một khẩu súng nhẹ. Rõ ràng nó đã kháng cự quyết liệt. Có lẽ ba phát súng mình nghe thấy lúc đầu là gã nổ để xua con mồi và làm nó bị thương. Còn phát đạn cuối cùng là lúc gã đuổi kịp con vật rồi kết liễu nó tại chỗ này”.

Anh khám xét hiện trường thật cẩn thận và đã tìm thấy cái mà anh muốn tìm. Dấu giày bốt của gã thợ săn. Nó hướng dọc theo vách đá hiểm trở mà lúc nãy anh vừa đi qua. Phấn khích, anh vội vã lần theo những dấu giày, nhiều lúc trượt chân vì một khúc cây mục hay vì một tảng đá lung lay, anh vẫn lảo đảo lê bước. Đêm đen đã bắt đầu bao trùm hòn đảo.

Bóng tối âm u đã nhuộm đen cánh rừng và mặt biển giúp Rainsford bất ngờ trông thấy ánh đèn khi vừa qua khỏi một khúc quanh. Ý nghĩ đầu tiên là anh tin rằng mình sắp gặp một ngôi làng bởi vì có rất nhiều ánh đèn. Cố vượt thêm một đỗi đường nữa, anh vô cùng ngạc nhiên khi nhận ra tất cả những ánh đèn đều nằm trong khuôn viên một công trình kiến trúc đồ sộ với những ngọn tháp nhọn hoắc chĩa thẳng lên nền trời tối lờ mờ. Anh căng mắt cố nhìn cho rõ hình thù nhờ nhờ của tòa lâu đài nguy nga, tọa lạc trên một bờ đá cao và ba phía là những vách đá dựng đứng lặn sâu xuống biển, nơi mà đại dương đang thè chiếc lưỡi tham lam liếm vào bóng đen của nó.

“Ảo ảnh”, Rainsford dụi dụi mắt. Nhưng anh chợt nhận ra không phải là ảo ảnh khi tay anh chạm vào cánh cổng với những song sắt nhọn chĩa lên trời. Những bậc thềm bằng đá cũng rất thật. Cánh cửa đồ sộ với một vật hình đầu người được chạm trổ một cách kỳ dị dùng làm búa gõ cửa cũng rất thật. Tuy nhiên phía trên cái vật hình đầu người ấy lơ lửng một vẻ gì hư ảo.

Anh thử nhấc cái búa gõ cửa. Nó kêu cót két thật to như thể đã lâu chưa từng được dùng đến. Anh thả nó xuống và nó lại phát ra tiếng ầm ầm làm anh giật mình. Hình như có tiếng chân người phía sau cánh cửa. Một lần nữa, Rainsford lại nhấc chiếc búa nặng nề lên và thả xuống. Cửa mở ngay, đột ngột như thể nó bung ra do sức bật của một cái lò xo và Rainsford đứng ngây ra, lóa mắt vì một luồng ánh sáng chói lòa. Cái đầu tiên Rainsford nhận ra là một gã đàn ông to lớn, vạm vỡ chưa từng thấy – một sinh vật khổng lồ – với bộ râu đen dài tới thắt lưng. Trên tay lăm lăm khẩu súng lục nòng dài chĩa thẳng vào ngực kẻ lạ. Cặp mắt từ đám râu rậm rạp nheo nheo bắn về phía Rainsford cái tia nhìn dữ tợn.

“Hãy bình tĩnh nào!”, Rainsford tự nhủ, vừa nở nụ cười thân thiện để tỏ vẻ thành thật, “Tôi không phải là kẻ cướp đâu. Tôi vừa bị rơi khỏi một chiếc du thuyền. Tên tôi là Sanger Rainsford. Tôi ở New York”.

Vẻ khủng bố trong đôi mắt kia vẫn không thay đổi. Khẩu súng lục chĩa vào Rainsford cứng đờ như thể gã khổng lồ là một pho tượng trong bộ đồng phục màu đen được điểm xuyết bằng lông cừu màu xám. Chẳng có dấu hiệu gì cho thấy gã hiểu hoặc thậm chí nghe được những gì Rainsford vừa nói.

“Tôi là Sanger Rainsford. Tôi ở New York”, Rainsford lặp lại, “Tôi bị rơi khỏi một chiếc du thuyền. Tôi đang đói”.

Câu trả lời của gã là một tay nâng cao nòng súng, tay kia đưa lên trán chào theo kiểu nhà binh, dập mạnh gót giày vào nhau đánh cốp, thực hiện tư thế đứng nghiêm. Một người đàn ông khác dáng vẻ mảnh khảnh, thẳng đuột trong bộ đồ ngủ, đang khoan thai bước xuống những bậc tam cấp rộng bằng đá cẩm thạch. Ông ta ung dung tiến đến chỗ Rainsford và chìa bàn tay ra.

Với phong thái của một người trí thức qua cách nhấn âm nhẹ nhàng, ông chẫm rãi: “Thật vui sướng và vinh dự được đón tiếp ngài Sanger Rainsford, tay săn lừng danh”. Một cách máy móc, Rainsford bắt tay người đàn ông.

“Tôi đã đọc cuốn sách nói về nghệ thuật săn báo đốm ở Tibet của ngài”, người đàn ông ý tứ, “Tôi là tướng Zaroff”.

Ấn tượng đầu tiên của Rainsford là người đàn ông này toát ra một vẻ thu hút khác thường. Ấn tượng tiếp theo là cái khuôn mặt hết sức độc đáo nếu không muốn nói là đặc dị. Vị tướng cao dong dỏng, có lẽ đã trên dưới năm mươi vì mái tóc gần như bạc trắng, nhưng cặp lông mày rậm và hàng ria tỉa nhọn kiểu nhà binh thì lại đen tuyền như bóng đêm mà Rainsford vừa trải qua. Đôi mắt tinh anh cũng màu đen. Xương gò má cao cao gầy gầy, chiếc mũi nhòn nhọn, vẻ mặt thâm trầm thường thấy ở những kẻ quen ra lệnh hoặc ở một số nhà quí tộc. Quay sang gã khổng lồ, vị tướng ra hiệu. Gã liền cất súng, phất tay chào rồi rút lui.

“Ivan là một gã mạnh cực kỳ”, vị tướng giải thích, “Nhưng bất hạnh là anh ta vừa câm vừa điếc. Một con người đơn giản, nhưng tôi cho rằng, cũng như nòi giống của mình, anh ta có tính khí hơi hoang dã”.

“Anh ta là người Nga?”.

“Người Cô dắc”, vị tướng nói với nụ cười khoe cặp môi đỏ và những chiếc răng nhọn, “Và tôi cũng thế”.

“Nào”, y tỏ ra lịch thiệp, “Chúng ta không nên trò chuyện vào lúc này. Để sau. Thứ mà ngài đang cần là quần áo, cơm nước và một chiếc giường. Ngài sẽ có tất cả. Đây là nơi ngả lưng lý tưởng nhất”.

Ivan lại xuất hiện và vị tướng nói gì đó với gã bằng cách mấp máy cặp môi. “Mời theo Ivan, ngài Rainsford”, vị tướng ân cần, “Tôi chuẩn bị dùng bữa tối thì ngài đến. Tôi sẽ đợi ngài cùng ãn. Ngài sẽ thấy là y phục của tôi rất vừa với ngài”.

Rainsford theo gã khổng lồ đến một phòng ngủ khá rộng, trần nhà có xà ngang với chiếc giường có màn che đủ rộng cho sáu người nằm. Ivan bày ra một bộ đồ ngủ mà khi mặc vào Rainsford nhận ra nó được may bởi một thợ may bậc thầy chuyên thực hiện trang phục cho giới quí tộc thượng lưu ở Luân Đôn. Phòng ăn mà Ivan đưa anh vào cũng có nhiều cái đáng chú ý. Một vẻ tráng lệ kiểu thời trung cổ gợi lên hình ảnh một sảnh đường thời phong kiến của một nam tước với những tấm ván ghép bằng gỗ sồi, trần nhà cao thoáng, chiếc bàn ăn thì “quá hớp” thừa chỗ cho khoảng bốn mươi thực khách. Đây đó trên các bức tường là những chiếc đầu thú rừng: sư tử, cọp, voi, nai, gấu… được lồng khung cẩn thận, không còn gì hoàn hảo hơn và có lẽ Rainsford chưa từng thấy ở các nơi khác. Vị tướng đã ngồi đợi sẵn một mình nơi chiếc bàn ăn.

“Một ly cốc-tai nhé, ngài Rainsford”, vị tướng kiểu cách. Cốc-tai ngon tuyệt và Rainsford để ý thấy các dụng cụ trên bàn ăn từ đồ bạc, đồ thủy tinh, đồ sành sứ đến khăn trải bàn đều thuộc vào loại tốt nhất.

Họ dùng món xúp có màu đỏ, béo ngậy nấu với kem đánh rất hợp khẩu vị của người Nga. Tướng Zaroff phân bua: “Chúng tôi đã cố hết sức để duy trì những tiện nghi của xã hội văn minh ở đây. Xin thứ lỗi nếu có điều gì sơ xuất. Chúng tôi đang ở một nơi hẻo lánh, ngài biết đấy. Ngài có nhận thấy là rượu sâm banh kém ngon vì phải vận chuyển qua một đoạn đường xa như thế”.

“Hoàn toàn không”, Rainsford phủ nhận. Anh xét thấy vị tướng này là một ông chủ rất chu đáo và hết sức ân cần, một con người thật sự lịch lãm. Nhưng vẫn ẩn giấu một vẻ bí hiểm gì đó ở ông ta khiến Rainsford cảm thấy bất an. Hầu như lúc nào ngước mặt lên, anh cũng đều bắt gặp ánh nhìn dò xét của y như đang đánh giá từng li từng tí người đối diện.

“Có lẽ ngài rất ngạc nhiên vì sao tôi nhận ra ngài”, Tướng Zaroff cởi mở, “Ngài biết đấy, tôi đã đọc hết tất cả các sách nói về săn bắn xuất bản ở Anh, Pháp, Nga. Tôi chỉ có một niềm đam mê duy nhất trong đời, đó là săn bắn, ngài Rainsford ạ!”.

“Ngài đã sở hữu những chiếc đầu thú tuyệt đẹp ở đây”, Rainsford thăm dò khi ăn món filet mignon (1) ngon hết ý, “Con bò rừng ở Cape là con vật lớn nhất mà tôi đã từng thấy”.

“À, con bò ấy à. Vâng, nó là một con ác thú đấy”.

“Nó đã tấn công ngài?”.

“Nó quẳng tôi vào một gốc cây”, vị tướng không giấu tự hào, “Nó làm tôi gãy xương, nhưng cuối cùng tôi đã hạ được nó”.

“Tôi luôn nghĩ rằng bò ở đảo Cape là loài nguy hiểm nhất trong các loài mãnh thú”, Rainsford nhận định.

Trong vài phút vị tướng không nói gì thêm. Đôi môi đỏ đang vẽ một nụ cười bí hiểm. Hồi lâu y chậm rãi: “Không, ngài nhầm rồi, thưa ngài. Bò rừng đảo Cape chưa phải là loài thú nguy hiểm nhất đâu”. Y nhấm nháp ly rượu của mình. “Ở đây, trong kho dự trữ  của tôi trên đảo này, còn có một loài thú nguy hiểm hơn nhiều”.

“Trên đảo này cũng có thú lớn sao?”. Rainsford ngạc nhiên.

“Thú lớn nhất”. Vị tướng gật đầu.

“Thật ư?”.

“Ồ, không phải có sẵn. Tôi phải dự trữ  trên đảo đấy chứ”.

“Ngài đã nhập khẩu loài thú nào, hổ chăng, thưa ngài?

Vị tướng mỉm cười: “Không. Vài năm trước hổ đã không còn làm tôi hứng thú nữa. Ngài biết không, tôi đã vắt kiệt khả năng của chúng. Chẳng còn chút hồi hộp nào, chẳng có chút nguy hiểm thực sự nào, mà tôi thì ưa đối đầu với sự nguy hiểm, ngài Rainsford ạ!”.

Vị tướng rút từ trong túi áo ra một hộp thuốc lá bằng vàng và mời khách một điếu màu đen dài với cái đầu lọc bằng bạc. Khói rất thơm và thoang thoảng mùi nước hoa.

“Tôi và ngài, hai ta sẽ thực hiện một cuộc săn đuổi tuyệt vời”. Y trầm giọng, “Tôi sẽ hết sức vui mừng nếu được ngài hợp tác”.

“Nhưng săn gì?”. Rainsford bắt đầu đặt nghi vấn.

“Tôi sẽ cho ngài biết sau”, Vị tướng úp mở, “Tôi biết ngài sẽ rất thích. Có thể nói không cần khiêm tốn rằng tôi đã làm một việc hi hữu. Đó là tôi đã khám phá một cảm giác mới mẻ. Cho phép tôi mời ngài một ly nữa”.

“Cảm ơn ngài”.

Vị tướng lặng lẽ rót đầy rượu vào hai chiếc ly: “Có người sinh ra để làm thi sĩ, có người làm vua và cũng có kẻ làm hành khất. Còn tôi thì Chúa bảo phải làm kẻ đi săn. Bàn tay tôi dùng để bóp cò súng, bố tôi đã nói như thế. Ông ấy là người rất giàu có, sở hữu một phần tư trong số hàng triệu mẫu đất ở Crimea. Ông cũng rất mê thể thao. Hồi tôi mới năm tuổi, ông đã tặng tôi một khẩu súng nhỏ được chế tạo một cách đặc biệt ở Matcơva để tôi bắn chim sẻ. Có lần tôi dùng nó bắn những con gà tây cưng quí của ông, ông chẳng những không trách phạt mà còn khen tôi có tài thiện xạ. Năm lên mười, tôi đã hạ con gấu đầu tiên trong đời ở Caucasus. Đời tôi là cả một chuỗi dài săn bắn. Tôi cũng đã tham gia quân đội – những chàng trai con nhà quí tộc đều thế cả – và từng có thời gian chỉ huy một sư đoàn kỵ binh Cô dắc. Nhưng trước sau niềm say mê duy nhất của tôi vẫn là săn bắn. Tôi đã săn mọi loài thú ở khắp mọi nơi. Thật khó mà kể ra hết cho ngài nghe số thú mà tôi đã bắn hạ”.

Vị tướng rít một hơi thuốc và kể tiếp:

“Sau thảm bại ở Nga (2), tôi phải rời bỏ quê hương bởi lẽ vào thời điểm đó một sĩ quan quân đội Sa hoàng mà không đào thoát thì chẳng biết chuyện gì sẽ xảy ra. Nhiều quý tộc Nga đã mất trắng. Rất may là trước đó tôi đã đầu tư khá nhiều vào các công ty bảo hiểm ở Mỹ, nhờ vậy mà tôi chẳng cần phải mở một phòng trà kiếm sống ở Monte Carlo hay lái taxi độ nhật ở Paris. Đương nhiên, tôi tiếp tục lao vào thú vui săn bắn. Gấu lớn trong dãy núi Rocky ở xứ ngài, cá sấu vùng Ganges, tê giác miền Đông Phi. Chính tại châu Phi, con bò đảo Cape ấy đã tấn công và làm tôi phải nằm liệt giường suốt sáu tháng trời đấy. Ngay sau khi bình phục, tôi tức tốc lên đường đi Amazon để săn báo đốm vì trước đó tôi từng nghe nói chúng là loài thú đặc biệt tinh khôn. Nhưng thật ra chúng chẳng tinh khôn chút nào cả. Người đàn ông Cô dắc chợt thở dài: “Chúng chẳng xứng tầm trước một thợ săn trầm tĩnh với khẩu súng trường hạng nặng. Tôi vô cùng thất vọng. Một đêm tôi nằm lì trong lều với cái đầu nhức như búa bổ thì một ý tưởng kinh khủng chợt lóe lên. Tôi từng nghe nói rằng các thương gia người Mỹ thường suy sụp tinh thần khi họ không còn có thể tiếp tục kinh doanh, công việc gắn bó với cuộc đời của họ”.

“Đúng thế, thưa ngài Zaroff”, Rainsford đồng tình.

Vị tướng mỉm cười: “Tôi không muốn bị vỡ ra từng mảnh như họ. Tôi phải làm một điều gì đó. Tôi có cái đầu phân tích. Chắc chắn đó là lý do tại sao tôi rất thích những gì liên quan đến việc săn đuổi”.

“Đúng thế, thưa ngài”.

“Vì lẽ đó”, y nói tiếp, “Tôi thường tự hỏi tại sao săn thú không còn hấp dẫn tôi nữa. Ngài còn trẻ hơn tôi nhiều, ngài Rainsford ạ! Và ngài chưa từng săn bắn nhiều như tôi, nhưng có lẽ ngài có thể đoán được câu trả lời”.

“Đó là gì?”.

“Đơn giản thôi. Săn thú không còn, như ngài nói, là một thú vui thể thao. Nó trở nên quá đơn điệu. Tôi luôn luôn tóm được con mồi không mấy khó khăn. Vâng, luôn luôn. Không còn gì đáng nhàm chán hơn sự hoàn hảo”.

Vị tướng châm thêm điếu thuốc mới: “Không một con thú nào có cơ may thoát khỏi tay tôi. Tôi không hề khoác lác đâu. Đó là một khẳng định mang tính toán học. Loài thú chẳng có gì ngoài bốn chân và bản năng. Bản năng không phải là đối thủ của lý trí. Có thể nói với ngài rằng cái giây phút tôi nghĩ đến điều này chính là cái giây phút bi đát nhất đối với tôi”.

Rainsford chồm hẳn người lên bàn, bị hút vào những điều chủ nhà đang nói.

“Nó xâm chiếm tâm hồn tôi như một nguồn cảm hứng buộc tôi phải thực hiện”.

“Vậy nó là cái gì?”. Rainsford nôn nóng.

Vị tướng mỉm nụ cười trầm tĩnh của một kẻ phải đối đầu với một chướng ngại và đã vượt qua nó. “Tôi khám phá ra một con thú săn mới”.

“Một con thú săn mới? Ngài không đùa đấy chứ?”. Rainsford hỏi dồn.

“Không hề”, vị tướng nghiêm giọng, “Tôi cần một con thú mới. Tôi đã tìm thấy. Vì thế tôi mua hòn đảo này, xây dựng cơ ngơi này và tại đây tôi tha hồ đi săn. Hòn đảo này thật lý tưởng cho mục đích của tôi – có nhiều rừng rậm và một mê lộ gồm những lối mòn chằng chịt, những ngọn đồi và những đầm lầy”.

“Nhưng còn thú vật, thưa ngài Zaroff?”.

“À”, vị tướng phấn chấn, “Nó đã mang lại cho tôi những cuộc săn bắn hào hứng nhất trên đời. Không kiểu săn bắn nào đáng để so sánh với nó dù chỉ một chút xíu thôi. Tôi đi săn hàng ngày và cho đến giờ vẫn chưa thấy chán bởi vì tôi có một con mồi ngang tầm với tôi, một con mồi mà tôi có thể đấu trí với nó”.

Vẻ hoang mang bối rối hiện dần trên mặt Rainsford.

“Tôi cần một con thú lý tưởng để săn đuổi”, vị tướng giải thích, “Vì thế tôi tự nhủ: Phẩm chất cần thiết của một con mồi lý tưởng là gì? Và câu trả lời, dĩ nhiên là phải can đảm và  mưu trí nhưng trên hết là nó phải biết suy luận”.

“Nhưng không một con thú nào biết suy luận”, Rainsford phản đối.

“Ông bạn thân mến ạ!”, vị tướng cả quyết, “Có một con biết đấy”.

“Ngài không định nói đến…”, Rainsford gắng kiềm chế.

“Tại sao không?”.

“Tôi không tin là ngài đang nói chuyện nghiêm túc, thưa ngài Zaroff. Đây là một trò đùa ghê rợn”. Rainsford đã vỡ lẽ.

“Tại sao tôi lại không nghiêm túc chứ? Tôi đang nói về săn bắn mà”.

“Săn bắn? Săn bắn? Thưa ngài Zaroff, cái mà ngài đang nói đó là trò giết người”.

Vị tướng phá lên cười với vẻ mặt hết sức đắc ý. Y nhìn Rainsford một cách đầy giễu cợt: “Tôi không muốn tin rằng một con người hiện đại và văn minh như ngài lại nuôi dưỡng cái ý tưởng lãng mạn về giá trị của mạng sống con người. Chắc chắn những gì ngài thấy được trong chiến tranh đã…”.

“Đã không cho phép tôi tha thứ cho một ý tưởng giết người man rợ”. Rainsford đanh thép kết thúc câu chuyện.

Vị tướng bật cười rung cả người: “Ngài thật là một người kỳ quặc. Ngày nay không ai nghĩ là có thể tìm thấy một chàng trai thuộc giới trí thức ở ngay trên nước Mỹ lại có một nhân sinh quan thuộc thế kỷ 19. Điều đó giống như người ta muốn tìm thấy hộp đựng bột thuốc lá hít trong chiếc xe hơi Limousine sang trọng. À, chắc chắn tổ tiên ngài là người theo đạo Tin Lành. Rất nhiều người Mỹ na ná như thế. Tôi đánh cuộc là ngài sẽ quên ngay quan điểm của ngài khi đi săn với tôi. Có một sự thích thú thật sự mới mẻ dành cho ngài, ngài Rainsford ạ!”.

“Cảm ơn ngài. Tôi là một thợ săn chứ không phải là một kẻ sát nhân”.

“Ông bạn thân mến”, vị tướng nói, vẻ bình thản, “Ngài lại thốt ra những lời khó nghe rồi. Nhưng tôi có thể chỉ cho ngài biết sự đắn đo của ngài hết sức có hại”.

“Sao?”.

“Cuộc sống dành cho kẻ mạnh, được điều khiển bởi kẻ mạnh và nếu cần bị tước đi bởi kẻ mạnh. Tôi là kẻ mạnh. Tại sao tôi không sử dụng món quà của tôi? Nếu tôi mong muốn được đi săn, tại sao lại không đi? Tôi săn những đồ cặn bã trên mặt đất này – những thủy thủ bị đắm tàu người Đông Âu, người da đen, người Trung Hoa, người da trắng, dân lai… Một con ngựa hay một con chó săn thuần chủng còn đáng giá gấp mấy mươi lần loại người đó”.

“Nhưng họ là con người”, Rainsford bực dọc.

“Chính xác là như thế”, vị tướng điềm nhiên, “Đó là lý do tại sao tôi sử dụng họ. Điều đó mang lại niềm khoan khoái cho tôi. Họ có suy luận nghĩa là họ nguy hiểm”.

“Nhưng từ đâu mà ngài có họ?”.

Mí mắt của vị tướng nhấp nháy đầy ngụ ý. “Hòn đảo này được gọi là Đảo Bẫy Tàu”, y tỉnh queo, “Thỉnh thoảng cơn giận dữ của thần biển cả đã gởi họ đến cho tôi. Đôi khi, Thượng đế không được tử tế như thế, tôi sẽ giúp Ngài một tay. Hãy đến bên cửa sổ với tôi”.

Rainsfors tiến lại cửa sổ và phóng tầm nhìn ra biển.

“Nhìn ngoài kia kìa”, vị tướng chỉ tay vào màn đêm. Rainsford chỉ nhìn thấy bóng tối dày đặc. Và rồi khi y nhấn một chiếc nút, từ xa ngoài biển Rainsford thấy những ánh đèn lóe sáng.

Vị tướng cười tủm tỉm: “Chúng báo hiệu có một eo biển nhưng thực ra nơi ấy chẳng có gì cả. Những tảng đá khổng lồ cạnh sắc như dao cạo co mình như con quái vật biển, mồm ngoác ra. Chúng có thể làm tan tành một con tàu dễ dàng như tôi chà nát vật này”. Y ném một quả óc chó lên sàn gỗ cứng và dùng gót giày xoáy mạnh lên.

“À, có chứ”, bất chợt y nói như thể đang trả lời một câu hỏi. “Tôi có sử dụng điện. Chúng tôi đang cố gắng duy trì văn minh ở đây mà”.

“Văn minh à? Và ngài sát hại con người?”.

Một ánh giận dữ lóe lên trong cặp mắt đen của vị tướng nhưng chỉ trong giây lát. Sau đó y  dịu giọng: “Ông bạn thân mến, ngài thật là một con người bộc trực. Tôi cam đoan với ngài là tôi không hề làm điều gì như ngài nói. Điều ấy có vẻ man rợ quá. Tôi đối xử với các vị khách của tôi một cách ân cần, chu đáo. Họ được ăn uống đầy đủ và luyện tập tốt. Họ đạt đến điều kiện thể lực tuyệt vời. Ngày mai ông sẽ tận mắt chứng kiến”.

“Ngài nói thế là có ý gì?”.

“Chúng ta sẽ đến thăm trường huấn luyện của tôi”, vị tướng mỉm cười, “Nó ở dưới tầng hầm. Hiện giờ tôi đang có mười mấy học viên ở đó. Tôi nhặt được họ từ cái vỏ tàu San Lucar của Tây Ban Nha, con tàu xui xẻo đâm sầm vào những tảng đá ngoài kia. Đáng tiếc là bọn ấy toàn một lũ tầm thường, những mẫu vật đáng thương quen với boong tàu hơn là với rừng già”.

Ông đưa tay lên và Ivan, như một bồi bàn thực thụ, mang cà phê đậm miền Turkish đến. Rainsford cố giữ mồm giữ miệng.

Vị tướng lấy lại vẻ ôn hòa ban đầu: “Đó là một cuộc chơi. Tôi đề nghị với một trong đám ấy chơi trò đi săn. Tôi cung cấp cho anh ta đầy đủ thức ăn và một con dao rừng tuyệt hảo. Tôi cho anh ta đi trước ba tiếng đồng hồ. Tôi sẽ theo sau, chỉ trang bị một khẩu súng lục cỡ nhỏ nhất, có tầm sát thương ngắn nhất. Nếu con mồi lẩn trốn được tôi trong vòng ba ngày là kể như anh ta đã thắng cuộc. “Nếu tôi tìm thấy anh ta”, vị tướng mỉm cười, “thì anh ta thua cuộc…”.

“Giả sử anh ta từ chối việc bị săn đuổi?”.

“À”, vị tướng đáp, “Đương nhiên tôi cho anh ta tự do chọn lựa. Anh ta không cần phải tham gia cuộc chơi nếu anh ta không muốn. Trong trường hợp ấy tôi giao anh ta cho Ivan. Ivan đã từng là một hiệp sĩ có vinh dự phục vụ Đức Sa Hoàng và anh ta có quan niệm riêng về vấn đề thể thao. Nhưng, luôn luôn, ngài Rainsford ạ, họ luôn luôn chọn trò săn đuổi”.

“Còn nếu họ thắng?”.

Nụ cười trên mặt vị tướng nở rộng. “Cho đến bây giờ tôi chưa hề thua cuộc”, y tự tin khẳng định, “Tôi không muốn ngài cho tôi là kẻ khoác lác, ngài Rainsford ạ! Nhiều người trong số họ chỉ có được trình độ sơ đẳng nhất. Tuy nhiên, cũng có một lần duy nhất tôi đuổi theo một tên bậm trợn. Suýt nữa hắn đã thắng. Tôi thậm chí phải dùng đến bầy chó”.

“Chó ư?”.

“Mời ngài đến đây, tôi chỉ cho ngài xem”.

Vị tướng dẫn Rainsford đến bên cửa sổ. Ánh đèn từ cửa sổ hắt ra thứ ánh sáng lung linh tạo nên những hình thù kỳ dị trên khoảng sân bên dưới. Rainsford có thể nhìn thấy bóng đen của khoảng mười con chó săn cao lớn di chuyển quanh sân, khi chúng hướng về phía anh, mắtt chúng ánh lên thứ màu xanh ghê rợn. “Một bầy chó săn khá tốt”, vị tướng khoe, “Mỗi tối vào lúc bảy giờ chúng được thả ra. Nếu có kẻ lạ muốn đột nhập vào hoặc tìm cách trốn ra khỏi nhà tôi thì ngay lập tức sẽ có chuyện đáng tiếc xảy đến với anh ta”.

Nói xong y ngân nga trong miệng một đoản khúc trong bài hát Folies Bergeres.

“Còn bây giờ”, y quay sang Rainsford, “Tôi muốn cho ngài xem bộ sưu tập mới của tôi. Mời ngài cùng tôi đến thư viện”.

Rainsford đáp: “Mong ngài thứ lỗi cho tôi tối nay, thưa ngài Zaroff. Tôi thực sự cảm thấy không được khỏe”.

“Ồ. Thật sao?”, vị tướng lo lắng, “À, tôi nghĩ rằng sau khi đã phải bơi một thời gian lâu như thế tất nhiên ngài khá mệt. Đêm nay ngài cần phải ngủ cho thật đẫy giấc. Ngày mai ngài sẽ cảm thấy mình như một con người mới, tôi cam đoan như thế. Và rồi chúng ta sẽ đi săn chứ? Tôi có một đối tượng khá là hứa hẹn”. Rainsford vội vã ra khỏi phòng.

“Tiếc là đêm nay ngài không đi săn với tôi được”, vị tướng nói với theo, “Tôi đang mong đợi một cuộc chơi thú vị – một tay da đen to lớn mạnh khỏe. Trông hắn lanh lợi, tháo vát lắm”.

Thôi chúc ngủ ngon, ngài Rainsford. Hy vọng ngài ngủ ngon đêm nay”.

Chiếc giường êm ái, bộ đồ ngủ được may bằng loại vải mềm mại nhất và đang mệt mỏi cùng cực nhưng Rainsford không thể nhờ giấc ngủ xoa dịu tâm trí. Anh nằm đó, mắt mở thao láo. Có lần dường như anh nghe tiếng bước chân rón rén ở hành lang bên ngoài phòng anh. Anh tông mạnh cửa. Cửa không mở. Anh đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Căn phòng anh ở trên một trong những ngọn tháp cao. Đèn trong tòa lâu đài đã tắt. Trời tối đen. Không gian im ắng. Chỉ còn một mảnh trăng vàng vọt  và nhờ ánh sáng nhợt nhạt đó anh có thể nhìn thấy lờ mờ khoảnh sân trước. Ở đó ra vào liên tục trong khuôn viên tòa lâu đài, là những hình thù đen thẫm, không phát ra tiếng động. Lũ chó săn đánh hơi thấy anh ở cửa sổ, ngước đôi mắt xanh lè nhìn lên đe dọa. Rainsford trở lại giường và nằm xuống. Bằng nhiều cách anh cố gắng dỗ giấc ngủ. Thử đến lần thứ mười hai thì trời sáng, anh nghe tiếng súng lục đâu đó trong rừng rậm mơ hồ vọng lại.

Tướng Zaroff không xuất hiện cho mãi đến bữa ăn trưa. Ông ăn vận thật tươm tất trong bộ đồ bằng vải tuýt quí phái hệt một điền chủ. Vẻ quan tâm về tình trạng sức khỏe của Rainsford, y thở dài: “Về phần tôi , tôi cũng không được khỏe. Tôi đang lo lắng, ông Rainsford ạ. Tối qua tôi lại phát hiện thấy dấu hiệu của căn bệnh cũ”.

Trả lời cho cái liếc mắt dò hỏi của Rainsford, y rầu rỉ: “Buồn chán”.

Và rồi, gắp món ăn thứ hai, y phàn nàn: “Tối qua chẳng chút thú vị . Kẻ bị săn đuổi kia đã mất trí hay sao mà cứ đi thẳng một mạch, chẳng tạo cho tôi cảm giác hưng phấn nào cả. Đó là vấn đề rắc rối đối với các tay thủy thủ này. Họ bắt đầu cuộc chơi với đầu óc mụ mẫm và họ không biết cách đi đứng để tránh bị truy đuổi trong rừng. Họ để lại những dấu vết rõ ràng một cách ngu ngốc. Đó là điều đáng thất vọng nhất. Mời ngài một ly vang trắng nữa, ngài Rainsford”.

“Thưa ngài”, Rainsford dứt khoát, “Tôi muốn rời hòn đảo này ngay tức khắc”.

Vị tướng nhướng cặp lông mày rậm, có vẻ như bị xúc phạm. “Nhưng ông bạn thân mến”, y phản đối, “Ngài chỉ vừa mới đến. Ngài chưa hề đi săn kia mà”.

“Tôi muốn đi ngay hôm nay”, Rainsford thẳng thừng. Anh nhận thấy đôi mắt đen lạnh lẽo của vị tướng đang nhìn anh, dò xét. Gương mặt ông ta chợt sáng bừng lên.

Ông rót đầy chiếc ly của Rainsford loại rượu vang trắng quý giá đựng trong cái chai ám bụi.

“Đêm nay chúng ta sẽ đi săn. Ngài và tôi”. Vị tướng gằn giọng.

Rainsford lắc đầu: “Không, thưa ngài. Tôi sẽ không tham dự đâu”.

Vị tướng nhún vai, nhỏ nhẻ nhai một quả nho: “ Tùy ngài thôi. Sự lựa chọn vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào ngài. Nhưng cho phép tôi mạo muội góp ý với ngài rằng trò thể thao của tôi vui vẻ hơn là của Ivan”.

Y hất đầu về phía góc nhà nơi gã khổng lồ có bộ mặt dữ dằn đang đứng, hai cánh tay chắc nịch vòng trên bộ ngực đồ sộ.

Rainsford nói như hét: “Ông không định nói là…”.

“Ông bạn thân mến”, vị tướng ngắt lời, “Tôi đã chẳng từng nói với ngài là tôi luôn khẳng định những gì tôi nói về săn bắn đó sao. Đây thực sự là một nguồn cảm hứng. Cuối cùng tôi đã uống rượu với một kẻ xứng đáng là đối thủ của tôi”. Y nâng ly nhưng Rainsford ngồi im, trừng mắt.

“Ngài sẽ thấy trò chơi này thật thú vị. Đầu óc ngài đối lập với tôi. Sự thông thạo rừng núi của ngài ngang ngửa với tôi. Sức mạnh và sự dẻo dai của ngài chống lại tôi. Một cuộc cờ giữa thiên nhiên. Và món cá cược không phải là không giá trị, đúng không?”.

“Còn nếu tôi thắng? Rainsford bực bội.

“Tôi sẽ vui vẻ chấp nhận thua cuộc nếu vào nửa đêm của ngày thứ ba tôi không tìm thấy ngài”, tướng Zaroff nói, “Thuyền của tôi sẽ đặt ngài lên đất liền gần một thành phố”.

Đọc được ý nghĩ của Rainsford, người đàn ông Cô dắc nói tiếp: “Ồ, ngài có thể tin tôi. Tôi sẽ giữ lời hứa của một nhà quí tộc, một nhà thể thao. Dĩ nhiên, về phần ngài, ngài phải giữ lời hứa duy nhất là không tiết lộ cuộc viếng thăm này cho bất kỳ ai ở thế giới bên ngoài”.

“Tôi chẳng việc gì phải chấp nhận một điều như thế cả”. Rainsford gằn giọng.

“À, trong trường hợp đó…”, vị tướng kiên nhẫn, “Nhưng tại sao phải bàn đến điều đó bây giờ nhỉ. Ba ngày sau chúng ta sẽ thảo luận bên chai rượu Veuve Cliquot, trừ phi…”.

Vị tướng nhấm nháp ly rượu của mình. Rồi với một vẻ nhanh nhẹn làm y chợt sinh động hẳn lên, y nói với Rainsford: “Ivan sẽ cung cấp đầy đủ y phục, thức ăn và con dao rừng cho ngài. Tôi đề nghị ngài nên mang loại giày của người da đỏ Bắc Mỹ, nó ít để lại dấu vết hơn. Tôi cũng cảnh báo thêm là ngài nên tránh vùng đầm lầy ở góc đông nam của đảo. Chúng tôi gọi nó là Đầm Lầy Chết. Có cát lầy ở đó. Một tên ngốc đã từng bỏ mạng. Điều tồi tệ là Lazarus đã phải chết cùng với gã. Ngài thử tưởng tượng tôi đau lòng biết chừng nào. Tôi rất yêu Lazarus. Đó là con chó săn giỏi nhất bầy. Vâng, bây giờ tôi phải xin lỗi ngài. Tôi luôn có thói quen nghỉ ngơi sau bữa ăn trưa. Tôi e rằng ngài khó có thể chợp mắt. Chắc chắn ngài đang nóng lòng muốn khởi hành ngay bây giờ. Tôi sẽ không theo ngài cho tới lúc chạng vạng. Đi săn vào ban đêm thú vị hơn ban ngày nhiều, ngài có nghĩ như thế không? Tạm biệt, ngài Rainsford. Tạm biệt”. Cúi chào thật thấp, thật lịch sự, tướng Zaroff thong thả rời căn phòng.

Ivan đến từ một cửa khác. Một tay gã ôm bộ quần áo săn bằng vải ka ki, một túi dết đựng thức ăn, một bao da đựng con dao rừng dài, to bản, tay kia đặt trên báng khẩu súng lục dắt ở cái thắt lưng màu đỏ sẫm vòng quanh bụng gã.

Trong hai tiếng đồng hồ, Rainsford đã lần theo con đường xuyên qua các bụi rậm. “Ta phải bình tĩnh. Phải thật bình tĩnh”, anh nghiến răng lẩm bẩm. Tâm trí anh không hề yên ổn từ khi cánh cổng của tòa lâu đài đóng sầm lại . Lúc đầu, toàn bộ ý nghĩ của anh là phải tạo được khoảng cách càng xa càng tốt giữa anh và tướng Zaroff. Vì mục đích này, anh đã chạy thục mạng như thể bị thúc bách bởi một điều gì đó giống như nỗi kinh hoàng tột độ. Bây giờ anh đã tự chủ và thay đổi cách hành động. Anh dừng lại, tự xem xét bản thân mình và hoàn cảnh hiện tại. Anh nhận thấy rằng cứ mải chạy theo đường thẳng thì chẳng ích lợi gì, chắc chắn nó sẽ dẫn anh tới biển. Anh mường tượng cái vùng nước ấy và biết rõ điều gì sẽ diễn ra ở đấy.

“Ta sẽ cho y theo dấu”. Anh lẩm bẩm và ra khỏi con đường mòn nãy giờ đã đi để len lỏi vào vùng cây cối rậm rạp. Anh thực hiện một loạt những đường vòng rắc rối, anh đi đi lại lại trên dấu vết ấy nhiều lần, nhớ lại tất cả những hiểu biết trong việc săn cáo cùng tất cả những mánh khóe của loài thú ma mảnh này. Đến đêm, toàn thân mệt mỏi, tay và mặt bị cành cây cào xước nhiều vết sau khi lọt thỏm vào một dải rừng rậm rịt. Anh biết rằng thật điên rồ nếu cứ lần mò trong rừng rậm vào ban đêm, ngay cả lúc còn khỏe khoắn. Nhu cầu nghỉ ngơi thúc đẩy và anh nghĩ: “Ta đã đóng vai một con cáo, bây giờ ta thử đóng vai con mèo trong truyện cổ tích”. Gần đó có một cái cây lớn với thân cây thật vững chãi cùng những cành cây sum sê chĩa ra. Hết sức cẩn thận để không lưu lại dấu vết nào dù nhỏ nhất, anh leo lên một nhánh chĩa ba trải mình trên một trong những cành cây to lớn để dưỡng thần. Sự nghỉ ngơi sẽ mang lại niềm tự tin mới mẻ và thậm chí một cảm giác an toàn. Anh tự nhủ, ngay đến một tay thợ săn thiện nghệ như tướng Zaroff cũng không thể theo dấu anh đến tận nơi này. Chỉ có quỷ sứ mới có thể theo những dấu vết phức tạp như thế xuyên qua rừng già vào ban đêm. Nhưng biết đâu y còn đáng sợ hơn cả quỷ sứ nữa!

Đêm tối rùng rợn trườn chậm chạp như một con rắn bị thương. Giấc ngủ không đến với Rainsford mặc dù sự im lặng chết chóc bao phủ khắp rừng già. Gần sáng khi vệt sáng xam xám quét lên bầu trời, tiếng kêu thảng thốt của một con chim hướng sự chú ý của Rainsford về phía một vật gì đang đi xuyên qua bụi rậm, tiến đến từ từ, cẩn trọng, theo đúng con đường vòng vèo mà Rainsford đã để lại. Anh ép mình xuống cành cây. Xuyên qua vòm lá dày như tấm thảm, anh quan sát… Vật đang tiến đến là một người đàn ông.

Đó chính là tướng Zaroff. Vừa đi, y vừa dán mắt xuống lối đi với một sự tập trung cao độ. Y bỗng dừng lại, gần như ngay dưới gốc cây, quỳ gối quan sát tỉ mỉ mặt đất. Một động lực nào đó thúc đẩy Rainsford định lao xuống như một con báo, nhưng anh kịp nhìn thấy tay phải của vị tướng đang cầm một vật bằng kim loại, một khẩu súng lục tự động nhỏ. Tay thợ săn lắc lắc cái đầu nhiều lần như thể đang bối rối. Rồi ông ta đứng thẳng lên, lấy từ túi ra một điếu thuốc lá đen, làn khói cùng mùi thơm hăng hắc cay nồng xộc vào mũi Rainsford.

Anh nín thở. Đôi mắt vị tướng rời mặt đất và hướng từng chút một lên thân cây. Rainsford chết cứng ở đấy. Từng thớ thịt căng ra như cái lò xo bị kéo hết cỡ. Nhưng đôi mắt sắc lẻm của gã thợ săn chợt dừng lại trước khi nhìn đến cái cành cây nơi Rainsford đang ẩn nấp. Nụ cười nở ra trên gương mặt đen sạm của vị tướng. Hết sức thong thả, y nhả một vòng khói tròn rồi quay lưng vội vã cất bước trở lại con đường cũ. Tiếng sột soạt của những bụi cây dưới gót giày bốt của y nhỏ dần, nhỏ dần.

Hơi thở bị kìm nén từ buồng phổi của Rainsford tuôn ra nóng hổi. Ý nghĩ đầu tiên làm anh cảm thấy điếng người. Xem cách vị tướng bám đuổi con mồi trong rừng vào ban đêm , có thể phát hiện những dấu vết cực nhỏ, chắc chắn y phải có một năng lực kỳ bí đặc biệt. Cơ hội đánh lạc hướng tay Cô dắc cáo già tinh quái này thật là hiếm.

Ý nghĩ thứ hai càng làm Rainsford khủng khiếp hơn. Một luồng ớn lạnh chạy khắp cơ thể. Tại sao vị tướng mỉm cười? Tại sao ông ta lại bỏ đi?

Rainsford không muốn tin những gì lý trí anh cho là đúng, nhưng sự thật quá rõ ràng, rõ ràng như bây giờ ánh mặt trời đang chiếu xuyên qua đám sương mù buổi sớm. Vị tướng đang đùa bỡn với anh. Ông ta để dành anh cho một ngày giải trí khác. Lão Cô dắc là con mèo, còn anh là con chuột. Hồi nào đến giờ, Rainsford mới thấm thía hết thế nào là cảm giác kinh hoàng.

“Mình phải thật bình tĩnh. Dứt khoát không được hoảng loạn”, Rainsford trượt xuống đất và tranh thủ lủi nhanh vào rừng sâu. Vẻ mặt cương quyết, anh buộc mình phải động não. Đi được khoảng ba trăm mét, anh dừng lại bên một thân cây to lớn đã chết khô tựa hờ vào một thân cây còn sống khác nhỏ hơn. Ném cái túi đựng thức ăn xuống đất, anh rút con dao rừng ra khỏi vỏ và bắt đầu làm việc với tất cả nghị lực của mình.

Cuối cùng, trận địa nhằm tiêu diệt tay Cô dắc hiểm ác cũng đã hoàn thành. Anh ném mình ngả xuống đằng sau một khúc cây gãy cách đó ba mươi thước. Anh không phải chờ đợi lâu. Con mèo đang trở lại để vờn tiếp con chuột.

Lần theo dấu vết với vẻ tự tin của một con chó săn điêu luyện, tướng Zaroff xuất hiện. Không vật gì thoát khỏi đôi mắt đen đang sục sạo tìm kiếm của y. Không một nhánh cỏ bị gãy, không một cành cây con bị uốn cong, không một dấu vết nào khác lạ dù là rất nhỏ hằn lên đám rêu. Gã Cô dắc quá tập trung chú mục vào bước chân rón rén của mình đến nỗi suýt nữa y đã đặt chân vào cái bẫy mà Rainsford đã làm sẵn trước khi kịp nhìn thấy nó. Bàn chân y chạm phải một cành cây to nhô ra được sử dụng như cái lẫy cò. Đáng tiếc, ngay lúc sắp chạm vào, vị tướng đánh hơi tức khắc được sự nguy hiểm và nhảy lùi lại, nhanh nhẹn như một con vượn. Nhưng y cũng không đủ nhanh để hoàn toàn thoát hiểm. Cái thân cây khô được khéo léo đặt tựa vào thân cây sống bị đốn sẵn đổ sập xuống, đập lướt vào vai của y. Nhờ nhanh như chớp nếu không y đã bị đè nát dưới thân cây ấy rồi. Y loạng choạng nhưng không bị ngã, cũng không làm rơi khẩu súng. Y đứng đấy vỗ vỗ vào chỗ vai bị đau. Còn Rainsford với nỗi kinh hãi đè nặng lồng ngực, nghe tiếng cười nhạo báng của vị tướng vang động rừng già.

“Rainsford”, Zaroff gào to, “Nếu ngài đang nghe tôi nói, tôi đoán thế, thì hãy cho phép tôi được chúc mừng ngài. Không mấy ai biết cách làm cái bẫy người kiểu dân Malaysia như ngài đâu. Tôi đi chữa vết thương của tôi đây, chỉ nhẹ thôi. Nhưng tôi sẽ trở lại, sẽ trở lại ngay đấy”.

Khi vị tướng vừa xoa chỗ vai thâm tím vừa lảo đảo bỏ đi, Rainsford lại tiếp tục cuộc chạy trốn. Một cuộc chạy trốn vô vọng mang anh đi thêm vài tiếng đồng hồ. Hoàng hôn buông xuống, rồi bóng đêm bao phủ, anh vẫn không dừng bước. Đất trở nên mềm hơn dưới gót giày của anh. Cây cối mọc nhiều hơn, dày hơn, côn trùng cắn đốt anh dữ dội hơn. Và rồi anh bước tới trước, bàn chân bỗng lún sâu xuống bùn. Anh cố giật lùi nhưng lớp bùn nhão nhoét ấy hút chặt lấy chân anh như thể một con đĩa khổng lồ. Lấy hết sức bình sinh, anh cố rút chân lên. Anh biết bây giờ mình đang ở đâu. Chính là Đầm Lầy Chết và vùng cát lầy của nó.

Bàn tay anh nắm chặt như thể thần kinh anh là một vật gì hữu hình đang bị ai đó trong bóng đêm cố giằng ra. Cái mềm mại của đất gợi cho anh một ý tưởng. Anh bước lui khỏi vùng cát lầy khoảng bốn mét và giống như loài hải ly thời tiền sử anh bắt đầu đào xới.

Rainsford đã có lần tự chôn mình ở Pháp vào cái lúc thập tử nhất sinh. Nhưng chuyến đó chỉ như một trò giải trí bình thường so với lần đào hố này. Cái hố sâu dần khi anh đứng tới vai, anh trèo lên khỏi miệng hố, nhặt một ít cây con chặt khúc rồi vót thành những cây chông nhọn. Anh cắm những cây chông xuống đáy hố, mũi nhonå chĩa lên trên. Với những ngón tay nhanh nhẹn anh bện một tấm thảm thô bằng cỏ dại và những cành cây rồi đậy lên miệng hố. Người đẫm mồ hôi, toàn thân mỏi mệt, anh thu mình sau một gốc cây bị sét đánh.

Rainsford biết kẻ săn đuổi anh đang đến. Anh nghe âm thanh nhẹ nhàng của bàn chân thoăn thoắt trên đất mềm. Làn gió nhẹ ban đêm mang đến anh mùi thơm của điếu thuốc trên môi Zaroff. Anh cảm thấy dường như tên sát nhân đang lướt tới với một sự nhanh nhẹn khác thường. Anh không cảm thấy được từng bước chân của y. Thu mình ở nơi ẩn náu, Rainsford không thể trông thấy vị tướng, cũng không thấy cái hố. Một phút mà anh tưởng chừng cả một năm. Và rồi anh cảm thấy một sự thôi thúc muốn hét lên vui mừng khi nghe tiếng gãy răng rắc của những cành cây lúc tấm thảm phủ miệng hố bị đạp lên. Anh nghe tiếng thét đau đớn báo hiệu những mũi chông đã trúng đích. Anh định nhảy ra khỏi nơi ẩn nấp, nhưng kịp lùi lại ngay. Cách miệng hố chừng ba mét, người đàn ông đang đứng với ngọn đuốc điện trong tay.

“Ngài giỏi lắm, Rainsford ạ!”, vị tướng tán thưởng, “Cái hố bẫy cọp kiểu Miến Điện đã làm chết một trong những chú chó săn giỏi nhất của tôi. Ngài lại ghi thêm một bàn thắng ngoạn mục nữa. Tôi nghĩ . Rainsford ạ, xem ngài sẽ phải làm gì để chiến đấu với bầy chó của tôi. Tôi về nghỉ đây. Cảm ơn ngài vì một buổi tối thú vị nhất”.

Vào rạng sáng, đang nằm cạnh đầm lầy, Rainsford bị đánh thức bởi một âm thanh khiến anh nhận ra rằng anh đang nếm trải một nỗi hãi sợ chưa từng có. Âm thanh vọng đến từ xa, còn yếu ớt mơ hồ, nhưng anh biết rất rõ. Đó là tiếng sủa của một bầy chó săn.

Rainsford hiểu anh có thể làm một trong hai điều. Một là ngồi yên chờ chết, đồng nghĩa với tự sát. Hai là cao chạy xa bay. Việc này không thể trì hoãn. Trong khoảnh khắc đứng yên suy nghĩ, một y tưởng táo bạo khác đã đến với anh. Cột chặt dây nịt, anh biến nhanh ra khỏi vùng đầm lầy.

Tiếng chó sủa càng lúc càng gần, rồi gần hơn, gần hơn nữa. Trên một rẻo đất cao, Rainsford trèo lên cây. Dưới con suối cách đó chưa đến một phần tư dặm, những bụi cây xao động. Căng mắt ra nhìn, anh thấy hình dáng chắc nịch của vị tướng. Ngay phía trước ông ta, Rainsford phát hiện một hình dáng khác với đôi vai rộng đang len qua đám cỏ rừng cao. Chính là gã khổng lồ Ivan. Anh ta dường như bị kéo về trước bởi một lực vô hình. Rainsford đoán rằng Ivan đang kiềm chế lũ chó.

Vài phút nữa chúng sẽ vồ lấy anh. Đầu óc Rainsford căng thẳng cực độ. Anh nhớ đến một kiểu bẫy chó của thổ dân mà anh đã học được ở Uganda. Anh trượt khỏi cây. Giữ chặt một cành cây con dẻo dai, cột con dao rừng vào đấy, mũi dao chĩa xuống đất, anh buộc nhánh cây ngược trở lại bằng một sợi dây nho dại. Rồi thật nhanh, anh chạy trốn. Bầy chó sủa rộ lên khi đánh hơi thấy mùi lạ. Bây giờ Rainsford mới thấu hiểu được cảm giác của một con thú cùng đường.

Anh phải dừng lại để thở. Tiếng sủa của bầy chó đột ngột ngừng lại và tim Rainsford dường như cũng ngừng đập theo. Chắc chúng đã đến chỗ con dao.

Anh hồi hộp leo lên một thân cây và nhìn lui. Những kẻ săn đuổi anh đã dừng lại. Nhưng niềm hy vọng lóe lên khi Rainsford trèo lên cây đã tắt ngấm vì anh nhìn thấy trong lòng thung lũng cạn tướng Zaroff vẫn đứng yên. Nhưng Ivan thì không. Con dao, nhờ cành cây bật lại như chiếc lò xo đã không hoàn toàn mất tác dụng.

Rainsford suýt ngã nhào xuống đất khi bầy chó lại sủa vang.

“Bình tĩnh, bình tĩnh, bình tĩnh”. Anh thở hổn hển khi lao về phía trước. Một khoảng trống màu xanh lộ ra giữa những thân cây khô. Bầy chó săn đã đến quá gần. Rainsford ráng sức chạy thục mạng về phía khoảng trống đó. Anh đã đến nơi. Đó là bờ biển. Ngang qua một cái vịnh nhỏ, anh trông thấy màu đá xám xịt buồn tẻ của tòa lâu đài. Cách sáu mét dưới chân anh, biển đang ầm ào rít lên. Rainsford do dự. Anh nghe tiếng bầy chó. Thế rồi anh nhào xuống biển.

Khi cùng bầy chó đến gần biển, người đàn ông Cô dắc dừng lại. Trong vài phút y nhìn biển nước xanh mênh mông. Y nhún vai rồi ngồi xuống, uống một hớp rượu Brandy trong cái bình cổ cong bằng bạc, đốt một điếu thuốc và thì thầm vài câu trong bài hát Madame Butterfly.

Tối hôm đó, tướng Zaroff đã thưởng thức bữa ăn tuyệt ngon trong cái phòng ăn lớn. Y uống một chai Pol Roger và nửa chai Chambertin. Có hai điều khiến y không hoàn toàn hài lòng. Một là khó kiếm được người thay thế Ivan, hai là con mồi đã thoát khỏi tay y, chuyện chưa từng xảy ra, dĩ nhiên tay người Mỹ ấy đã không chấp nhận cuộc chơi – Vị tướng nghĩ thế khi nhâm nhi chút rượu mùi sau bữa ăn tối.

Trong thư viện, Zaroff đọc sách, tự an ủi mình bằng các kiệt tác của Marcus Aurelius. Đến mười giờ, y lên phòng ngủ. Khá mệt, vị tướng tự nhủ như thế khi đã vào phòng và khóa cửa lại. Thấy có chút ánh trăng, nên trước khi bật đèn, y đến bên cửa sổ nhìn xuống khoảng sân trước của tòa lâu đài. Trông thấy bầy chó săn, y kêu lớn: “Lần sau sẽ may mắn hơn nhé!” rồi y bật công tắc.

Một người đàn ông nãy giờ  núp sau bức màn giường ngủ, vẫn còn đứng đó.

“Rainsford”, vị tướng thét lớn, “Làm thế nào ngài đến được đây?”.

“Tôi bơi”, Rainsford mỉa mai, “Tôi nhận thấy bơi nhanh hơn là đi bộ trong rừng”.

Vị tướng thở thật sâu và mỉm cười: “Chúc mừng ngài. Ngài đã thắng”.

Rainsford không cười: “Tôi vẫn đang là một con thú cùng đường”. Anh đanh giọng: “Hãy chuẩn bị đi, ngài Zaroff”.

Vị tướng cúi chào thật thấp. “Tôi hiểu”, y đáp, “Tốt lắm. Một trong hai chúng ta sẽ là   bữa ăn của bầy chó dưới kia. Người còn lại sẽ ngủ trên chiếc giường tuyệt vời này. Hãy coi chừng, Rainsford”.

Chưa bao giờ được nằm trên một chiếc giường êm ái đến thế. Rainsford ra tay chớp nhoáng.

Một ánh giận dữ lóe lên trong cặp mắt đen của vị tướng nhưng chỉ trong giây lát. Sau đó y dịu giọng: “Ông bạn thân mến, ngài thật là một con người bộc trực. Tôi cam đoan với ngài là tôi không hề làm điều gì như ngài nói. Điều ấy có vẻ man rợ quá. Tôi đối xử với các vị khách của mình một cách ân cần, chu đáo. Họ được ăn uống đầy đủ và luyện tập tốt. Họ đạt đến điều kiện thể lực tuyệt vời. Ngày mai ông sẽ tận mắt chứng kiến”.

“Ngài nói thế là có ý gì?”.

“Chúng ta sẽ đến thăm trường huấn luyện của tôi”, vị tướng mỉm cười, “Nó ở dưới tầng hầm. Hiện giờ tôi đang có mười mấy học viên ở đó. Tôi nhặt được họ từ cái vỏ tàu San Lucar của Tây Ban Nha, con tàu xui xẻo đâm sầm vào những tảng đá ngoài kia. Đáng tiếc là bọn ấy toàn một lũ tầm thường, những mẫu vật đáng thương quen với boong tàu hơn là với rừng già”.

Ông đưa tay lên và Ivan, như một bồi bàn thực thụ, mang cà phê đậm miền Turkish đến. Rainsford cố giữ mồm giữ miệng.

Vị tướng lấy lại vẻ ôn hòa ban đầu: “Đó là một cuộc chơi. Tôi đề nghị với một trong đám ấy chơi trò đi săn. Tôi cung cấp cho anh ta đầy đủ thức ăn và một con dao rừng tuyệt hảo. Tôi cho anh ta đi

trước ba tiếng đồng hồ. Tôi sẽ theo sau, chỉ trang bị một khẩu súng

lục cỡ nhỏ nhất, có tầm sát thương ngắn nhất. Nếu con mồi lẩn trốn được tôi trong vòng ba ngày là kể như anh ta đã thắng cuộc. “Nếu tôi tìm thấy anh ta”, vị tướng mỉm cười, “thì anh ta thua cuộc…”.

“Giả sử anh ta từ chối việc bị săn đuổi?”.

“À”, vị tướng đáp, “Đương nhiên tôi cho anh ta tự do chọn lựa. Anh ta không cần phải tham gia cuộc chơi nếu anh ta không muốn. Trong trường hợp ấy tôi giao anh ta cho Ivan. Ivan đã từng là một hiệp sĩ có vinh dự phục vụ Đức Sa Hoàng và anh ta có quan niệm riêng về vấn đề thể thao. Nhưng, luôn luôn, ngài Rainsford ạ, họ luôn luôn chọn trò săn đuổi”.

“Còn nếu họ thắng?”.

Nụ cười trên mặt vị tướng nở rộng. “Cho đến bây giờ tôi chưa hề thua cuộc”, ông ta tự tin khẳng định, “Tôi không muốn ngài cho tôi là kẻ khoác lác, ngài Rainsford ạ! Nhiều người trong số họ chỉ có được trình độ sơ đẳng nhất. Tuy nhiên, cũng có một lần duy nhất tôi đuổi theo một tên bậm trợn. Suýt nữa hắn đã thắng nếu tôi không kịp dùng đến bầy chó”.

“Chó ư?”.

“Mời ngài đến đây, tôi chỉ cho ngài xem”.

Vị tướng dẫn Rainsford đến bên cửa sổ. Ánh đèn từ cửa sổ hắt ra thứ ánh sáng lung linh tạo nên những hình thù kỳ dị trên khoảng sân bên dưới. Rainsford có thể nhìn thấy bóng đen của khoảng mười con chó săn cao lớn di chuyển quanh sân, khi chúng hướng về phía anh, mắt chúng long lên thứ màu xanh ghê rợn. “Một bầy chó săn khá tốt đấy chứ?”, vị tướng khoe, “Mỗi tối vào lúc bảy giờ chúng được thả ra. Nếu có kẻ lạ muốn đột nhập vào hoặc tìm cách trốn ra khỏi nhà tôi thì ngay lập tức sẽ có chuyện đáng tiếc xảy đến với anh ta”.

Nói xong vị tướng ngân nga trong miệng một đoản khúc trong bài hát Folies Bergeres.

“Còn bây giờ”, ông ta quay sang Rainsford, “Tôi muốn cho ngài xem bộ sưu tập mới của tôi. Mời ngài cùng tôi đến thư viện”.

Rainsford đáp: “Mong ngài thứ lỗi cho tôi tối nay, thưa ngài Zaroff. Tôi thực sự cảm thấy không được khỏe”.

“Ồ. Thật sao?”, vị tướng lo lắng, “À, tôi nghĩ rằng sau khi đã phải bơi một thời gian lâu như thế tất nhiên ngài khá mệt. Đêm nay ngài cần phải ngủ cho thật đẫy giấc. Ngày mai ngài sẽ cảm thấy mình như một con người mới, tôi cam đoan như thế. Và rồi chúng ta sẽ đi săn chứ? Tôi có một đối tượng khá là hứa hẹn”. Rainsford vội

vã ra khỏi phòng.

“Tiếc là đêm nay ngài không đi săn với tôi được”, vị tướng nói với theo, “Tôi đành mong đợi một cuộc chơi thú vị khác – một tay da đen to lớn mạnh khỏe. Trông hắn lanh lợi, tháo vát lắm”.

Thôi chúc ngủ ngon, ngài Rainsford. Hy vọng ngài sẽ đánh một giấc tới sáng”.

Chiếc giường êm ái, bộ đồ ngủ được may bằng loại vải mềm mại

nhất và đang mệt mỏi cùng cực, nhưng Rainsford không thể nào chợp mắt được. Anh nằm đó, hai mắt thao láo. Có lần dường như anh nghe tiếng bước chân rón rén  bên ngoài phòng anh. Anh tông mạnh cửa. Cửa không mở. Anh đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Căn phòng anh ở trên một trong những ngọn tháp cao. Đèn trong tòa lâu đài đã tắt. Trời tối đen. Không gian im ắng. Chỉ còn một mảnh trăng vàng vọt  và nhờ ánh sáng nhợt nhạt đó anh có thể nhìn thấy lờ mờ khoảnh sân trước. Ở đó ra vào liên tục trong khuôn viên tòa lâu đài, là những hình thù đen thẫm, không phát ra tiếng động. Lũ chó săn đánh hơi thấy anh ở cửa sổ, ngước đôi mắt xanh lè nhìn lên đe dọa. Rainsford trở lại giường và nằm xuống. Bằng nhiều cách anh cố gắng dỗ giấc ngủ. Thử đến lần thứ mười hai thì trời sáng, anh nghe tiếng súng lục đâu đó trong rừng rậm mơ hồ vọng lại.

Tướng Zaroff không xuất hiện cho mãi đến bữa ăn trưa. Ông ăn vận thật tươm tất trong bộ đồ bằng vải tuýt quí phái hệt một đại điền chủ. Vẻ quan tâm về tình trạng sức khỏe của Rainsford, y thở dài: “Về phần tôi, tôi cũng không được khỏe. Tôi đang lo lắng, ngài  Rainsford ạ. Tối qua tôi lại phát hiện thấy dấu hiệu của căn bệnh cũ”.

Trả lời cho cái liếc mắt dò hỏi của Rainsford, vị tướng rầu rỉ: “Buồn chán”.

Và rồi, gắp món ăn thứ hai, y phàn nàn: “Tối qua chẳng chút thú vị. Kẻ bị săn đuổi kia đã mất trí hay sao mà cứ đi thẳng một mạch, chẳng tạo cho tôi cảm giác hưng phấn nào cả. Đó là vấn đề rắc rối đối với các tay thủy thủ này. Họ bắt đầu cuộc chơi với cái đầu mụ mẫm và họ không biết cách đi đứng để tránh bị truy đuổi trong rừng. Họ để lại những dấu vết rõ ràng một cách ngu ngốc. Đó là điều đáng thất vọng nhất. Mời ngài một ly vang trắng nữa, ngài Rainsford”.

“Thưa ngài”, Rainsford dứt khoát, “Tôi muốn rời hòn đảo này ngay bây giờ”.

Vị tướng nhướng cặp lông mày rậm, có vẻ như bị xúc phạm.

“Nhưng ông bạn thân mến”, ông ta phản đối, “Ngài chỉ vừa

mới đến. Ngài chưa hề đi săn kia mà”.

“Tôi muốn đi ngay hôm nay”, Rainsford thẳng thừng. Anh nhận thấy đôi mắt đen lạnh lẽo của vị tướng đang nhìn anh, dò xét. Gương mặt ông ta chợt sáng bừng lên.

Ông ta rót đầy chiếc ly của Rainsford loại rượu vang trắng quý giá đựng trong cái chai ám bụi.

“Đêm nay chúng ta sẽ đi săn. Ngài và tôi”. Vị tướng gằn giọng.

Rainsford lắc đầu: “Không, thưa ngài. Tôi sẽ không tham dự đâu”.

Vị tướng nhún vai, nhỏ nhẻ nhai một quả nho: “Tùy ngài thôi. Sự lựa chọn vẫn hoàn toàn tùy thuộc vào ngài. Nhưng cho phép tôi mạo muội nhắc nhở ngài rằng trò thể thao của tôi vui vẻ hơn là của Ivan đấy”.

Ông ta hất đầu về phía góc nhà nơi gã khổng lồ có bộ mặt dữ dằn đang đứng, hai cánh tay chắc nịch vòng trên bộ ngực đồ sộ.

Rainsford nói như hét: “Ngài không định nói là…”.

“Ông bạn thân mến”, vị tướng ngắt lời, “Tôi đã chẳng từng nói với ngài là tôi luôn khẳng định những gì tôi nói về săn bắn đó sao. Đây thực sự là một nguồn cảm hứng. Cuối cùng tôi đã uống rượu với một kẻ xứng đáng là đối thủ của tôi”. Y nâng ly nhưng Rainsford ngồi im, trừng mắt.

“Ngài sẽ thấy trò chơi này thật thú vị. Đầu óc ngài đối lập với tôi. Sự thông thạo rừng núi của ngài ngang ngửa với tôi. Sức mạnh và sự dẻo dai của ngài cân xứng tôi. Một canh bạc giữa thiên nhiên. Và món cá cược không phải là không giá trị, đúng không?”.

“Còn nếu tôi thắng?”. Rainsford bực bội.

“Tĩi sẽ vui vẻ chấp nhận thua cuộc nếu vào nửa đêm của ngày thứ ba tôi không tìm thấy ngài”, tướng Zaroff nói, “Thuyền của tôi sẽ đưa ngài về một thành phố trong đất liền”.

Đọc được ý nghĩ của Rainsford, người đàn ông Cô dắc nói tiếp: “Ồ, ngài có thể tin tôi. Tôi sẽ giữ lời hứa của một nhà quí tộc, một nhà thể thao. Dĩ nhiên, về phần ngài, ngài phải giữ lời hứa duy nhất là không tiết lộ cuộc viếng thăm này cho bất kỳ ai ở thế giới bên ngoài”.

“Tôi chẳng việc gì phải chấp nhận một điều như thế cả”. Rainsford gằn giọng.

“À, trong trường hợp đó…”, vị tướng kiên nhẫn, “Nhưng tại sao phải bàn đến điều đó bây giờ nhỉ. Ba ngày sau chúng ta sẽ thảo luận

bên chai rượu Veuve Cliquot, trừ phi…”.

Vị tướng nhấm nháp ly rượu của mình. Rồi với một vẻ nhanh

nhẹn làm ông ta chợt sinh động hẳn lên: “Ivan sẽ cung cấp đầy đủ

y phục, thức ăn và con dao rừng cho ngài. Tôi đề nghị ngài nên mang loại giày của người da đỏ Bắc Mỹ, nó ít để lại dấu vết hơn. Tôi cũng cảnh báo thêm là ngài nên tránh vùng đầm lầy ở góc đông nam của đảo. Chúng tôi gọi nó là Đầm Lầy Chết. Có cát lầy ở đó. Một tên ngốc đã từng bỏ mạng. Điều tồi tệ là Lazarus đã phải chết cùng với gã. Ngài thử tưởng tượng tôi đau lòng biết chừng nào. Tôi rất yêu Lazarus. Đó là con chó săn giỏi nhất bầy. Vâng, bây giờ tôi phải xin lỗi ngài. Tôi luôn có thói quen nghỉ ngơi sau bữa ăn trưa. Tôi e rằng ngài khó có thể chợp mắt. Chắc chắn ngài đang nóng lòng muốn khởi hành ngay bây giờ. Tôi sẽ không theo ngài cho tới lúc chạng vạng. Đi săn vào ban đêm thú vị hơn ban ngày nhiều, ngài có nghĩ như thế không? Tạm biệt, ngài Rainsford. Tạm biệt”. Cúi chào thật thấp, thật lịch sự, tướng Zaroff thong thả rời căn phòng.

Ivan đến từ một cửa khác. Một tay gã ôm bộ quần áo săn bằng vải ka ki, một túi dết đựng thức ăn, một bao da đựng con dao rừng dài, to bản, tay kia đặt trên báng khẩu súng lục dắt ở cái thắt lưng màu đỏ sẫm vòng quanh bụng gã.

* * *

rong hai tiếng đồng hồ, Rainsford đã lần theo con đường xuyên qua các bụi rậm. “Ta phải bình tĩnh. Phải thật bình tĩnh”, anh nghiến răng lẩm bẩm. Tâm trí anh không hề yên ổn từ khi cánh cổng của tòa lâu đài đóng sầm lại. Lúc đầu, toàn bộ ý nghĩ của anh là phải tạo được khoảng cách càng xa càng tốt giữa anh và tên sát nhân Zaroff. Vì mục đích này, anh đã chạy thục mạng như thể bị thúc bách bởi một điều gì đó giống như nỗi kinh hoàng tột độ. Bây giờ anh đã tự chủ và thay đổi cách hành động. Anh dừng lại, tự xem xét bản thân mình và hoàn cảnh hiện tại. Anh nhận thấy rằng cứ chạy theo đường thẳng thì chẳng ích lợi gì, chắc chắn nó sẽ dẫn anh tới biển. Anh mường tượng cái vùng nước ấy và biết rõ điều gì sẽ diễn ra ở đấy.

“Ta sẽ cho y theo dấu”. Anh lẩm bẩm và ra khỏi con đường mòn nãy giờ đã đi để len lỏi vào vùng cây cối rậm rạp. Anh thực hiện một loạt những đường vòng rắc rối, anh đi đi lại lại trên dấu vết ấy nhiều lần, nhớ lại tất cả những hiểu biết trong việc săn cáo cùng tất cả những mánh khóe của loài thú ma mãnh này. Đến đêm, toàn thân mệt nhừ, tay và mặt bị cành cây cào xước nhiều vết sau khi lọt thỏm vào một dải rừng rậm rịt. Anh biết rằng thật điên rồ nếu cứ lần

mò trong rừng rậm vào ban đêm, ngay cả lúc còn khỏe khoắn. Nhu

cầu nghỉ ngơi thúc đẩy và anh nghĩ: “Ta đã đóng vai một con cáo, bây giờ ta thử đóng vai con mèo trong truyện cổ tích”. Gần đó có một cái cây lớn với thân cây thật vững chãi cùng những cành cây sum sê chĩa ra. Hết sức cẩn thận để không lưu lại dấu vết nào dù nhỏ nhất, anh leo lên một nhánh chĩa ba trải mình trên một trong những cành cây to lớn để dưỡng thần. Sự nghỉ ngơi sẽ mang lại niềm tự tin mới mẻ và thậm chí một cảm giác an toàn. Anh tự nhủ, ngay đến một tay thợ săn thiện nghệ như tướng Zaroff cũng không thể theo dấu anh đến tận nơi này. Chỉ có quỷ sứ mới có thể lần theo những dấu vết phức tạp như thế xuyên qua rừng già vào ban đêm. Nhưng biết đâu y còn đáng sợ hơn cả quỷ sứ nữa!

Đêm tối rùng rợn trườn mình chậm chạp như một con rắn bị thương. Giấc ngủ không đến với Rainsford mặc dù sự im lặng chết chóc bao phủ khắp rừng già. Gần sáng, khi vệt sáng xam xám quét lên bầu trời, tiếng kêu thảng thốt của một con chim hướng sự chú ý của Rainsford về phía một vật gì đang đi xuyên qua bụi rậm, tiến đến từ từ, cẩn trọng, theo đúng con đường vòng vèo mà Rainsford đã để lại. Anh ép mình xuống cành cây. Xuyên qua vòm lá dày như tấm thảm, anh quan sát… Vật đang tiến đến là một người đàn ông.

Đó chính là  Zaroff. Vừa đi, y vừa dán mắt xuống lối đi với một sự tập trung cao độ. Y bỗng dừng lại, gần như ngay dưới gốc cây, quỳ gối quan sát tỉ mỉ mặt đất. Một động lực nào đó thúc đẩy Rainsford định lao xuống như một con báo, nhưng anh kịp nhìn thấy tay phải của gã sát nhân đang cầm một vật bằng kim loại, một khẩu súng lục tự động nhỏ. Tay săn người lắc lắc cái đầu nhiều lần như thể đang bối rối. Rồi y đứng thẳng lên, lấy từ túi ra một điếu thuốc lá đen, làn khói cùng mùi thơm hăng hắc cay nồng xộc vào mũi Rainsford.

Anh nín thở. Đôi mắt Zaroff rời mặt đất và hướng từng chút một lên thân cây. Rainsford chết cứng ở đấy. Từng thớ thịt căng ra như cái lò xo bị kéo hết cỡ. Nhưng đôi mắt sắc lẻm của gã quái vật chợt dừng lại trước khi nhìn đến cái cành cây nơi anh đang ẩn nấp. Nụ cười nở ra trên gương mặt đen sạm. Hết sức thong thả, y nhả một vòng khói tròn rồi quay lưng vội vã cất bước trở lại con đường cũ. Tiếng sột soạt của những bụi cây dưới gót giày bốt của y nhỏ dần, nhỏ dần.

Hơi thở bị kìm nén từ buồng phổi của Rainsford tuôn ra nóng hổi. Ý nghĩ đầu tiên làm anh cảm thấy điếng người. Xem cách tay săn người bám đuổi con mồi trong rừng vào ban đêm, có thể phát hiện những dấu vết cực nhỏ, chắc chắn y phải có một năng lực kỳ bí đặc biệt. Cơ hội đánh lạc hướng tay Cô dắc cáo già tinh quái này thật là hiếm.

Ý nghĩ thứ hai càng làm Rainsford khủng khiếp hơn. Một cảm giác ớn lạnh chạy khắp cơ thể. Tại sao Zaroff mỉm cười? Tại sao y lại bỏ đi?

Rainsford không muốn tin những gì lý trí anh cho là đúng, nhưng sự thật quá rõ ràng, rõ ràng như bây giờ ánh mặt trời đang chiếu xuyên qua đám sương mù buổi sớm. Gã sát nhân đang bỡn cợt với anh. Y để dành anh cho một ngày giải trí khác. Tay Cô dắc là con mèo, còn anh là con chuột. Hồi nào đến giờ, Rainsford mới thấm thía hết thế nào là cảm giác kinh hoàng.

“Mình phải thật bình tĩnh. Dứt khoát không được hoảng loạn”, Rainsford trượt xuống đất và tranh thủ lủi nhanh vào rừng sâu. Vẻ mặt cương quyết, anh buộc mình phải động não. Đi được khoảng ba trăm mét, anh dừng lại bên một thân cây to lớn đã chết khô tựa hờ vào một thân cây còn sống khác nhỏ hơn. Ném cái túi đựng thức ăn xuống đất, anh rút con dao rừng ra khỏi vỏ và bắt đầu làm việc với tất cả nghị lực của mình.

Cuối cùng, trận địa nhằm tiêu diệt tay Cô dắc hiểm ác cũng đã hoàn thành. Anh ném mình ngả xuống đằng sau một khúc cây gãy cách đó ba mươi thước. Anh không phải chờ đợi lâu. Con mèo đang trở lại để vờn tiếp con chuột.

Lần theo dấu vết với vẻ tự tin của một con chó săn điêu luyện,   Zaroff xuất hiện. Không vật gì thoát khỏi đôi mắt đen đang sục sạo tìm kiếm của y. Không một nhánh cỏ bị gãy, không một cành cây con bị uốn cong, không một dấu vết nào khác lạ dù là rất nhỏ hằn lên đám rêu. Gã Cô dắc quá tập trung chú mục vào bước chân rón rén của mình đến nỗi suýt nữa y đã đặt chân vào cái bẫy mà Rainsford đã làm sẵn trước khi kịp nhìn thấy nó. Bàn chân y chạm phải một cành cây to nhô ra được sử dụng như cái lẫy cò. Đáng tiếc, ngay lúc sắp chạm vào, y đánh hơi tức khắc được sự nguy hiểm và nhảy lùi lại, nhanh nhẹn như một con vượn. Nhưng y cũng không đủ nhanh để hoàn toàn thoát hiểm. Cái thân cây khô được khéo léo đặt tựa vào thân cây sống bị đốn sẵn đổ ập xuống, đập lướt vào bờ vai của y. Nhờ nhanh như chớp nếu không y đã bị đè nát dưới thân cây ấy rồi. Y loạng choạng nhưng không bị ngã, cũng không làm rơi khẩu súng. Y đứng đấy vỗ vỗ vào chỗ vai bị đau. Còn Rainsford với nỗi kinh hãi đè nặng lồng ngực, nghe tiếng cười nhạo báng của con quỉ khát máu vang động rừng già.

“Rainsford”, Zaroff gào to, “Nếu ngài đang nghe tôi nói, tôi

đoán thế, thì hãy cho phép tôi được chúc mừng ngài. Không mấy ai biết cách làm cái bẫy người kiểu dân Malaysia như ngài đâu. Tôi đi chữa vết thương của tôi đây, chỉ nhẹ thôi. Nhưng tôi sẽ trở lại, sẽ trở lại ngay đấy”.

Khi Zaroff vừa xoa chỗ vai sưng vù vừa lảo đảo bỏ đi, Rainsford

lại tiếp tục cuộc chạy trốn. Một cuộc chạy trốn vô vọng mang anh đi thêm vài tiếng đồng hồ. Hoàng hôn buông xuống, rồi bóng đêm bao phủ, anh vẫn không dừng bước. Đất trở nên mềm hơn dưới gót giày của anh. Cây cối mọc nhiều hơn, dày hơn, côn trùng cắn đốt anh dữ dội hơn. Và rồi anh bước tới trước, bàn chân bỗng lún sâu xuống bùn. Anh cố giật lùi nhưng lớp bùn nhão nhoét ấy hút chặt lấy chân anh như thể một con đĩa khổng lồ. Lấy hết sức bình sinh, anh cố rút chân lên. Anh biết bây giờ mình đang ở đâu. Chính là Đầm Lầy Chết và vùng cát lầy của nó.

Bàn tay anh nắm chặt như thể thần kinh anh là một vật gì hữu hình đang bị ai đó trong bóng đêm cố giằng ra. Cái mềm mại của đất gợi cho anh một ý tưởng. Anh bước lui khỏi vùng cát lầy khoảng bốn mét và giống như loài hải ly thời tiền sử anh bắt đầu đào xới.

Rainsford đã có lần tự chôn mình ở Pháp vào cái lúc thập tử nhất sinh. Nhưng chuyến đó chỉ như một trò giải trí bình thường so với lần đào hố này. Cái hố sâu dần khi anh đứng tới vai, anh trèo lên khỏi miệng hố, nhặt một ít cây con chặt khúc rồi vót thành những cây chông nhọn. Anh cắm những cây chông xuống đáy hố, mũi nhonå chĩa lên trên. Với những ngón tay nhanh nhẹn anh bện một tấm thảm thô bằng cỏ dại và những cành cây rồi đậy lên miệng hố. Người đẫm mồ hôi, toàn thân bải hoải, anh thu mình sau một gốc cây bị sét đánh.

Rainsford biết kẻ săn đuổi anh đang đến. Anh nghe âm thanh nhẹ nhàng của bàn chân thoăn thoắt trên đất mềm. Làn gió nhẹ ban đêm mang đến anh mùi thơm của điếu thuốc trên môi Zaroff. Anh cảm thấy dường như tên sát nhân đang lướt tới với một sự nhanh nhẹn khác thường. Anh không cảm thấy được từng bước chân của y. Thu mình ở nơi ẩn náu, Rainsford không thể trông thấy y, cũng không thấy cái hố. Một phút mà anh tưởng chừng cả một năm. Và rồi anh cảm thấy một sự thôi thúc muốn hét lên vui mừng khi nghe tiếng gãy răng rắc của những cành cây lúc tấm thảm phủ miệng hố bị đạp lên. Anh nghe tiếng thét đau đớn báo hiệu những mũi chông đã trúng đích. Anh định nhảy ra khỏi nơi ẩn nấp, nhưng kịp lùi lại ngay. Cách miệng hố chừng ba mét, người đàn ông đang đứng

với ngọn đuốc điện trong tay.

“Ngài giỏi lắm, Rainsford ạ!”, Zaroff tán thưởng, “Cái hố bẫy cọp kiểu Miến Điện đã làm chết một trong những chú chó săn giỏi nhất của tôi. Ngài lại ghi thêm một bàn thắng ngoạn mục nữa. Tôi nghĩ. Rainsford ạ, xem ngài sẽ phải làm gì để chiến đấu với bầy chó của tôi. Tôi về nghỉ đây. Cảm ơn ngài vì một buổi tối thú vị nhất”.

Vào rạng sáng, đang nằm cạnh đầm lầy, Rainsford bị đánh thức bởi một âm thanh khiến anh nhận ra rằng anh đang nếm trải một nỗi hãi sợ chưa từng có. Âm thanh vọng đến từ xa, còn yếu ớt mơ hồ, nhưng anh biết rất rõ. Đó là tiếng sủa của một bầy chó săn.

Rainsford hiểu anh có thể làm một trong hai điều. Một là ngồi yên chờ chết, đồng nghĩa với tự sát. Hai là cao chạy xa bay. Việc này không thể trì hoãn. Trong khoảnh khắc đứng yên suy nghĩ, một ý tưởng táo bạo khác đã đến với anh. Cột chặt dây nịt, anh biến nhanh ra khỏi vùng đầm lầy.

Tiếng chó sủa càng lúc càng gần, rồi gần hơn, gần hơn nữa. Trên một rẻo đất cao, Rainsford trèo lên cây. Dưới con suối cách đó chưa đến một phần tư dặm, những bụi cây xao động. Căng mắt ra nhìn, anh thấy hình dáng chắc nịch của Zaroff. Ngay phía trước mặt y, Rainsford phát hiện một hình dáng khác với đôi vai to bè đang len qua đám cỏ rừng cao. Chính là gã khổng lồ Ivan. Anh ta dường như bị kéo về trước bởi một lực vô hình. Rainsford đoán rằng Ivan đang kiềm chế lũ chó săn.

Vài phút nữa chúng sẽ vồ lấy anh. Đầu óc Rainsford căng thẳng cực độ. Anh nhớ đến một kiểu bẫy chó của thổ dân mà anh đã học được ở Uganda. Anh trượt khỏi cây. Giữ chặt một cành cây con dẻo dai, cột con dao rừng vào đấy, mũi dao chĩa xuống đất, anh buộc nhánh cây ngược trở lại bằng một sợi dây nho dại. Rồi thật nhanh, anh chạy trốn. Bầy chó sủa rộ lên khi đánh hơi thấy mùi lạ. Bây giờ Rainsford mới thấu hiểu được cảm giác của một con thú cùng đường.

Anh phải dừng lại để thở. Tiếng sủa của bầy chó đột ngột ngừng lại và tim Rainsford dường như cũng ngừng đập theo. Chắc chúng đã đến chỗ con dao.

Anh hồi hộp leo lên một thân cây và nhìn lui. Những kẻ săn đuổi anh đã dừng lại. Nhưng niềm hy vọng lóe lên khi Rainsford trèo lên cây đã tắt ngấm vì anh nhìn thấy trong lòng thung lũng cạn  Zaroff vẫn đứng yên. Nhưng Ivan thì không. Con dao, nhờ cành cây bật lại như chiếc lò xo đã không hoàn toàn mất tác dụng.

Rainsford suýt ngã nhào xuống đất khi bầy chó lại sủa vang.

“Bình tĩnh, bình tĩnh, bình tĩnh”. Anh thở hổn hển khi lao về

phía trước. Một khoảng trống màu xanh lộ ra giữa những thân cây khô. Bầy chó săn đã đuổi đến quá gần. Rainsford ráng sức chạy thục mạng về phía khoảng trống đó. Anh đã đến nơi. Đó là bờ biển. Ngang qua một cái vịnh nhỏ, anh trông thấy màu đá xám xịt buồn tẻ của tòa lâu đài. Cách sáu mét dưới chân anh, biển đang ầm ào rít lên. Rainsford do dự. Anh lại nghe tiếng bầy chó. Thế rồi anh nhào xuống biển.

Khi cùng bầy chó đến gần biển, người đàn ông Cô dắc dừng lại. Trong vài phút y nhìn biển nước xanh mênh mông. Y nhún vai rồi ngồi xuống, nốc một ngụm rượu Brandy trong cái bình cổ cong bằng bạc, đốt một điếu thuốc và thì thầm vài câu trong bài hát Madame Butterfly.

Tối hôm đó, Zaroff đã thưởng thức bữa ăn thịnh soạn trong cái phòng ăn lớn. Y đã uống cạn một chai Pol Roger và lai rai nửa chai Chambertin. Nhưng có hai điều khiến y không hoàn toàn hài lòng. Một là khó kiếm được người thay thế Ivan, hai là con mồi đã thoát khỏi tay y, chuyện chưa từng xảy ra, dĩ nhiên tay người Mỹ ấy đã không chút hưng phấn khi chấp nhận cuộc chơi – Zaroff nghĩ thế khi nhâm nhi chút rượu mùi sau bữa ăn tối.

Trong phòng đọc sách, Zaroff tự an ủi mình bằng các kiệt tác của Marcus Aurelius. Đến mười giờ, y lên phòng ngủ. Khá uể oải,  y vào phòng và khóa cửa lại. Thấy có chút ánh trăng, nên trước khi bật đèn, y đến bên cửa sổ nhìn xuống khoảng sân của tòa lâu đài. Trông thấy bầy chó săn, y kêu lớn: “Lần sau sẽ may mắn hơn nhé!” rồi y bật công tắc.

Một người đàn ông, nãy giờ núp sau bức màn giường ngủ, vẫn còn đứng đó.

“Rainsford”, tay Cô dắc thảng thốt, “Làm thế nào ngài đến được đây?”.

“Bơi, thưa ngài Zaroff”, Rainsford mỉa mai, “Tôi nhận thấy bơi nhanh hơn là đi bộ trong rừng”.

Hít một hơi thật sâu, Zaroff mỉm cười: “Chúc mừng ngài Rainsford. Ngài đã thắng”.

Rainsford không cười: “Tôi vẫn đang là một con thú cùng đường”. Anh chợt đanh giọng: “Hãy chuẩn bị đi, ngài Zaroff”.

“Tôi hiểu”, y gập đầu thật thấp, “Tuyệt lắm. Một trong hai chúng ta sẽ là bữa ăn của bầy chó dưới kia. Người còn lại sẽ ngủ trên chiếc giường tuyệt vời này. Hãy coi chừng, Rainsford”.

Chưa bao giờ Rainsford được nằm trên một chiếc giường êm ái đến thế./.

————————-

(1) Fillet mignon: miếng bít tết làm bằng thịt thăn có hình tròn

(2) Cách mạng Nga năm 1917 lật đổ Sa hoàng

Để lại lời nhắn

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.